Chỉ sau ba ngày, nó tự chia thành những nơi khác: bàn tìm địa chỉ, bàn sửa giấy, góc uống trà, ô cửa trẻ con đóng dấu lên bưu thiếp. Những món đồ tôi dán nhãn thanh lý lần lượt quay về vị trí cũ. Tôi không tháo nhãn. Chúng lủng lẳng dưới những con dấu và cân đồng như bằng chứng về một kế hoạch đang mất dần hiệu lực. Đêm thứ ba, mưa đến bất ngờ. Một luồng nước rơi thẳng từ trần xuống bàn bản đồ. Chu Hoài Xuyên lao tới kéo tấm giấy can. Tôi ôm hộp thư, trượt chân trên nền gạch ướt. Anh chặn trước mép bàn, một tay giữ vai tôi, tay kia đỡ đáy hộp. “Có đau không?” “Không.” “Cô đang nhăn mặt.” “Vì anh đè vào khuỷu tay tôi.” Anh lập tức buông ra. “Xin lỗi.” Nước tiếp tục nhỏ. Chúng tôi không có thời gian ngượng ngùng. Tôi chuyển thư vào tủ kín, anh trèo lên gác mái phủ bạt. Gió giật bung một góc mái ngói. Mưa tạt qua cửa sổ. Tần Nhược Lan từ đối diện chạy sang với chậu nhựa; Hạ Tử Kỳ mang khăn; Phó Minh Triết xuất hiện cùng hộp dụng cụ dù chợ sớm đã đóng từ lâu. Trong nửa giờ, căn phòng đầy người chuyền nhau xô nước, lau quầy và di chuyển hồ sơ. Khi chỗ dột cuối cùng được hứng, Chu Hoài Xuyên từ gác mái bước xuống, tóc và vai ướt sũng. Một đường máu nhỏ chạy trên cổ tay anh. “Anh bị cứa.” Tôi kéo ghế. “Ngồi xuống.” “Chỉ xước thôi.” “Tôi có quyền không chữa, anh có quyền chảy máu. Nhưng nếu máu dính lên giấy, tôi sẽ tính phí phục hồi.” Anh ngồi xuống. Tôi rửa vết cắt bằng nước sạch, lau khô rồi dán băng. Cổ tay anh có nhiều vết sẹo mảnh, loại sẹo của người thường xuyên chạm vào gạch, kính và kim loại cũ. “Anh làm miễn phí tất cả việc này thật sao?” tôi hỏi. “Khảo sát thôi.” “Bản vẽ gia cố, bản đồ địa chỉ, tối nay trèo lên mái. Cũng là khảo sát?” “Phần trèo mái là phản xạ thiếu suy nghĩ.” “Tại sao anh quan tâm đến trạm?” Chu Hoài Xuyên nhìn về ô cửa phía tây.