Mưa chảy thành vệt trên kính. “Ngày nhỏ, tôi từng ngồi ở ghế kia mỗi chiều thứ sáu.” “Đợi thư?” “Đợi cha.” Anh nói cha mình là kỹ sư công trình, thường đi xa, hứa mỗi tháng sẽ về một lần nhưng hiếm khi đúng hẹn. Mẹ anh làm ca tối ở bệnh viện. Những hôm không ai đón, Chu Hoài Xuyên đến trạm Hạnh Vũ làm bài tập. Dì Tú Hà cho anh ngồi cạnh lò sưởi, đổi việc xếp phong bì lấy một cốc sữa đậu nành. “Cha anh có viết thư không?” “Một lần.” “Anh còn giữ chứ?” “Không. Ông gửi bưu thiếp, chỉ ghi ba chữ: Đừng chờ cha.” Tôi dừng tay trên miếng băng. “Dì tôi đã làm gì?” “Bà không bảo ông ấy là người xấu. Không bảo tôi phải tha thứ. Bà đưa tôi một xấp bưu thiếp trắng và nói, người khác không viết thì mình vẫn có thể viết cho chính mình.” Anh kéo tay áo xuống. “Vì vậy tôi biết căn phòng này không chỉ là nơi chuyển thư.” Tôi nghĩ đến lá thứ bảy. Một câu ghi địa chỉ cho chính mình. Nét chữ quen thuộc vẫn lẩn khỏi ký ức như con cá dưới mặt nước. “Anh muốn giữ trạm vì dì tôi từng cho anh ngồi nhờ?” “Ban đầu.” Chu Hoài Xuyên nhìn quanh những chiếc xô hứng nước và người trong phố đang tranh nhau lau sàn. “Bây giờ tôi muốn giữ vì nó vẫn đang làm công việc của một nơi công cộng.” Tôi tháo găng, đặt lên bàn. “Nhưng anh chưa trả lời ai thuê anh.” “Không ai.” “Chi phí khảo sát?” “Tôi tự trả.” “Vì một món nợ?” “Vì một lựa chọn.” Câu trả lời của anh làm tôi khó chịu theo cách khác. Tôi sợ những người biến sự hy sinh thành thói quen rồi một ngày âm thầm yêu cầu người khác sống theo cái giá họ đã trả. “Đừng tính phần của tôi vào lựa chọn ấy,” tôi nói. Chu Hoài Xuyên nhìn thẳng vào tôi. “Tôi chưa từng làm vậy.” Ngoài mái hiên, mưa đập đều xuống tấm bạt mới phủ. Trong trạm, Hạ Tử Kỳ chuyền bánh nóng, Phó Minh Triết chỉnh lại chiếc đồng hồ tường, Tần Nhược Lan đo rèm dưới ánh đèn khẩn cấp.