“Ông có nhớ người chạy tới không?” Chu Hoài Xuyên hỏi. “Không. Đêm nào cũng có người chạy.” Ông gấp thư thật chậm. “Tôi cứ nghĩ thói quen chờ thêm làm phiền mọi người.” “Có lẽ đôi khi có,” tôi nói. “Nhưng với một người, nó đã thay đổi cả đêm ấy.” La Duy Thành cười. “Cô nói giống dì cô. Bà ấy không bao giờ biến một việc tốt thành huy chương. Bà chỉ bảo ghi lại để lần sau biết nó có giá.” Ông xin một tờ giấy trắng, viết vài dòng gửi Trình Hạo Dương. Không phải lời cảm ơn dài. Chỉ là: Tôi vẫn lái tuyến mười một. Nếu có dịp về Hải Ninh, đừng chạy. Tôi sẽ chờ. Khi chúng tôi xuống xe, ông bấm còi hai tiếng ngắn trước lúc rời bến. Trên đường về, Chu Hoài Xuyên đi bộ bên cạnh xe đạp. Tôi hỏi sao không đạp. “Cô mang giày không hợp ngồi xe.” Tôi nhìn đôi giày da đã cọ đỏ gót. “Anh quan sát từ lúc nào?” “Từ khi cô xuống xe buýt mà bước hụt.” “Anh có thể nói sớm.” “Cô có thể cho là tôi xen vào.” Tôi không phản bác được. Anh dắt xe sát phía lòng đường, để tôi đi phía trong. Giữa chúng tôi không có lời nào quan trọng, nhưng sự im lặng không còn giống một bức tường. Ngày hôm sau, bốn thẻ trên bản đồ đã chuyển cột. Tin về những lá thư lan ra khỏi khu phố. Người ta mang tới trạm các phong bì cũ, không phải để nhờ tìm người nhận, mà để ngồi viết một lá mới. Trẻ con xin con dấu ngày. Người già hỏi liệu trạm có thể giữ thư hẹn mở sau một năm. Chu Hoài Xuyên kê thêm một chiếc bàn dài từ kho phụ. Tôi lau sạch những ngăn kéo. Tần Nhược Lan treo rèm. Hạ Tử Kỳ đặt một lọ bánh bên quầy. Phó Minh Triết sửa chuông cửa rồi cằn nhằn rằng nó reo quá vui đối với một căn nhà sắp bán. Tôi vẫn chưa nói với ai rằng đơn vị quản lý đã gửi lịch ký bàn giao vào sáng ngày thứ mười hai. Lá thư thứ năm dẫn chúng tôi đến trường nghệ thuật Hải Ninh.