“Hạn bàn giao khi nào?” “Mười hai ngày nữa.” Anh nhìn mái trạm, rồi nhìn hộp thư trên bàn. “Tôi có bản đồ địa chỉ cũ của Cẩm Đường.” “Tôi chưa nhờ anh.” “Cô cũng chưa từ chối.” Lần này tôi đã cười. Rất khẽ, nhưng đủ để căn phòng lâu ngày không có người bỗng nghe giống một nơi vẫn còn chờ được mở cửa. Bản đồ địa chỉ cũ của Chu Hoài Xuyên không giống bất kỳ tấm bản đồ nào tôi từng thấy. Anh trải nó trên quầy phân loại thư vào sáng hôm sau. Những con đường hiện tại được vẽ bằng mực đen. Phía dưới là tên phố cũ bằng chì xanh, mép giấy chi chít mũi tên, năm tháo dỡ và ký hiệu những căn nhà đã đổi số. Anh còn phủ lên trên một tờ giấy can, đánh dấu các tuyến xe buýt, cửa hàng lâu năm và nơi cư dân cũ chuyển tới. “Tôi tưởng kiến trúc sư chỉ quan tâm đến nhà,” tôi nói. “Nhà không tự nhớ được ai đã sống trong đó.” “Vậy anh điều tra cả người?” “Tôi hỏi. Họ có quyền không trả lời.” Anh chỉ vào tên Phó Minh Triết trong cuốn sổ của dì. Hiệu đồng hồ Minh Nhật từng ở cuối phố Bạch Lộ, nhưng khu ấy đã đổi thành bãi đỗ xe. Trên bản đồ của anh, cạnh địa chỉ cũ có một dấu chấm màu nâu và ghi chú: quầy sửa nhỏ trong chợ sớm Đông Kiều, chỉ mở đến mười giờ. Tôi nhìn đồng hồ. Chín giờ mười lăm. Chu Hoài Xuyên cuộn bản đồ lại. “Nếu đi bộ sẽ mất hai mươi phút.” “Xe của anh đâu?” “Tôi đi xe đạp.” Mười phút sau, tôi ngồi sau chiếc xe đạp cũ của anh, một tay giữ ống bản đồ, tay kia nắm thanh sắt dưới yên chứ nhất quyết không vịn áo người lái. Đường lát đá khiến tôi phải trả giá cho lòng tự trọng ấy ở mỗi ổ gà. “Cô có thể bám vào giá sau,” anh nói mà không quay đầu. “Tôi đang bám.” “Đó là thanh chắn bùn.” “Anh tập trung nhìn đường đi.” “Cô đang làm xe nghiêng sang trái.” Tôi miễn cưỡng nắm lấy vạt áo sơ mi của anh.