Câu chuyện về Hốt Tất Liệt là một hành trình lịch sử về sự giao thoa quyết liệt giữa vó ngựa thảo nguyên với đời sống du mục và nền văn minh Trung Hoa rực rỡ. Hốt Tất Liệt chính là người đã làm thay đổi diện mạo bản đồ Á - Âu thế kỷ 13. Hốt Tất Liệt (1215-1294) là cháu nội của Thành Cát Tư Hãn. Khác với những người anh em chỉ thuần túy sùng bái sức mạnh cung tên, ngay từ trẻ, ông đã bộc lộ sự hiếu kỳ lạ lùng với văn hóa định cư thay vì du mục như tổ tiên mình. Theo Nguyên Sử, ông bắt đầu chiêu mộ những học giả người Hán vào "Phủ Kim Liên", lập nên một "ban cố vấn" đa văn hóa. Đây là bước đi chiến lược giúp ông hiểu rằng: "Có thể ngồi trên lưng ngựa để chiếm thiên hạ, nhưng không thể ngồi trên lưng ngựa để trị thiên hạ." Cuộc chiến giành ngôi vị (1260 - 1264) Cái chết của người anh cả Mông Kha vào năm 1259 tại thành Điếu Ngư đã đẩy đế chế vào cuộc nội chiến. Trong khi người em út A Lý Bất Ca được các quý tộc truyền thống ủng hộ tại Mông Cổ, Hốt Tất Liệt đã nhanh chóng tự xưng Hãn tại Khai Phong. Cuộc chiến huynh đệ tương tàn này đánh dấu sự rạn nứt vĩnh viễn của Đế quốc Mông Cổ. Dù giành chiến thắng, Hốt Tất Liệt đã biến mình từ một "Đại Hãn của thảo nguyên" thành một "Hoàng đế kiểu Trung Hoa". Thiết lập nhà Nguyên và Chinh phục Nam Tống Năm 1271, Hốt Tất Liệt chính thức công bố quốc hiệu là Đại Nguyên, lấy kinh đô là Đại Đô (Bắc Kinh ngày nay). Đây là lần đầu tiên một người ngoại tộc thiết lập một triều đại chính thống theo mô hình Nho giáo trên toàn cõi Trung Hoa. • Trận Tương Phàn (Tương Dương và Phàn Thành) (1267–1273): Trước khi Hốt Tất Liệt đăng cơ, người Mông Cổ đã tiến hành các chiến dịch quân sự đến tận Đông Âu, và đã chiếm được Nga, Siberia, Tây Tạng, Cao Ly, Kim, Đại Lý, Lưỡng Hà, Tiểu Á và Ba Tư. Tuy nhiên, việc chiếm nước Nam Tống vẫn khá khó khăn vì vị trí chiến lược của thành Tương Dương, vì thế Hốt Tất Liệt buộc phải chiếm và giữ vững tòa thành này. Thành Tương Dương án ngữ các thủy đạo của Nam Tống vì Hán Thủy là chi lưu chính của Trường Giang. Nếu thành này thất thủ, quân Mông Cổ sẽ dễ dàng chiếm được các thành quan trọng khác ở Nam Tống và như vậy thì triều đại này sẽ nhanh chóng sụp đổ. Trận chiến kéo dài 6 năm, quân Mông Cổ đã sử dụng rất hiệu quả các máy bắn đá trọng lực, gọi là Hồi hồi pháo, hay Tây Vực pháo trong khi người Tống trước đó chỉ biết đến các máy bắn đá cổ xưa phải kéo bằng tay. Khi một phát đạn thử nghiệm được bắn vào thành phố, và có vẻ như phát đạn này đã bắn vào một thạch kiều trong thành. Khi quả đạn rơi xuống đất, nó phát ra tiếng như tiếng sấm. Lính Nam Tống đến kiểm tra thiệt hại, và họ kinh hãi khi thấy rằng quả đạn đã ngập hàng mét xuống lòng đất. Sự hỗn loạn bao trùm sau phát đạn thử nghiệm đó. Nhiều người lính và dân chúng đòi mở cổng thành tháo chạy. Trước đó A Truật đã tàn sát thường dân ở Phàn Thành để khủng bố tinh thần Tương Dương sau khi ông ta chọc thủng những bức tường của thành này bằng máy bắn đá. Người Nguyên nói với Lã Văn Hoán rằng, nếu quân Nam Tống không đầu hàng thì mọi người trong thành, kể cả thường dân, sẽ bị tàn sát. Lã Văn Hoán thấy không còn cơ hội nào để thủ thành khi lương thực sắp cạn, và không thấy dấu hiệu có quân tiếp viện tới, vì thế đã đầu hàng, kết thúc sáu năm dài Tương Dương bị bao vây. Trận Nhai Môn (1279): Đánh dấu sự sụp đổ cuối cùng của nhà Nam Tống. Tống sử ghi lại rằng, hàng vạn quân Tống nhảy xuống biển tự vẫn sau trận hải chiến cuối cùng tại nhai môn, 7 ngày sau trận chiến, người ta thấy cả trăm nghìn xác người chết trôi nổi trên biển. Riêng xác của hoàng đế Tống Đế Bính được tìm thấy tại bờ biển gần Xà Khẩu, Thâm Quyến ngày nay.Thất bại ở Nhai Môn cùng cái chết của Tống Đế Bính đã đánh dấu sự diệt vong của nhà Tống, Trung Quốc từ đây chính thức nằm hoàn toàn dưới quyền cai trị của nhà Nguyên. Lần đầu tiên toàn bộ Trung Quốc bị cai trị bởi người du mục. Khi nắm giữ lục địa trong tay, Hốt Tất Liệt hướng tầm mắt sang biển cả. Tuy nhiên, đây cũng là nơi "vận may" của ông dừng lại: • Nhật Bản: Hai cuộc viễn chinh (1274 và 1281) đều bị quét sạch bởi những cơn bão mà người Nhật gọi là Kamikaze (Thần phong). • Đại Việt: Ba lần xâm lược (đặc biệt là hai lần dưới thời Hốt Tất Liệt năm 1285 và 1287) đều thất bại thảm hại trước chiến thuật "vườn không nhà trống" và sự kiên cường của quân dân nhà Trần. • Java (Indonesia): Cuộc viễn chinh viễn xứ cũng không đem lại kết quả lâu dài. Hốt Tất Liệt là một quân vương đầy mâu thuẫn. Ông thúc đẩy thương mại qua Con đường Tơ lụa, bảo trợ cho nghệ thuật, và là người đã tiếp đón Marco Polo, giúp thế giới phương Tây biết đến sự giàu có của phương Đông. Tuy nhiên, chính sách phân chia đẳng cấp (người Mông Cổ hạng nhất, người Hán hạng cuối) đã gieo rắc mầm mống nổi dậy sau này. Những năm cuối đời của Hốt Tất Liệt bao trùm bởi bi kịch cá nhân và sự sa sút về thể xác. Việc mất đi người vợ hiền Sát Tất (1281) và thái tử Chân Kim (1285) – niềm hy vọng duy nhất về một người kế vị am tường Nho giáo – đã khiến ông rơi vào trầm cảm nặng nề. Nỗi đau mất người thân cộng hưởng với những thất bại quân sự tại Đại Việt và Nhật Bản khiến tinh thần vị hoàng đế hoàn toàn sụp đổ. Để giải tỏa tâm lý, Hốt Tất Liệt tìm đến rượu và các món đặc sản động vật, dẫn đến tình trạng béo phì và bệnh gút nghiêm trọng. Dù đã cầu viện mọi thần y từ Cao Ly đến Đại Việt, sức khỏe ông vẫn không hề xoay chuyển. Vào cuối năm 1293, ông từ chối mọi yến tiệc, chọn cháu nội là Thiết Mộc Nhĩ (con trai Chân Kim) làm người kế vị. Tháng 2 năm 1294, Hốt Tất Liệt băng hà ở tuổi 80, kết thúc một kỷ nguyên huy hoàng cuả một đế quốc rộng lớn nhưng bắt đầu có những dấu hiệu dần suy yếu