Bến phía nam không còn mái che cũ, chỉ có một tấm bảng điện tử và hai hàng ghế kim loại lạnh ngắt. Tôi cùng Chu Hoài Xuyên đến sớm mười lăm phút. Anh mang theo bản đồ tuyến xe, tôi giữ lá thư trong túi chống ẩm. Mưa đã ngừng nhưng mặt đường còn loang nước, phản chiếu đèn cửa hàng thành những vệt vàng dài. “Tuyến mười một đổi tài xế nhiều lần,” tôi nói. “Chúng ta chỉ có một câu ghi chú.” “Và một cái tên.” “Nếu gặp sai người?” “Xin lỗi rồi về.” “Nếu không gặp?” “Ngày mai thử lại.” Cách anh chia thất bại thành những việc nhỏ luôn làm tôi bớt sợ nó hơn. Mười chín giờ bốn mươi hai, chiếc xe số mười một rẽ vào bến. Người lái là một người đàn ông ngoài bốn mươi, vai rộng, tóc cắt ngắn. Khi hành khách cuối cùng xuống xe, ông vẫn ngồi sau vô-lăng, nhìn một phụ nữ lớn tuổi chạy từ đầu phố tới. Ông giữ cửa mở thêm gần một phút. Tôi và Chu Hoài Xuyên nhìn nhau. La Duy Thành nhận lá thư nhưng không mở ngay. Ông đặt nó trên bảng điều khiển, hoàn tất sổ chuyến rồi mới mời chúng tôi ngồi hàng ghế đầu. “Người gửi là Trình Hạo Dương,” tôi nói. Ông cau mày. “Tôi không nhớ.” Lá thư kể về một đêm mùa đông mười một năm trước. Trình Hạo Dương khi ấy là sinh viên năm cuối, vừa biết mẹ mình phải phẫu thuật gấp. Anh chạy tới bến trong lúc chiếc xe cuối đã đóng cửa. La Duy Thành nhìn thấy qua gương, chờ thêm một phút và cho anh lên dù lịch trình đã muộn. Chỉ một phút ấy giúp anh kịp chuyến tàu đêm về nhà. Mẹ anh qua khỏi ca mổ. Sau này, anh trở thành điều dưỡng cấp cứu và đặt đồng hồ ở quầy trực chậm hơn một phút để nhắc mình đừng đóng cửa quá sớm trước bất kỳ ai. La Duy Thành đọc xong, đưa mắt nhìn đồng hồ điện tử trên xe. “Tôi bị khiển trách vì chuyến đó về bến trễ,” ông nói. “Vợ tôi còn mắng tôi suốt một tuần.” “Ông có nhớ người chạy tới không?” Chu Hoài Xuyên hỏi. “Không. Đêm nào cũng có người chạy.” Ông gấp thư thật chậm. “Tôi cứ nghĩ thói quen chờ thêm làm phiền mọi người.” “Có lẽ đôi khi có,” tôi nói. “Nhưng với một người, nó đã thay đổi cả đêm ấy.” La Duy Thành cười. “Cô nói giống dì cô. Bà ấy không bao giờ biến một việc tốt thành huy chương. Bà chỉ bảo ghi lại để lần sau biết nó có giá.” Ông xin một tờ giấy trắng, viết vài dòng gửi Trình Hạo Dương. Không phải lời cảm ơn dài. Chỉ là: Tôi vẫn lái tuyến mười một. Nếu có dịp về Hải Ninh, đừng chạy. Tôi sẽ chờ. Khi chúng tôi xuống xe, ông bấm còi hai tiếng ngắn trước lúc rời bến. Trên đường về, Chu Hoài Xuyên đi bộ bên cạnh xe đạp. Tôi hỏi sao không đạp. “Cô mang giày không hợp ngồi xe.” Tôi nhìn đôi giày da đã cọ đỏ gót. “Anh quan sát từ lúc nào?” “Từ khi cô xuống xe buýt mà bước hụt.” “Anh có thể nói sớm.” “Cô có thể cho là tôi xen vào.” Tôi không phản bác được. Anh dắt xe sát phía lòng đường, để tôi đi phía trong. Giữa chúng tôi không có lời nào quan trọng, nhưng sự im lặng không còn giống một bức tường. Ngày hôm sau, bốn thẻ trên bản đồ đã chuyển cột. Tin về những lá thư lan ra khỏi khu phố. Người ta mang tới trạm các phong bì cũ, không phải để nhờ tìm người nhận, mà để ngồi viết một lá mới. Trẻ con xin con dấu ngày. Người già hỏi liệu trạm có thể giữ thư hẹn mở sau một năm. Chu Hoài Xuyên kê thêm một chiếc bàn dài từ kho phụ. Tôi lau sạch những ngăn kéo. Tần Nhược Lan treo rèm. Hạ Tử Kỳ đặt một lọ bánh bên quầy. Phó Minh Triết sửa chuông cửa rồi cằn nhằn rằng nó reo quá vui đối với một căn nhà sắp bán. Tôi vẫn chưa nói với ai rằng đơn vị quản lý đã gửi lịch ký bàn giao vào sáng ngày thứ mười hai. Lá thư thứ năm dẫn chúng tôi đến trường nghệ thuật Hải Ninh. Kỷ Thanh Du đang dạy một nhóm trẻ kéo những nốt đầu tiên trên đàn cello. Âm thanh không đẹp, nhưng đầy cố gắng. Chúng tôi đứng ngoài cửa đến hết tiết. Khi thấy tên người gửi, cô siết chặt hộp đàn. “Cha tôi mất mười năm rồi.” “Tôi rất tiếc,” tôi nói. “Cô có muốn nhận thư không?” Cô nhìn con dấu cũ của trạm Hạnh Vũ. “Tôi đã chờ một lời giải thích quá lâu. Bây giờ tôi không biết còn cần không.” “Không mở cũng là quyền của cô.” Kỷ Thanh Du đưa chúng tôi vào phòng nhạc trống. Cô đặt phong bì lên giá bản nhạc, đi một vòng quanh chiếc ghế rồi mới rạch mép giấy. Bên trong không chỉ có thư. Có bốn trang nhạc chép tay, tiêu đề là Khúc Đường Về. Cha cô viết rằng ông đã bán cây đàn tốt nhất để trả nợ cho gia đình, khiến con gái tin ông coi giấc mơ của cô là xa xỉ. Thật ra ông giữ lại bản nhạc hai người từng viết cùng nhau, định gửi sau khi kiếm đủ tiền mua một cây đàn khác. Ông không kịp làm điều đó. Kỷ Thanh Du không khóc. Cô ngồi xuống, dựng cello và chơi những ô nhịp đầu. Giai điệu vụng ở chỗ chuyển cung, có đoạn dừng như người viết chưa quyết định đường đi. Đến trang cuối, phần bè dưới bỏ trống. “Ông ấy chừa cho tôi,” cô nói. Chu Hoài Xuyên đứng bên cửa, mắt nhìn ra hành lang. Tôi hiểu anh đang cho cô một khoảng riêng tư. Kỷ Thanh Du chơi lại từ đầu. Lần này, ở đoạn trống, cô tự thêm một câu nhạc thấp và ấm. Những nốt ấy không sửa phần của cha cô; chúng nâng nó lên rồi đưa về đúng chủ âm. “Cuối tuần trạm có mở cửa không?” cô hỏi. “Có thể là ngày cuối.” “Tôi muốn chơi bản này ở đó.” “Cô không cần—” Tôi dừng lại trước khi nói hết câu quen thuộc. Kỷ Thanh Du mỉm cười. “Tôi muốn làm.” Trên đường ra, Chu Hoài Xuyên nói: “Cô tiến bộ.” “Ở điểm nào?” “Không biến lòng tốt thành hóa đơn.” “Tôi chỉ học cách im lặng đúng lúc.” “Đó là một kỹ năng hiếm.” Anh trả lại tôi chính câu đã nói ngày đầu. Tôi bật cười giữa hành lang, khiến hai học sinh quay lại nhìn. Buổi tối, chúng tôi ngồi trên sàn trạm, vây quanh bản vẽ phương án bảo tồn. Chu Hoài Xuyên đã tính lại toàn bộ kết cấu. Mái chính cần thay hai xà, tường phía tây phải gia cố bằng khung thép mảnh, hệ điện cần đi lại. Chi phí thấp hơn báo giá tháo dỡ rất nhiều, nhưng vẫn vượt khả năng của vài cuộc quyên góp nhỏ. “Nếu chuyển thành không gian cộng đồng,” anh nói, “cần một tổ chức đứng tên sử dụng, ít nhất ba năm. Phải có kế hoạch hoạt động, cam kết an toàn và chữ ký của cư dân.” “Bao nhiêu chữ ký?” “Không có con số bắt buộc. Nhưng năm người vừa nhận thư có thể chứng minh nhu cầu thật hơn năm trăm chữ ký trên mạng.” “Anh chuẩn bị phương án này từ trước khi tôi về.” “Chỉ là khung.” “Vì sao không gửi cho đơn vị quản lý?” “Vì tôi không có quyền đại diện chủ sở hữu.” “Anh chờ tôi đồng ý?” “Không.” Anh dùng bút chì gõ nhẹ lên bản vẽ. “Tôi chờ cô có đủ thông tin để tự chọn.” Tôi nhìn những đường thẳng anh vẽ. Mỗi phần cũ được giữ lại đều có lý do kỹ thuật, không phải vì hoài niệm. Những viên gạch hỏng được thay. Vết nứt ổn định được giữ. Quầy phân loại biến thành bàn viết thư. Kho phụ thành phòng nhạc nhỏ. Không có chỗ nào bị đóng băng thành bảo tàng. “Anh sẽ nhận phí thiết kế nếu dự án tiếp tục,” tôi nói. “Có.” “Cuối cùng cũng có một câu trả lời bình thường.” “Nhưng khảo sát ban đầu vẫn là tôi tự trả.” “Tại sao?” Chu Hoài Xuyên tháo kính, lau một vệt bụi trên tròng. “Vì nếu không có số liệu, căn nhà sẽ bị kết luận là quá đắt để sống tiếp. Tôi chỉ muốn nó có cơ hội được đánh giá đúng.” Tôi nhớ những tài liệu mang đến xưởng của mình. Có cuốn sách người ta muốn cứu bằng mọi giá. Có tờ giấy người ta sẵn sàng bỏ đi vì không biết một nét mực mờ có ý nghĩa gì. Công việc của tôi chưa bao giờ là quyết định thay chủ sở hữu. Tôi chỉ làm cho giá trị thật hiện ra đủ rõ để họ chọn. Chu Hoài Xuyên đang làm điều tương tự với một căn nhà. “Cho tôi xem dự toán đầy đủ,” tôi nói. Anh đeo kính lại. “Ngày mai.” “Anh đã có sẵn rồi đúng không?” “Trong máy tính.” “Vậy sao phải ngày mai?” “Vì bây giờ đã gần nửa đêm, và cô chưa ăn tối.” Tôi định phản đối thì bụng kêu một tiếng rất không đúng lúc. Anh không cười. Điều đó còn đáng xấu hổ hơn. Chúng tôi ăn bánh lê gừng còn lại trên bậc cửa. Phố Cẩm Đường đã tắt gần hết đèn. Chiếc đồng hồ Phó Minh Triết sửa chạy chậm đâu đó sau lưng. Chu Hoài Xuyên bẻ đôi chiếc bánh cuối cùng, đưa tôi phần lớn hơn. “Anh có nhớ tấm bưu thiếp cha gửi không?” tôi hỏi. “Nhớ.” “Dì tôi đưa anh giấy trắng. Anh đã viết gì?” “Rất nhiều thứ trẻ con thường viết khi giận.” “Ví dụ?” “Sau này tôi sẽ xây một căn nhà không ai phải chờ.” “Tại sao lại thành kiến trúc sư bảo tồn? Xây mới dễ hơn.” “Vì lớn lên tôi hiểu không có căn nhà nào bảo đảm người ta không bỏ đi.” Anh nhìn mái hiên. “Chỉ có những nơi khiến người ta biết mình vẫn được chào đón nếu quay về.” Gió đưa mùi đất ẩm qua sân. Tôi nghĩ đến căn hộ ở Lâm Châu, nơi mọi thứ đều gọn, sạch và không có món đồ nào cần tôi ở lại. Tôi từng xem sự nhẹ nhõm ấy là tự do. Chu Hoài Xuyên đứng lên phủi vụn bánh. Một tấm bưu thiếp rơi khỏi cuốn sổ của anh. Tôi cúi nhặt trước. Mặt trước là hình trạm Hạnh Vũ dưới tuyết, được in cách đây hơn mười năm. Mặt sau chỉ có bốn dòng mực tím. Nếu một ngày anh xây được nơi không ai phải chờ, nhớ chừa một cửa sổ cho người đến muộn. Có khi họ không bỏ đi. Có khi họ chỉ chưa biết đường về. Không có chữ ký. Nhưng tôi nhận ra nét móc ở chữ “người”, dấu chấm tròn sau chữ “về”, và kiểu nghiêng sang phải giống hệt phong bì thứ bảy. Tôi nghe giọng mình khô đi. “Anh lấy tấm này ở đâu?” Chu Hoài Xuyên nhìn bưu thiếp trong tay tôi. “Trong hộp thư của trạm, năm tôi hai mươi tuổi. Tôi vừa trượt học bổng, định bỏ ngành.” “Dì tôi viết?” “Bà nói không phải.” “Anh chưa từng tìm người gửi?” “Từng hỏi vài lần. Sau đó tôi nghĩ người ấy không muốn được tìm.” Tôi đọc lại bốn dòng. Một mảnh ký ức bật sáng: căn phòng chia thư mùa đông, tôi mười bảy tuổi ngồi sau quầy trong lúc dì kiểm kê; một cậu sinh viên thường cúi trên bản vẽ ở ghế cạnh lò sưởi; tôi đã nghe cậu nói với dì rằng một căn nhà không giữ được ai. Tối đó, tôi lấy một tấm bưu thiếp, viết nhanh rồi thả vào hộp mà không ghi tên. “Tôi viết,” tôi nói. Chu Hoài Xuyên bất động. “Tấm bưu thiếp này là tôi viết.” Anh ngồi xuống bậc cửa lần nữa, như thể cần một mặt phẳng chắc chắn. “Tại sao cô không ký?” “Tôi không biết tên anh. Tôi chỉ nghe dì gọi anh là cậu Chu.” “Cô có thể hỏi.” “Tôi mười bảy tuổi và cho rằng hỏi tên một người là việc quá rõ ràng.” Anh cười, rất chậm. “Tôi đã giữ một lời nhắn của cô mười hai năm.” “Anh có thể trả lại.” “Không.” Câu trả lời đến nhanh đến mức cả hai cùng im lặng. Chu Hoài Xuyên đặt tấm bưu thiếp giữa chúng tôi. “Tôi không giữ vì muốn cô mắc nợ. Tôi giữ vì nó giúp tôi ở lại với lựa chọn của mình.” “Tôi không nghĩ vài dòng ấy quan trọng.” “Người viết thường không biết thư nặng bao nhiêu ở đầu bên kia.” Khoảng cách giữa chúng tôi chỉ còn độ rộng của tấm bưu thiếp. Anh đưa tay, nhưng dừng lại trước khi chạm vào tôi. “Tôi có thể không?” anh hỏi. Tôi biết anh không hỏi về tấm giấy. Tôi gật đầu. Chu Hoài Xuyên nắm lấy tay tôi. Không kéo lại gần, không hứa điều gì. Chỉ là lòng bàn tay ấm, những vết chai nhỏ và một khoảng bình yên tôi không biết mình đã nhớ từ khi nào. Chúng tôi ngồi như thế cho đến khi đồng hồ trong trạm điểm mười hai tiếng, dù theo giờ thật mới chỉ mười một giờ năm mươi tám. Sáng hôm sau, điện thoại từ Lâm Châu gọi đến. Xưởng phục hồi đề nghị tôi vị trí trưởng bộ phận, điều tôi đã chờ suốt ba năm. Hợp đồng cần ký trong bốn ngày. Ngày bắt đầu công việc trùng đúng tuần đầu tiên nếu dự án bảo tồn trạm được thông qua. Tôi đứng sau rèm cửa, nhìn Chu Hoài Xuyên đang đo lại cột gạch ngoài sân. “Vâng,” tôi nói vào điện thoại. “Tôi nhận.” Khi cúp máy, tôi không kể cho anh. Trên tường, năm lá thư đã đến nơi. Còn lá thứ sáu mang tên tôi, lá thứ bảy không có địa chỉ, và bốn ngày trước buổi bàn giao mà tôi vừa tự biến thành hạn chót cho hai cuộc đời khác nhau.