Công việc của tôi chưa bao giờ là quyết định thay chủ sở hữu. Tôi chỉ làm cho giá trị thật hiện ra đủ rõ để họ chọn. Chu Hoài Xuyên đang làm điều tương tự với một căn nhà. “Cho tôi xem dự toán đầy đủ,” tôi nói. Anh đeo kính lại. “Ngày mai.” “Anh đã có sẵn rồi đúng không?” “Trong máy tính.” “Vậy sao phải ngày mai?” “Vì bây giờ đã gần nửa đêm, và cô chưa ăn tối.” Tôi định phản đối thì bụng kêu một tiếng rất không đúng lúc. Anh không cười. Điều đó còn đáng xấu hổ hơn. Chúng tôi ăn bánh lê gừng còn lại trên bậc cửa. Phố Cẩm Đường đã tắt gần hết đèn. Chiếc đồng hồ Phó Minh Triết sửa chạy chậm đâu đó sau lưng. Chu Hoài Xuyên bẻ đôi chiếc bánh cuối cùng, đưa tôi phần lớn hơn. “Anh có nhớ tấm bưu thiếp cha gửi không?” tôi hỏi. “Nhớ.” “Dì tôi đưa anh giấy trắng. Anh đã viết gì?” “Rất nhiều thứ trẻ con thường viết khi giận.” “Ví dụ?” “Sau này tôi sẽ xây một căn nhà không ai phải chờ.” “Tại sao lại thành kiến trúc sư bảo tồn? Xây mới dễ hơn.” “Vì lớn lên tôi hiểu không có căn nhà nào bảo đảm người ta không bỏ đi.” Anh nhìn mái hiên. “Chỉ có những nơi khiến người ta biết mình vẫn được chào đón nếu quay về.” Gió đưa mùi đất ẩm qua sân. Tôi nghĩ đến căn hộ ở Lâm Châu, nơi mọi thứ đều gọn, sạch và không có món đồ nào cần tôi ở lại. Tôi từng xem sự nhẹ nhõm ấy là tự do. Chu Hoài Xuyên đứng lên phủi vụn bánh. Một tấm bưu thiếp rơi khỏi cuốn sổ của anh. Tôi cúi nhặt trước. Mặt trước là hình trạm Hạnh Vũ dưới tuyết, được in cách đây hơn mười năm. Mặt sau chỉ có bốn dòng mực tím. Nếu một ngày anh xây được nơi không ai phải chờ, nhớ chừa một cửa sổ cho người đến muộn. Có khi họ không bỏ đi. Có khi họ chỉ chưa biết đường về. Không có chữ ký. Nhưng tôi nhận ra nét móc ở chữ “người”, dấu chấm tròn sau chữ “về”, và kiểu nghiêng sang phải giống hệt phong bì thứ bảy.