Anh trả lại tôi chính câu đã nói ngày đầu. Tôi bật cười giữa hành lang, khiến hai học sinh quay lại nhìn. Buổi tối, chúng tôi ngồi trên sàn trạm, vây quanh bản vẽ phương án bảo tồn. Chu Hoài Xuyên đã tính lại toàn bộ kết cấu. Mái chính cần thay hai xà, tường phía tây phải gia cố bằng khung thép mảnh, hệ điện cần đi lại. Chi phí thấp hơn báo giá tháo dỡ rất nhiều, nhưng vẫn vượt khả năng của vài cuộc quyên góp nhỏ. “Nếu chuyển thành không gian cộng đồng,” anh nói, “cần một tổ chức đứng tên sử dụng, ít nhất ba năm. Phải có kế hoạch hoạt động, cam kết an toàn và chữ ký của cư dân.” “Bao nhiêu chữ ký?” “Không có con số bắt buộc. Nhưng năm người vừa nhận thư có thể chứng minh nhu cầu thật hơn năm trăm chữ ký trên mạng.” “Anh chuẩn bị phương án này từ trước khi tôi về.” “Chỉ là khung.” “Vì sao không gửi cho đơn vị quản lý?” “Vì tôi không có quyền đại diện chủ sở hữu.” “Anh chờ tôi đồng ý?” “Không.” Anh dùng bút chì gõ nhẹ lên bản vẽ. “Tôi chờ cô có đủ thông tin để tự chọn.” Tôi nhìn những đường thẳng anh vẽ. Mỗi phần cũ được giữ lại đều có lý do kỹ thuật, không phải vì hoài niệm. Những viên gạch hỏng được thay. Vết nứt ổn định được giữ. Quầy phân loại biến thành bàn viết thư. Kho phụ thành phòng nhạc nhỏ. Không có chỗ nào bị đóng băng thành bảo tàng. “Anh sẽ nhận phí thiết kế nếu dự án tiếp tục,” tôi nói. “Có.” “Cuối cùng cũng có một câu trả lời bình thường.” “Nhưng khảo sát ban đầu vẫn là tôi tự trả.” “Tại sao?” Chu Hoài Xuyên tháo kính, lau một vệt bụi trên tròng. “Vì nếu không có số liệu, căn nhà sẽ bị kết luận là quá đắt để sống tiếp. Tôi chỉ muốn nó có cơ hội được đánh giá đúng.” Tôi nhớ những tài liệu mang đến xưởng của mình. Có cuốn sách người ta muốn cứu bằng mọi giá. Có tờ giấy người ta sẵn sàng bỏ đi vì không biết một nét mực mờ có ý nghĩa gì.