Sáng diễn ra phiên họp hội đồng, Tư Đồng công bố một bức thư nội bộ lên mạng. Bức thư mang tên tôi, gửi cho một khách hàng tiềm năng ba tháng trước. Trong đó, tôi viết rằng sẽ “mang phương pháp ánh sáng phản chiếu” sang xưởng riêng sau khi rời công ty. Tư Đồng kèm lời bình rất khéo: cô không kết tội tôi lấy bí mật dự án; cô chỉ hỏi liệu một người chuẩn bị cạnh tranh có nên tiếp tục giữ quyền tác giả độc quyền hay không. Đoạn cô đăng là thật. Phần bị cắt đi cũng là thật. Ở câu tiếp theo, tôi đã ghi rõ phương pháp ấy do tôi phát triển trước dự án, và mọi cấu trúc làm riêng cho lễ hội sẽ được cấp phép hoặc loại bỏ. Nhưng trên mạng, không ai nhìn thấy câu đó. Các bình luận chia làm hai hướng. Một nửa nói tôi bị cướp công. Nửa còn lại cho rằng tôi dựng chuyện để mang danh tiếng sang xưởng mới. Ban tổ chức hoãn cuộc họp hội đồng hai giờ để xác minh. Khải Dương đặt điện thoại xuống. “Cô ta thích nghi nhanh.” “Tư Đồng lấy thư này ở đâu?” “Nó từng nằm trong hồ sơ đề nghị mở xưởng. Văn phòng giám đốc, pháp lý và truyền thông đều có quyền xem.” “Lại một vòng quyền truy cập.” Tôi có thể đăng toàn bộ bức thư ngay. Nhưng nếu phản ứng vội, cuộc tranh luận sẽ thành hai ảnh chụp màn hình đối đầu. Tôi cần nguồn gốc và người xác nhận. Tôi gọi khách hàng nhận thư. Ông đồng ý chuyển bản gốc trực tiếp cho hội đồng, kèm dấu thời gian. Đổi lại, ông yêu cầu tôi cho biết tranh chấp có khiến xưởng mới không thể làm việc trong ba tháng tới hay không. Tôi trả lời thành thật: “Có thể. Nếu tôi thua, hợp đồng lễ hội bị treo và tiền của tôi cạn trong sáu tuần.” Ông im lặng rồi nói sẽ cân nhắc lại đề nghị hợp tác. Chiều đó, ông gửi thư rút lui. Lý do được viết lịch sự: thời điểm chưa phù hợp, rủi ro danh tiếng vượt khả năng của dự án nhỏ. Tôi lưu thư vào hồ sơ thiệt hại rồi đóng máy. Khải Dương đặt một hộp cơm cạnh tôi, không nói câu mọi chuyện rồi sẽ ổn. Chúng tôi đều biết có những việc sẽ không trở lại. Tôi ăn hết hộp cơm vì xưởng vẫn phải trả tiền điện, và một người bị oan cũng cần đủ tỉnh táo để đọc hợp đồng. Một bức thư bị cắt không chỉ làm tôi xấu hổ. Nó lấy đi một khách hàng chưa kịp ký, và không ai có thể trả lại cơ hội đúng như cũ. Hoài Chu đến hội đồng cùng luật sư công ty. Anh không tiến về phía tôi. Trên ve áo không còn huy hiệu giám đốc dự án, chỉ có thẻ người cung cấp bằng chứng. Tần Mộc Thanh chủ trì cuộc họp trong một phòng sáng trắng, tường không trang trí. Bà ngoài năm mươi, tóc cắt ngắn, giọng điềm tĩnh. “Chúng ta không xét ai yêu ai, ai định cưới ai, hay ai trông đáng thương hơn,” bà nói. “Chúng ta xét nguồn gốc tác phẩm, quyền truy cập và trách nhiệm nghề nghiệp.” Tôi trình bày trước. Bản phác tay. Ảnh mô hình. Dấu thời gian của bản thử độc lập. Bản đầy đủ của bức thư. Tôi cũng đưa lỗi màu xanh ở buổi duyệt và giải thích cách mình sửa. Luật sư hỏi: “Cô thừa nhận đã chuẩn bị dùng phương pháp phản chiếu tại xưởng riêng?” “Có. Phương pháp chung do tôi phát triển. Thiết kế cụ thể của cây cầu thuộc hợp đồng lễ hội. Tôi phân biệt hai phần trong bản đầy đủ.” “Nhưng cô đã không báo kế hoạch rời công ty trước khi liên hệ khách hàng.” “Tôi không có nghĩa vụ báo trước một kế hoạch chưa ký. Tôi có nghĩa vụ không lấy tài sản dự án, và tôi đã ghi rõ giới hạn đó.” Tần Mộc Thanh hỏi: “Vì sao cô đưa cả phần bất lợi cho mình?” “Vì nếu quyền tác giả chỉ được bảo vệ bằng cách giấu phần xấu, nó không phải quyền tác giả. Nó là quảng cáo.” Bà gật đầu, ghi chép. Đến lượt Hoài Chu, anh nộp hồ sơ bản mồi. Căn phòng lạnh đi khi mọi người hiểu anh đã phát hiện rò rỉ nhưng giữ bí mật với nhóm thiết kế. “Anh có sự đồng thuận của tác giả chính không?” Tần Mộc Thanh hỏi. “Không.” “Anh có đánh giá nguy cơ bản thật bị thay đổi quyền tác giả?” “Có đánh giá nguy cơ sao chép, không đánh giá đủ nguy cơ chiếm tên.” “Vậy anh coi dữ liệu quan trọng hơn người tạo ra dữ liệu?” Hoài Chu không tìm cách làm mềm câu hỏi. “Trong kế hoạch đó, đúng.” Tôi nghe câu trả lời và thấy đau hơn cả khi anh phủ nhận. Anh không phải kẻ trực tiếp cướp tác phẩm. Anh là người thấy ngọn lửa nhỏ, dựng bẫy bắt kẻ châm lửa, nhưng quên báo cho tôi rằng căn phòng của tôi đang cháy. Tần Mộc Thanh yêu cầu nhật ký phiên ủy quyền. Công ty chỉ cung cấp một phần. Nó cho thấy chữ ký điện tử của Hoài Chu được phát từ một máy khác trong lúc thẻ ra vào của anh ghi nhận anh đang ở phòng họp tầng mười hai. “Điều này chứng minh anh không ngồi trước máy,” bà nói. “Chưa chứng minh ai đã dùng phiên mở.” Tư Đồng ngồi phía đối diện, hai tay đặt gọn trên bàn. “Tôi nhận tệp từ hệ thống,” cô nói. “Tôi không có năng lực điều khiển chữ ký của giám đốc.” Cô không thú nhận. Cũng không cần. Mọi câu của cô đều giữ mình trong vùng an toàn của sự hợp lý. Hội đồng tạm dừng để yêu cầu nhật ký đầy đủ. Ngoài hành lang, Hoài Chu đứng cách tôi hai mét. “Anh xin lỗi,” anh nói. “Tôi đã mất khách hàng sáng nay.” “Công ty sẽ bồi hoàn.” “Tiền không tạo lại thời điểm người ta còn tin tôi.” Anh hạ mắt. “Anh biết.” “Không. Anh chỉ biết con số. Tôi biết cảm giác gọi cho một người và nghe họ lùi khỏi mình vì một bức thư bị cắt.” “Anh sẽ công khai trách nhiệm.” “Tôi không cần một màn hy sinh để anh vẫn là người kiểm soát câu chuyện.” Hoài Chu im lặng rồi hỏi: “Em muốn anh làm gì?” “Giao toàn bộ quyền truy cập cho hội đồng. Rút khỏi vị trí có thể quyết định bằng chứng nào được nhìn thấy. Và đừng yêu cầu tôi tha thứ như phần thưởng.” Anh gật đầu. “Anh sẽ làm.” Tư Đồng đi ngang qua chúng tôi. Cô dừng lại, nhìn chiếc vé trong túi hồ sơ của tôi. “Thật lãng mạn,” cô nói. “Một kỷ niệm sáu năm có thể khiến mọi sai lầm hiện tại trông nhẹ đi.” Tôi nhìn thẳng cô. “Không. Nó chỉ chứng minh người ta có thể nhớ một vật rất lâu mà vẫn quên hỏi người đang đứng trước mặt.” Nụ cười của Tư Đồng tắt hẳn. Điện thoại Hoài Chu rung. Anh đọc tin nhắn rồi đưa màn hình cho Tần Mộc Thanh vừa bước ra khỏi phòng. Nhật ký đầy đủ đã được tìm thấy. Nhưng cùng lúc, ban tổ chức thông báo lễ công bố vẫn diễn ra theo kế hoạch. Nếu hội đồng không có kết luận trước tối hôm sau, tên Hạ Tư Đồng sẽ được giữ trên màn hình để tránh thay đổi kỹ thuật phút chót. Chúng tôi còn chưa đầy ba mươi giờ. Và Tư Đồng vừa hiểu mình chỉ cần kéo dài, không cần thắng.