Chiều cùng ngày, Tần Nhã Lâm trở lại Nhà hát Tinh Hà để lấy thuốc và hai cuốn sổ tay còn trong phòng làm việc. Trên cửa đã có hai dải niêm phong đỏ. Nhân viên hành chính đứng chờ sẵn, nói mọi tài liệu liên quan đến sự cố phải được giữ nguyên. Tần Nhã Lâm chỉ vào ngăn tủ nhỏ bên ngoài khu vực bàn làm việc, giải thích thuốc đau đầu không thuộc hồ sơ nghệ thuật. Người kia vẫn yêu cầu cô lập danh mục bằng văn bản, chờ giám đốc ký duyệt. Qua ô kính trên cửa, cô nhìn thấy căn phòng quen thuộc bị chia thành những vùng xa lạ. Máy tính đã tắt. Giá tổng phổ trống không. Tấm ảnh chụp Dàn giao hưởng Lam Vân trong buổi hòa nhạc đầu tiên vẫn treo trên tường, nhưng một góc bị dải niêm phong che ngang khuôn mặt cô. “Bản tổng phổ Khúc Giao Mùa đâu?” Nhân viên hành chính đáp rằng toàn bộ tài liệu đã chuyển vào kho bảo quản. Khi Tần Nhã Lâm hỏi ai ký lệnh chuyển, người kia chỉ nói làm theo chỉ đạo của ban giám đốc. Cô yêu cầu lập biên bản tài sản trước mặt mình. Yêu cầu bị từ chối vì cô đang đình chỉ. Cô tiếp tục đề nghị được chụp tình trạng niêm phong. Nhân viên bảo vệ đứng cạnh lập tức bước lên, viện dẫn quy định cấm ghi hình nội bộ. Tần Nhã Lâm không cố vượt qua họ. Cô ghi tên hai người, giờ đến và số dải niêm phong vào điện thoại. Sự bình tĩnh của cô khiến nhân viên hành chính khó chịu hơn một cuộc cãi vã. Người kia hỏi cô ghi chép để đe dọa ai. “Để ngày mai không ai phải nhớ thay cho hôm nay.” Câu trả lời khiến hành lang im lặng. Ở cuối lối đi, tiếng dàn nhạc tập một đoạn quen thuộc vọng ra. Khúc Giao Mùa đang được chơi mà không có tác giả. Tần Nhã Lâm đi về phía phòng tập, nhưng cánh cửa khóa từ bên trong. Qua lớp kính cách âm, cô thấy Lục Minh Khải đứng trước bục chỉ huy cùng một người đàn ông lạ. Người đó cầm bản tổng phổ của cô, dùng bút chì đánh dấu trực tiếp lên lề giấy. Chu Mạn Thanh phát hiện Tần Nhã Lâm trước. Cây vĩ của bè trưởng chệch nhẹ, kéo theo vài tiếng sai. Lục Minh Khải quay lại, đi ra hành lang và khép cửa sau lưng. “Cô không được tiếp xúc với dàn nhạc.” “Tôi đến lấy đồ cá nhân. Người trên bục là ai?” “Nhạc trưởng khách đang đánh giá khả năng tiếp quản chương trình.” “Ông ấy đang viết vào bản tổng phổ của tôi.” “Bản dùng cho hoạt động của nhà hát.” Tần Nhã Lâm nhìn thẳng Lục Minh Khải. “Ông đang cố biến quyền sử dụng thành quyền sửa tác phẩm.” Lục Minh Khải mỉm cười rất nhạt. Ông nói tác phẩm muốn tồn tại cần sân khấu, còn nhà soạn nhạc bị khán giả quay lưng thì nên biết cảm ơn người giữ cho nó tiếp tục được biểu diễn. Sau đó ông đưa cho cô một thông báo mới: quyền truy cập thư viện số, bản phối và dữ liệu tập luyện của cô bị tạm khóa để phòng ngừa can thiệp từ xa. Không chỉ căn phòng bị niêm phong. Cả quá trình sáng tác bốn năm của cô giờ nằm sau một mật khẩu do người khác nắm. Tần Nhã Lâm hỏi bản sao cá nhân theo hợp đồng. Lục Minh Khải trả lời bộ phận pháp chế đang xem xét. Khi ông quay vào phòng tập, Chu Mạn Thanh đứng sau lớp kính vẫn nhìn cô. Nhưng lần này bè trưởng không còn giận dữ hoàn toàn. Cảnh một người lạ viết lên tổng phổ mà tác giả bị chặn ngoài cửa đã tạo ra một vết nứt nhỏ trong niềm tin của cô. Bạch Tử Yên gặp Tần Nhã Lâm ở quán mì đối diện nhà hát sau giờ làm. Người quản lý trẻ đến muộn, chọn bàn khuất và không tháo thẻ nhân viên khỏi cổ. Cô nói cuốn sổ trực đã bị văn phòng giữ lại để sao chép. Trước khi nộp, cô kịp ghi nhớ những mốc bàn giao quan trọng, nhưng không chụp ảnh vì camera hành lang quay thẳng vào bàn trực. “Em thấy mình hèn,” Bạch Tử Yên nói. “Đêm qua em biết lịch bảo trì không khớp mà không dám nói trước khán giả.” “Nói khi chưa có đủ dữ kiện sẽ khiến em bị đuổi khỏi bàn trực và cuốn sổ biến mất nhanh hơn.” “Cô không giận em sao?” “Tôi cần em còn đứng được ở nơi em có thể nhìn thấy sự việc.” Đó là lý do Tần Nhã Lâm chưa công khai mọi nghi ngờ. Không phải cô không biết tự bảo vệ, mà vì mỗi người lên tiếng quá sớm đều có thể bị tách khỏi vị trí đang giữ dấu vết. Cô yêu cầu Bạch Tử Yên chỉ làm đúng quy trình, không lấy cắp tài liệu, không truy cập trái phép, và ghi lại mọi lệnh bàn giao bằng kênh chính thức. Bạch Tử Yên lấy từ túi ra một tờ chương trình nhàu nhẹ. Tờ này được nhặt ở cánh gà sau buổi diễn. Mặt sau có vài dòng nhạc do ai đó thử bút. Tần Nhã Lâm nhận ra đó là bản in từ lô tổng phổ sân khấu vì loại giấy dày và đường cắt mép đặc trưng. Cô nhìn bảy trang được đánh dấu trong danh mục in ở góc dưới. Không có bằng chứng trang nào đã bị thay. Chỉ có một chi tiết khiến cô dừng lại: ở đoạn độc tấu cello, một ký hiệu lấy hơi được viết theo hướng móc ngược, khác thói quen cô dùng trong bản thảo. “Có thể nhạc trưởng khách vừa ghi,” Bạch Tử Yên đoán. “Có thể. Cũng có thể bản sao này được in từ một phiên bản khác.” Tần Nhã Lâm không nói thêm. Một ký hiệu lạ không chứng minh được ai đã làm gì. Nó chỉ đủ để cô đặt tờ chương trình vào túi giấy sạch, ghi ngày giờ nhận và nhờ Bạch Tử Yên ký xác nhận đã nhặt ở đâu. Người quản lý trẻ ngạc nhiên trước sự cẩn thận ấy. “Chúng ta không biết nó có quan trọng hay không,” Tần Nhã Lâm giải thích. “Vì vậy càng không được biến nó thành thứ chỉ tồn tại trong lời kể.” Đêm đó, cô thử đăng nhập kho tác phẩm từ máy tính ở nhà. Màn hình báo tài khoản không tồn tại. Đường dẫn chia sẻ cho các bản nháp cá nhân cũng bị thu hồi. Cô mở ổ lưu trữ riêng, nơi còn những phiên bản rất sớm của Khúc Giao Mùa, nhưng bản hoàn thiện gần nhất đã được đồng bộ với hệ thống nhà hát theo yêu cầu bảo mật trước công diễn. Một email từ phòng truyền thông đến lúc gần nửa đêm. Họ yêu cầu Tần Nhã Lâm không tự xưng là tác giả độc quyền trong bất kỳ phát ngôn nào, vì “quyền lợi liên quan đang được rà soát”. Cùng lúc, trang giới thiệu chương trình đã đổi cách ghi từ “sáng tác và chỉ huy: Tần Nhã Lâm” thành “tác phẩm do Nhà hát Tinh Hà sản xuất”. Tên cô chưa bị xóa hẳn. Nó bị làm mờ từng lớp, đủ chậm để mỗi thay đổi trông như một biện pháp tạm thời. Tần Nhã Lâm chụp lại trang web, lưu thời điểm và gửi yêu cầu cải chính. Sau đó cô mở bản nháp cũ, đặt cạnh tờ chương trình nhặt được. Ký hiệu móc ngược nằm đó như một nốt nhạc lạc trong câu. Cô chưa biết nó đến từ đâu. Nhưng cô biết rất rõ mình chưa từng viết như vậy.