Tối hôm đó, Hoài Chu đưa tôi về căn hộ bằng chiếc xe đã đỗ dưới xưởng từ chiều. Tôi ngồi ghế sau, không phải vì giận, mà vì hàng ghế trước chất đầy hồ sơ. Anh gọi tài xế nghỉ sớm rồi tự lái. Thành phố Hàng Châu sau mưa trôi qua cửa kính, đèn đường kéo thành những vệt vàng dài. “Thứ bảy hai nhà ăn tối,” anh nói. “Nếu em không muốn bàn chuyện lễ cưới, anh sẽ báo trước.” “Tôi sẽ tự báo.” Anh nhìn tôi qua gương. “Được.” Tôi chờ một câu giải thích về đội thay ca. Không có. Hôn ước của chúng tôi kỳ lạ ở chỗ mọi điều lớn đều được viết rất rõ. Tài sản độc lập. Công việc độc lập. Không bên nào được buộc bên kia rời nghề. Nếu chia tay, hai dự án đang làm phải được hội đồng bên ngoài rà soát để tránh trả đũa nghề nghiệp. Những điều nhỏ lại mơ hồ. Ai được gọi bác sĩ khi người kia sốt. Ai có quyền hủy một cuộc họp. Một câu “vì tốt cho em” có thể đi xa đến đâu trước khi biến thành “anh đã quyết rồi”. Khi xe dừng dưới nhà, Hoài Chu xuống trước và mở cốp lấy một túi giấy. “Cháo hạt sen,” anh nói. “Không có rau mùi.” Tôi nhận túi. “Trợ lý của anh cập nhật hồ sơ khá đầy đủ.” “Anh tự nhớ.” “Anh nhớ từ lúc nào?” Câu hỏi khiến tay anh dừng trên nắp cốp. Chỉ một nhịp, nhưng tôi nhìn thấy. “Sáu tháng làm cùng đủ để nhớ.” Anh đóng cốp. Tôi không hỏi thêm. Sáng hôm sau, chúng tôi họp về thỏa thuận hợp tác sau lễ hội. Phòng họp nhìn xuống bờ sông, bàn dài đủ chỗ cho mười hai người nhưng chỉ có tôi, Hoài Chu và luật sư dự án. Bản dự thảo ghi công ty sẽ có quyền ưu tiên thuê nhóm của tôi trong hai năm nếu tôi mở xưởng riêng. Tôi gạch bỏ điều khoản ấy. Luật sư nhìn Hoài Chu. Anh không nhìn lại. “Cô Tống là bên đề xuất. Hỏi cô ấy.” Tôi hơi bất ngờ, nhưng vẫn nói: “Quyền ưu tiên khiến mọi khách hàng khác phải chờ công ty từ chối. Tôi không chấp nhận.” “Vậy sửa thành quyền nhận thông báo?” luật sư hỏi. “Không. Xóa hẳn.” Luật sư ghi chú. Hoài Chu không can thiệp. Đến điều khoản tiếp theo, anh mới lên tiếng. “Nếu xưởng của em dùng người từ nhóm hiện tại, họ phải tự nguyện và được thanh toán phần việc đã làm ở đây.” “Tôi đồng ý.” “Ghi thành nghĩa vụ của cả hai bên,” tôi nói với luật sư. “Công ty cũng không được giữ người bằng cách đe dọa cắt hồ sơ nghề nghiệp.” Hoài Chu nhìn tôi. “Anh chưa từng làm vậy.” “Vậy anh không có lý do phản đối.” Khóe miệng anh động nhẹ. “Không phản đối.” Trước khi ký biên bản, tôi yêu cầu thêm một dòng: mọi thay đổi tên tác giả phải được chính tác giả xác nhận. Luật sư cho rằng quy định ấy quá chi tiết. Hoài Chu đọc lại rồi bảo cứ ghi. Anh còn yêu cầu thông báo phải gửi tới cả nhóm, không chỉ trưởng dự án. Khi ấy, tôi đã nhìn anh lâu hơn cần thiết. Một người hiểu rõ tên gọi quan trọng đến vậy đáng lẽ không thể để nó bị đổi sau lưng tôi. Chính vì thế, bằng chứng xuất hiện sau này mới đau. Nó không va vào một người vốn thờ ơ. Nó va vào người từng ngồi đối diện tôi và giúp khóa cánh cửa ấy bằng giấy trắng mực đen. Buổi họp kết thúc sau một giờ. Luật sư thu giấy đi trước. Tôi gom các bản vẽ thì một mảnh giấy xanh nhạt rơi khỏi ví Hoài Chu đang đặt trên bàn. Anh nhặt nhanh hơn tôi, nhưng tôi vẫn thấy góc giấy được gấp thành tam giác. “Vé gì vậy?” “Một chuyến tàu cũ.” “Anh giữ hóa đơn sáu năm à?” “Không phải hóa đơn.” Anh cất nó vào ngăn trong, đóng ví lại. Tôi nhìn bàn tay anh. Sáu năm trước, ở ga Nam Thành, tôi từng gấp góc vé như vậy để phân biệt với vé của đoàn sinh viên. Hôm ấy mưa lớn, tàu chậm ba tiếng, điện ở phòng chờ tắt một nửa. Tôi ngồi cạnh một người đàn ông xa lạ và tranh luận với anh ta về lý do ánh đèn trắng làm mọi người đang mệt trông còn tuyệt vọng hơn. Tôi chưa biết tên người ấy. Khi gặp Hoài Chu lần đầu trong dự án hiện tại, tôi đã nhận ra anh sau câu thứ ba. Anh không nhận ra tôi. Hoặc tôi đã nghĩ vậy. Tôi giữ im lặng vì không muốn lần tái ngộ của mình trở thành một món nợ lãng mạn. Tôi muốn anh nhìn bản thiết kế trước khi nhìn ký ức. “Chiều nay anh có xuống xưởng không?” tôi hỏi, như thể chưa thấy gì. “Có buổi duyệt kỹ thuật.” “Vậy nhớ đến với tư cách giám đốc dự án.” “Còn tư cách vị hôn phu?” “Đứng ngoài cửa nếu định gọi đội thay ca mà không hỏi.” Lần này anh thật sự cười, rất ngắn. “Đã rõ.” Buổi duyệt chiều có ba đại diện ban tổ chức và hai nhà tài trợ. Nhiệm vụ của tôi rất đơn giản: cho họ thấy mô hình cây cầu chuyển từ màu hổ phách ấm sang ánh trắng trong, phản chiếu xuống mặt sàn như dòng nước. Khi tôi chạm nút bắt đầu, đoạn giữa cây cầu lóe sáng màu xanh lạnh. Không ai trong nhóm dùng màu đó. Khải Dương lập tức cắt nguồn. Bóng đèn tắt trước khi nhịp sai lan hết mô hình. Một đại diện cau mày. “Đây là bản trình diễn cuối sao?” Tư Đồng đứng bên bàn khách, nhẹ nhàng nói: “Có lẽ nhóm thiết kế vừa cập nhật chưa đồng bộ. Chúng ta có thể xem phần câu chuyện thương hiệu trước.” Tôi mở lịch sử thay đổi. Một bảng màu lạ được thêm vào lúc mười một giờ đêm qua, bằng tài khoản chung của phòng thử. Hoài Chu bước đến cạnh tôi. “Cần bao lâu?” “Tám phút.” “Em có năm.” “Tôi cần tám.” Anh quay sang khách. “Chúng ta nghỉ mười phút.” Không ai phản đối giọng nói ấy. Tôi nhìn anh. “Tôi không cần anh cho thêm thời gian vì tôi.” “Anh cho dự án thời gian để người có năng lực sửa đúng lỗi.” Câu trả lời đủ chính xác để tôi không thể giận. Tôi và Khải Dương tách bảng màu lạ khỏi tệp, nhưng lỗi vẫn còn ở đoạn giữa. Tôi nhận ra dữ liệu phản chiếu bị ghi đè, khiến hệ thống gọi nhầm màu dự phòng. Thay vì phục hồi toàn bộ, tôi dùng chính lớp phản chiếu làm nhịp dẫn, hạ sáng phần trên rồi cho màu hổ phách chạy từ mặt nước lên thân cầu. Mười phút sau, cây cầu không còn giống bản trình diễn cũ. Nó đẹp hơn. Ánh hổ phách nổi lên từ khoảng tối, chạm từng thanh cầu như một hơi ấm tìm được đường về. Khi màu trắng xuất hiện, nó không xóa màu cũ mà đứng cạnh, khiến mô hình vừa rõ vừa dịu. Căn phòng im lặng hai giây rồi có tiếng vỗ tay. Người đại diện khó tính nhất hỏi: “Ai nghĩ ra cách đảo nhịp?” Hoài Chu lùi nửa bước, để tôi đứng một mình trước mô hình. “Tống Vãn Ninh,” anh nói. “Tác giả chính.” Tôi nhận được lời công nhận mình cần. Vậy mà khi nhìn bàn tay anh đặt gần túi áo có chiếc vé cũ, tôi lại nghe một câu hỏi khác. Nếu anh đã nhận ra tôi, tại sao anh cũng chọn im lặng?