Sau buổi duyệt, ban tổ chức gửi thư xác nhận giữ nguyên tên nhóm thiết kế trên mọi tài liệu. Họ còn yêu cầu dùng nhịp ánh sáng mới cho đêm công bố. Khải Dương in thư ra, dán lên bảng xưởng bằng bốn miếng băng dính. “Tại sao bốn?” tôi hỏi. “Vì thành quả nghề nghiệp hay rơi đúng lúc không ai để ý.” “Anh có thể lưu tệp.” “Tệp bị người khác sửa được. Bức tường này chỉ có cô Tư Đồng dám động.” Anh nói đủ nhỏ để chỉ tôi nghe. Tôi liếc về phía cửa. Tư Đồng đang hướng dẫn thợ quay chụp mô hình, nụ cười vẫn hoàn hảo. Tôi không có bằng chứng cô liên quan đến bảng màu lạ. Tài khoản phòng thử được sáu người dùng. Lỗi có thể là bất cẩn, cũng có thể là ai đó muốn phần trình diễn thất bại để truyền thông tiếp quản buổi duyệt. Tôi ghi lại thời điểm và sao lưu lịch sử thay đổi vào một ổ lưu trữ riêng. Đó là lần đầu tôi làm vậy. Tôi còn lập một sổ thay đổi bằng giấy, ghi người chạm vào mô hình, thời điểm và mục đích. Tư Đồng nhìn cuốn sổ rồi cười rằng nhóm thiết kế đang biến xưởng thành phòng lưu trữ. Tôi đáp một căn phòng có quá nhiều người được quyền vào thì trí nhớ không đủ làm khóa. Cô ký tên rất đẹp ở dòng dành cho khách truyền thông. Sau này, chữ ký ấy không chứng minh cô lấy tệp nào. Nó chỉ chứng minh cô hiểu từ hôm đó rằng tôi đã bắt đầu theo dấu đường đi của tác phẩm. Hoài Chu đứng ở đầu kia xưởng, xem bản báo cáo lỗi. Tôi chờ anh hỏi ai đã sửa tệp. Anh chỉ nói với quản trị viên khóa tài khoản dùng chung và cấp quyền riêng cho từng người. “Anh không điều tra sao?” tôi hỏi khi mọi người đã về. “Có.” “Ai phụ trách?” “Bộ phận an toàn dữ liệu.” “Tôi được xem kết quả không?” “Khi có kết luận.” Tôi dựa vào bàn. “Tệp của tôi bị sửa. Tôi không muốn là người cuối cùng biết.” “Anh chưa có gì chắc chắn.” “Vậy nói phần chưa chắc chắn.” Hoài Chu khép báo cáo. “Một tài khoản chung không chứng minh được người dùng. Nói sớm chỉ khiến cả nhóm nghi nhau.” “Anh lại quyết định hộ tôi rằng tôi nên biết gì.” Anh nhìn tôi rất lâu. “Anh đang bảo vệ cuộc điều tra.” “Còn tôi đang bảo vệ tác phẩm.” Không ai nhường câu nào. Cuối cùng, anh đặt bản báo cáo xuống trước mặt tôi. “Em có thể đọc phần kỹ thuật. Tên người truy cập tạm thời bị che theo quy trình.” Tôi đọc. Dữ liệu cho thấy bảng màu được đưa vào từ một máy thuộc phòng truyền thông, nhưng máy ấy nằm trong khu làm việc chung. Chưa đủ để kết luận. “Lần sau,” anh nói, “anh sẽ cho em biết ngay khi tác phẩm bị ảnh hưởng.” “Đừng đợi lần sau.” Anh khẽ gật. Đêm ấy, chúng tôi rời xưởng gần một giờ sáng. Quán ăn dưới chân cầu chỉ còn một bàn trống. Tôi định gọi mì bò, Hoài Chu nói với chủ quán: “Một bát không rau mùi, không hành sống. Một bát bình thường.” Tôi kéo ghế ngồi. “Trợ lý của anh còn quản cả quán này?” “Anh đã nói anh tự nhớ.” “Vậy anh nhớ vì vị hôn thê hay vì nhà thiết kế chính?” “Có khác nhau không?” “Rất khác. Một người có thể rút khỏi hôn ước. Người kia vẫn cần được trả tiền đúng hạn.” Chủ quán đặt hai bát mì xuống, vô tình cứu anh khỏi trả lời. Tôi đói đến mức ăn hết nửa bát mới nhận ra anh đã đẩy đĩa củ cải muối về phía tôi. Sáu năm trước ở ga Nam Thành, người đàn ông xa lạ cũng từng làm vậy sau khi nghe tôi phàn nàn mì quá nhạt. Tôi ngẩng lên. Hoài Chu đang nhìn mưa chảy ngoài cửa kính. “Anh từng bị kẹt tàu ở ga Nam Thành chưa?” tôi hỏi. Đũa trong tay anh dừng lại. “Có.” “Khoảng sáu năm trước?” “Vì sao em hỏi?” “Anh gấp góc vé.” Anh không trả lời ngay. Tiếng nước dùng sôi trong bếp lấp khoảng trống giữa chúng tôi. “Em để ý chiếc vé?” “Tôi để ý vật thể. Đó là nghề của tôi.” “Vậy em thấy gì?” “Một người giữ món đồ không còn giá trị sử dụng.” “Có những thứ hết giá trị sử dụng mới bắt đầu có ý nghĩa.” Câu nói ấy khiến lòng tôi rung lên, nhưng tôi không cho phép nó trở thành đáp án. Nếu anh muốn nói về quá khứ, anh có thể nói thẳng. Tôi đã im lặng trước; anh cũng đang làm vậy. Hai người trưởng thành không thể xây niềm tin bằng việc thi xem ai giấu kỹ hơn. Tôi đổi chủ đề. “Bản thử hôm nay, cảm ơn anh đã lùi lại.” “Em tự cứu nó.” “Đúng. Nhưng anh đã gọi đúng tên tôi.” Hoài Chu nhìn tôi. Ánh đèn hổ phách trên quầy phản vào mắt anh, làm vẻ lạnh lùng dịu đi. “Anh sẽ luôn gọi đúng tên em.” Tôi muốn tin câu ấy. Hai ngày sau, Tư Đồng mời tôi vào phòng họp nhỏ. Cô đóng cửa, đặt máy tính bảng trước mặt tôi. “Có chuyện này tôi không biết nên nói thế nào.” “Vậy nói theo thứ tự thời gian.” Cô mím môi như thể bị giọng tôi làm tổn thương. Trên màn hình là lịch sử của tệp trình diễn chính. Một lệnh đổi quyền tác giả được phát lúc hai giờ mười bảy phút sáng. Tên tôi bị chuyển xuống mục cộng tác. Tên Tư Đồng được đưa lên vị trí tác giả trình bày. Bên dưới lệnh là chữ ký điện tử của Cố Hoài Chu. Tôi đọc ba lần. “Tại sao tên cô ở đó?” “Tôi cũng vừa phát hiện.” Tư Đồng hạ giọng. “Bộ phận truyền thông nhận được bản này để chuẩn bị công bố. Tôi nghĩ có thể giám đốc Cố muốn bảo vệ dự án nếu cô mở studio trước lễ hội.” “Anh ấy nói vậy với cô?” “Không trực tiếp. Nhưng tài khoản ký là của anh ấy.” Cô vuốt sang trang tiếp theo. Một thư nội bộ yêu cầu giữ kín thay đổi cho đến ngày công bố, tránh phản ứng từ nhóm thiết kế. Tôi nhìn dấu thời gian, đường dẫn và mã xác nhận. Chúng đủ thật để một người bình tĩnh cũng phải nghi ngờ. Tư Đồng nói rất khẽ: “Vãn Ninh, tôi không muốn cô bước vào lễ cưới mà không biết người bên cạnh có thể làm gì với tên của cô.” Tôi khóa màn hình. “Tôi cần bản sao.” “Có thể vi phạm bảo mật.” “Vậy cô vừa cho tôi xem để làm gì?” Cô im lặng một nhịp rồi gửi tệp cho tôi. Tôi không gọi Hoài Chu ngay. Tôi quay về xưởng, mở bản thiết kế chính. Tên tác giả vẫn là tôi. Nhưng ở góc phải, biểu tượng đồng bộ đang quay. Ba giây sau, màn hình chớp nhẹ. Tên Tống Vãn Ninh biến mất. Khải Dương đặt bàn tay lên mép bàn, ngăn tôi chạm vào bàn phím theo phản xạ. Chúng tôi chụp cả đồng hồ treo tường, dây mạng đang cắm và số hiệu máy. Tôi nghe tiếng điều hòa, tiếng xe ngoài phố, tiếng máu dồn trong tai mình. Mọi thứ bình thường đến khó chịu. Không còi báo động nào vang lên khi công sức của một người bị chuyển sang tên khác. Chỉ có một dòng chữ đổi vị trí, lặng lẽ như thể nó vốn nên ở đó.