Tôi giấu cuộc gọi từ Lâm Châu được đúng sáu giờ. Buổi chiều, Chu Hoài Xuyên đặt bản dự toán lên bàn. Bên dưới là mẫu đơn xin chuyển đổi công năng và danh sách những giấy tờ còn thiếu. Anh đã tô màu ba dòng quan trọng: cam kết sử dụng cộng đồng, phương án vận hành và chữ ký của chủ sở hữu. “Đơn vị quản lý sẽ đến ký bàn giao sáng thứ hai,” tôi nói. “Chúng ta còn ba ngày.” “Tôi cũng phải về Lâm Châu sáng thứ hai.” Anh ngẩng lên. Tôi ghét vẻ bình tĩnh trong mắt anh lúc ấy, bởi nó buộc tôi phải nói rõ thay vì trốn sau một lý do thuận tiện. “Xưởng đề nghị tôi làm trưởng bộ phận. Tôi đã nhận.” “Chúc mừng cô.” “Anh không cần nói như vậy.” “Đó là điều cô đã làm việc nhiều năm để đạt được.” “Nhưng nếu tôi ký dự án này, anh sẽ nghĩ tôi ở lại.” “Tôi sẽ nghĩ cô ký dự án này.” Anh khép tập hồ sơ. “Còn cô sống ở đâu, làm công việc gì, ở lại bao lâu là những quyết định khác.” “Tại sao anh không hỏi tôi định chọn gì?” “Vì cô vừa nói cô đã chọn công việc.” Tôi nghe trong câu trả lời không có trách móc, chỉ có một khoảng cách mới được đặt xuống rất ngay ngắn. “Anh không thất vọng sao?” “Có.” Sự thành thật ấy đau hơn nếu anh phủ nhận. Chu Hoài Xuyên nhìn tấm bản đồ với năm thẻ đã chuyển cột. “Nhưng thất vọng của tôi không phải nghĩa vụ của cô.” Tôi muốn anh giữ tôi lại, rồi lập tức tức giận với chính mình vì mong muốn ấy. Nếu anh bảo tôi bỏ công việc, tôi sẽ có lý do để xem anh như mọi sợi dây từng khiến tôi bỏ chạy. Nếu anh không bảo, tôi lại thấy mình không đủ quan trọng. “Anh lúc nào cũng đúng mực như vậy sao?” tôi hỏi. “Không. Tôi chỉ đang cố không nói điều khiến cô phải lựa chọn để làm tôi yên lòng.” Anh thu thước gấp, đi ra sân kiểm tra mái. Tôi đứng lại bên quầy, bàn tay đặt lên lá thư thứ sáu. Tên tôi viết bằng nét chữ dì Tú Hà. Phong bì nhẹ đến mức dường như bên trong chỉ có một câu. Tôi đã trì hoãn mở nó từ ngày đầu vì sợ câu ấy sẽ là lời trách: tại sao không về, tại sao để dì chờ, tại sao cuộc gọi mỗi tuần lại được dùng thay cho một chuyến tàu hai giờ. Tần Nhược Lan bước vào mang theo xấp vải. Bà nhìn phong bì rồi nhìn tôi. “Dì con không nhờ ta khuyên con mở.” “Bà ấy có nói gì không?” “Chỉ bảo khi con quay về, đừng để ai đọc thay.” Tôi ngồi xuống chiếc ghế của dì. Mép phong bì đã bong hồ, không cần dao. Bên trong là hai trang giấy và một chìa khóa nhỏ. Vãn Ý, Nếu con đang đọc, chắc dì đã không còn cơ hội nói vụng về trước mặt con nữa. Dì xin lỗi vì đã biến im lặng thành một thứ trông giống hy sinh. Năm con mười bảy tuổi, con đỗ học viện ở Lâm Châu nhưng định từ bỏ vì sợ để dì một mình. Dì đã nói: “Ở đây không có chỗ cho con.” Dì nghĩ một câu lạnh sẽ giúp con đi mà không áy náy. Dì không biết nó sẽ khiến con tin rằng quay về là thất bại. Dì không muốn con ở lại vì thương hại. Cũng không muốn con rời đi vì giận. Dì chỉ muốn lần tới con chọn, quyết định ấy thật sự là của con. Chìa khóa mở ngăn cuối trong bàn chia thư. Ở đó có sổ tiết kiệm nhỏ dành để sửa mái, nhưng đừng giữ trạm chỉ vì dì đã dành tiền. Nếu căn nhà hết việc để làm, hãy để nó nghỉ. Nếu nó còn có ích, đừng biến nó thành đền thờ của dì. Hãy cho người sống dùng nó. Dì đã cất lá thư mang địa chỉ kỳ lạ cùng sáu lá kia. Dì không biết người nhận ở đâu, nhưng nét chữ khiến dì nghĩ người viết sẽ tự tìm ra. Đừng chờ một người đã mất cho phép con sống. Dì Tú Hà. Tôi đọc đến cuối mà không nhận ra nước mắt rơi lúc nào. Trong nhiều năm, tôi đã giữ câu “ở đây không có chỗ cho con” như một mảnh kính trong lòng bàn tay. Mỗi lần nhớ dì, tôi lại siết nó chặt hơn để chứng minh mình đã có lý do ra đi. Tần Nhược Lan ngồi bên kia quầy, không ôm tôi, không nói dì thương tôi thế nào. Bà chỉ đặt một chiếc khăn tay sạch cạnh lá thư. “Tôi đã hiểu sai bà ấy,” tôi nói. “Bà ấy đã nói sai trước.” “Dì có thể gọi cho tôi.” “Có thể.” “Tôi cũng có thể về.” “Có thể.” Tần Nhược Lan xỏ chỉ qua kim. “Hai người thương nhau vẫn có thể làm nhau đau mà không ai là kẻ xấu. Điều đó khó chịu hơn nhiều, nhưng là thật.” Tôi lau mặt, lấy chìa khóa mở ngăn cuối. Bên trong có một cuốn sổ tiết kiệm, vài hóa đơn sửa chữa và một phong bì đựng giấy tờ quyền sở hữu. Số tiền không đủ làm toàn bộ dự án, nhưng đủ thay mái và gia cố bức tường phía tây. Dì không để lại một mệnh lệnh. Bà để lại cho tôi quyền chọn có kèm một nền móng. Tôi tìm Chu Hoài Xuyên trên gác mái. Anh đang quỳ cạnh thanh xà, đo độ ẩm bằng thiết bị cầm tay. Tôi đưa anh lá thư nhưng giữ phần chữ quay vào mình. “Dì để lại một khoản sửa mái.” Anh tắt máy đo. “Cô muốn dùng không?” “Tôi chưa biết. Nhưng tôi muốn hoàn thành hồ sơ trước hạn. Không phải để cam kết ở đây mãi. Để phương án sống tiếp có cơ hội được đặt cạnh phương án bán.” “Được.” “Tôi cần năm người nhận ký xác nhận nhu cầu cộng đồng.” “Chúng ta sẽ hỏi. Họ có quyền từ chối.” “Tôi biết.” Tôi ngồi xuống thanh sàn cách anh một khoảng. “Anh có muốn biết thư viết gì không?” “Chỉ khi cô muốn kể.” “Dì xin lỗi vì từng đẩy tôi đi.” Chu Hoài Xuyên chờ. “Và bảo tôi đừng ở lại vì người đã mất.” “Bà Lâm Tú Hà hiểu cô.” “Muộn quá.” “Có những lá thư đến muộn vẫn làm được việc của nó.” Tôi nhìn cổ tay anh, nơi miếng băng tôi dán đã hơi bong. “Còn anh? Anh muốn tôi ở lại vì điều gì?” Anh không né câu hỏi. “Vì tôi muốn sáng mở cửa thấy cô đang cãi với chiếc máy pha trà. Muốn nghe cô sửa cách tôi chạm vào giấy. Muốn cùng cô xem nơi này sẽ thành gì nếu không ai phải sở hữu ký ức một mình.” Anh ngừng một nhịp. “Nhưng tôi không muốn cô ở lại nếu mỗi ngày cô phải dùng tôi làm lý do cho phần đời mình đã bỏ.” Tôi cúi đầu. “Anh nói như thể lựa chọn nào cũng có thể tách riêng.” “Không thể. Chúng chỉ cần được gọi đúng tên.” Tôi đã định nắm tay anh. Điện thoại của anh rung trước. Dự báo mưa lớn được nâng lên cảnh báo đỏ. Chu Hoài Xuyên nhìn số đo trên máy rồi đứng dậy. “Mái kho phụ không chịu được thêm một trận như hôm trước.” Chúng tôi không còn thời gian cho phần còn lại của câu chuyện. Trong hai ngày kế tiếp, cả khu phố giúp hoàn tất hồ sơ. Tần Nhược Lan ký cam kết mở lớp vá sửa miễn phí mỗi tháng và may rèm cho phòng đọc. Phó Minh Triết nhận bảo dưỡng đồng hồ, nhưng gạch cụm “suốt đời” tôi viết đùa rồi thay bằng “một năm, gia hạn nếu đôi bên còn chịu được nhau”. Hạ Tử Kỳ đăng ký bếp bánh cuối tuần. La Duy Thành đề xuất một hòm thư đặt trên tuyến xe số mười một cho người già khó đi lại. Kỷ Thanh Du hứa tổ chức buổi hòa nhạc gây quỹ, đồng thời sửa phần bè còn trống trong Khúc Đường Về thành bản nhạc khai trương. Không ai ký vì muốn trả nợ một lá thư. Họ ký vì mỗi người nhìn thấy một việc mình muốn làm tiếp. Tôi lập mô hình vận hành: bàn viết thư, tủ lưu thư hẹn ngày mở, phòng phục hồi giấy cộng đồng, các lớp thủ công và góc đọc. Chu Hoài Xuyên hoàn tất bản vẽ gia cố. Chúng tôi làm việc cạnh nhau đến rạng sáng, lịch sự một cách mệt mỏi sau cuộc trò chuyện trên gác mái. Đến tối trước ngày điều trần, hồ sơ chỉ còn thiếu chữ ký của tôi. Tôi đặt bút lên dòng chủ sở hữu rồi dừng lại. “Nếu ký, tôi cam kết ở lại sáu tháng để vận hành giai đoạn thử nghiệm,” tôi nói. “Đúng.” “Xưởng Lâm Châu không chờ sáu tháng.” “Có thể không.” “Anh không định giúp tôi quyết định.” “Không.” Tôi bật cười mệt mỏi. “Ít nhất anh nhất quán.” Chu Hoài Xuyên đẩy về phía tôi hai tờ giấy. Một là hồ sơ bảo tồn. Tờ kia là lịch tàu sáng hôm sau, đã in sẵn. “Tôi không mua vé,” anh nói. “Chỉ để cô biết chuyến sớm nhất nếu muốn về ký hợp đồng.” “Anh chuẩn bị đường cho tôi rời đi?” “Tôi chuẩn bị để cô không phải ở lại vì nghĩ không còn đường khác.” Tôi nhìn hai tờ giấy. Một người cố giữ tôi có lẽ sẽ dễ hiểu hơn. Chu Hoài Xuyên lại trao cả cánh cửa lẫn lối ra, để tôi không thể đổ quyết định của mình lên anh. Tôi chưa kịp ký thì sấm nổ trên mái. Mưa trút xuống nhanh đến mức con phố biến thành một dải nước trắng. Chu Hoài Xuyên chạy ra đóng cửa chớp. Tôi chuyển hộp thư vào tủ kín. Gió luồn qua mái kho phụ, kéo theo tiếng gỗ rên. “Ra khỏi đó!” anh hét. Tôi vừa bước qua ngưỡng thì một tiếng gãy lớn vang lên. Mái kho phụ sập xuống, bụi và nước bắn vào phòng sau. Bức tường rung mạnh. Chiếc tủ đựng sáu lá thư đã trao vẫn đứng, nhưng hộp thiếc trên quầy trượt xuống nền. Nắp hộp bật ra. Lá thư thứ bảy bị gió hút qua cửa kho vừa vỡ. Tôi thấy phong bì mực tím lướt trên dòng nước, mắc một giây ở chân tường rồi biến vào khoảng tối giữa những viên gạch sập. “Lá thư!” Tôi lao tới. Chu Hoài Xuyên giữ ngang vai tôi. “Không vào. Xà chưa ổn định.” “Nó ở ngay đó.” “Mái có thể sập tiếp.” “Buông tôi ra!” Anh không buông, nhưng cũng không kéo tôi đi. “Nhìn tôi. Chúng ta sẽ tìm khi chống được xà. Không đổi một lá thư lấy cô.” Tôi đứng giữa tiếng mưa, thở không ra hơi. Câu địa chỉ trên phong bì hiện lên rõ hơn mọi thứ. Gửi tôi, ở nơi mình không còn muốn bỏ đi. Và lần đầu tiên, tôi nhớ được bàn tay đã viết nó.