Điều đó khiến tôi dịu đi một chút, dù tôi không muốn thừa nhận. Tôi quay vào trong, tiếp tục tháo dãy hộp thư bằng đồng. Đến ô số ba mươi mốt, con vít trên cùng quay trơn nhưng tấm kim loại không nhúc nhích. Tôi đổi tua vít, luồn lưỡi mỏng vào khe. Một lớp bụi đỏ rơi xuống. Phía sau hộp thư không phải tường gạch mà là một tấm gỗ mỏng đã cong. Tôi gọi ra sân. “Chu Hoài Xuyên.” Anh xuất hiện gần như ngay lập tức, nhưng dừng cách tôi hai bước. “Cần tôi chạm vào không?” Câu hỏi ấy làm tôi bất ngờ. Tôi chỉ vào tấm gỗ. “Có khoảng rỗng phía sau. Anh nghe tiếng cộc lúc nãy từ đây à?” Anh gõ rất nhẹ bằng khớp ngón tay, rồi soi đèn qua khe. “Có thể là hốc kỹ thuật cũ. Cô quyết định mở.” Tôi tháo nốt hai con vít. Chu Hoài Xuyên giữ tấm gỗ khi tôi kéo ra, tránh để nó gãy. Trong hốc tường là một hộp thiếc xanh, loại hộp bánh quy từng phổ biến cách đây hai mươi năm. Mép hộp quấn ba vòng dây gai. Trên nắp có một mảnh giấy dán bằng hồ bột, nét chữ của dì Tú Hà đã nhòe ở chữ cuối. Thư chưa tìm được người nhận. Tôi đặt hộp lên bàn phân loại. Dây gai giòn, chỉ cần kéo mạnh sẽ đứt, nên tôi dùng nhíp nâng từng vòng. Chu Hoài Xuyên đứng đối diện, hai tay chống lên thành ghế chứ không chạm vào bất cứ thứ gì. “Anh có thể đi tiếp tục đo,” tôi nói. “Có thể. Nhưng nếu trong đó có giấy bị ẩm, cô cần người mở cửa sổ phía bắc và mang quạt xuống.” “Anh biết bảo quản giấy?” “Biết nghe người có chuyên môn.” Tôi ngước nhìn anh. “Đó là một kỹ năng hiếm.” “Cô cũng chưa bảo tôi đi hẳn.” Tôi suýt bật cười, nhưng chỉ cúi xuống tháo nút dây cuối cùng. Bên trong có bảy phong bì, một cuốn sổ giao nhận bìa vải và một túi hạt chống ẩm đã đổi màu. Sáu phong bì mang tên người nhận. Phần địa chỉ đều bị gạch đỏ, kèm con dấu “không tồn tại” hoặc “đã chuyển đi”.