Gác phòng vé không có điện. Tôi cầm đèn pin đi trước, Trầm Chu theo sau, mỗi bước chân đều làm cầu thang gỗ kêu cót két. Mùi giấy ẩm khiến tôi nhớ lời cha: thứ từng đi qua tay người thì vết cũ cũng là thông tin. Trầm Chu hắt hơi hai lần. “Tôi cứ tưởng người làm pháp lý không sợ bụi.” “Chúng tôi sợ tài liệu không lập mục lục.” “Vậy hôm nay anh sẽ gặp ác mộng.” Chúng tôi tìm theo năm, rồi theo tháng. Gần một giờ sau, Trầm Chu tìm được mười hai quyển vé trong ngăn cuối. Cuống vé của chuyến đêm mang dấu bấm bán nguyệt. Mỗi lần nhân viên soát vé, họ bấm một góc để phân biệt lượt đi và lượt về. Tấm vé trong ảnh bị bấm ở cả hai đầu, nghĩa là người cầm nó đã lên phà, quay về cùng chuyến, nhưng không rời bến bằng cổng chính. “Có thể là nhân viên,” Trầm Chu nói. “Nhân viên không dùng vé khách.” “Hoặc người ấy đưa vé cho người khác.” Tôi lật đến số gần cuối. Một cuống vé bị xé lệch, phần giấy còn lại có nét mực xanh: chuyến cuối, ghế mười bảy. Số vé trùng với dòng mờ dưới tấm ảnh. Chúng tôi mang sổ xuống phòng điều hành cũ. Sơ đồ ghế cho thấy vị trí mười bảy nằm sát khoang kỹ thuật, nơi cha tôi thường kiểm tra máy phát. Người giữ vé đã ngồi ở chỗ có thể gặp ông mà không cần qua phòng phát thanh. Tôi gọi Phùng Gia Dật, người từng học nghề sửa máy với cha tôi. Anh đến sau bốn mươi phút cùng hộp dụng cụ. Trầm Chu chìa tay. “Cố Trầm Chu.” Gia Dật không bắt ngay. Anh nhìn tấm ảnh rồi mới nói: “Người muốn lấy vali?” “Người cùng điều tra trong bảy ngày,” tôi sửa. Gia Dật bắt tay anh, nhưng thái độ chưa bớt đề phòng. Chúng tôi chưa mở vali. Trước hết, Gia Dật kiểm tra ổ khóa đồng từ bên ngoài. Anh dùng kính phóng đại soi miếng đồng hình chiếc lá rồi chỉ một vết hàn mảnh. “Ổ này từng được sửa. Tay nghề rất giống chú Tạ.” “Có mở mà không phá được không?” Trầm Chu hỏi. “Được, nếu có chìa.” Tôi lấy chiếc chìa nhỏ nhất cha để lại. Nó tra vừa nhưng không xoay. Gia Dật xem kỹ phần răng. “Chìa đã bị mài bớt một nấc. Nó chỉ mở chốt ngoài. Còn một chốt ngầm bên trong.” “Cách mở chốt ngầm?” tôi hỏi. Gia Dật gõ nhẹ lên thân khóa. Ba tiếng ngắn vang lên. Một, hai, ba. Tôi và Trầm Chu cùng nhìn anh. “Cơ cấu cũ thôi,” Gia Dật giải thích. “Gõ đúng vị trí để lẫy bên trong rung, đồng thời xoay chìa. Chú Tạ hay làm loại khóa hai bước cho tủ dụng cụ.” Ba tiếng chuông không chỉ là đáp án nhận đồ. Nó còn là hướng dẫn mở khóa được giấu trong một ký ức âm thanh. Tôi đặt chìa vào. Gia Dật gõ ba nhịp. Chốt đồng bật ra bằng một tiếng khô nhỏ. Trầm Chu lấy điện thoại quay lại tình trạng niêm sáp cũ quanh mép vali. Tôi ghi giờ, tên ba người có mặt và lý do mở. Sau đó tôi cắt dây gai đã mục. Bên trong không có trang sức hay giấy tờ sở hữu. Chỉ có sáu cuộn băng màu hổ phách, một chiếc ô gấp màu xanh rêu đã hỏng cán, một hộp thiếc đựng vé phà và một máy nghe băng nhỏ. Mỗi cuộn băng dán một miếng giấy trắng, không ghi số. Trên đáy hộp có hai chữ viết tay: nghe theo ngày. Gia Dật cầm máy lên. “Pin đã chảy, đầu đọc bám bẩn. Đừng bật.” Anh tháo nắp, bọc riêng phần pin hỏng rồi kiểm tra băng. Cuộn trên cùng có dải giấy ghi ngày cách đây bảy năm, đúng hôm trước chuyến cuối. Chúng tôi đem máy sang cửa hàng của Gia Dật. Anh dùng thiết bị khác để đọc cuộn đầu, nhưng băng đã dính. Phải quay rất chậm, từng đoạn một. Tôi ngồi trước bàn, Trầm Chu đứng cạnh cửa sổ. Mưa kéo những vệt dài trên kính. Khi âm thanh đầu tiên bật ra, đó là tiếng máy phà và tiếng người qua lại. Sau đó một giọng nữ đọc thông báo về sương dày, yêu cầu hành khách chờ lệnh rời bến. Trầm Chu quay phắt lại. Giọng nói bị nhiễu, chỉ nghe được vài câu. Nhưng anh siết chặt mép bàn đến trắng các đốt tay. “Anh nhận ra?” tôi hỏi. “Không.” Lần này lời phủ nhận không nhanh. Nó nặng như một cánh cửa bị đẩy từ bên trong. Đoạn băng tiếp tục. Một giọng nam ở xa nói cần thử lại chuông báo. Ba tiếng chuông vang lên, đều và trầm. Rồi người phụ nữ cười. “Ba nhịp là đủ. Ai nghe được sẽ biết mình đã về đúng bến.” Trầm Chu nhắm mắt. Cuộn băng dừng ở một tiếng động mạnh. Gia Dật nhấn nút tắt. “Phần sau bị kẹt. Muốn cứu phải làm từng chút, có thể mất cả đêm.” “Làm đi,” Trầm Chu nói. Gia Dật nhìn tôi. Tôi gật đầu. Trong lúc chờ, tôi kiểm tra hộp vé. Có bốn tấm cùng bị bấm hình bán nguyệt, nhưng chỉ một tấm mang ghế mười bảy. Mặt sau là nét chữ của cha: trả lại khi người nghe đủ ba nhịp. Trầm Chu đứng sau vai tôi. “Cha cô ghi à?” “Đúng.” “Ông ấy biết người sẽ đến?” “Tôi nghĩ ông chỉ biết cách nhận ra họ.” Điện thoại Trầm Chu rung. Anh nhìn màn hình rồi tắt ngay. Tôi chỉ kịp thấy người gọi được lưu là viện điều dưỡng. “Anh không nghe sao?” “Không cần.” Nhưng năm phút sau, anh ra hành lang gọi lại. Qua lớp cửa kính, tôi thấy anh nói rất ít, phần lớn chỉ im lặng. Khi trở vào, vẻ mặt anh đã trở về bình thản. Gia Dật lấy được thêm một đoạn. Giọng nữ nói: “Nếu Trầm Chu quay lại...” rồi nhiễu kéo dài nuốt mất phần sau. Chiếc ghế dưới tay anh đổ ra sau. Tôi chưa từng nói tên anh trong cửa hàng kể từ lúc cuộn băng chạy. Gia Dật cũng không. Vậy mà giọng nói từ bảy năm trước vừa gọi chính xác hai chữ ấy. Trầm Chu cúi nhặt ghế, động tác chậm hơn bình thường. “Bây giờ anh vẫn nói không liên quan sao?” tôi hỏi. Anh nhìn cuộn băng đang quay, ánh mắt tối lại. “Tôi chỉ biết một điều. Người phụ nữ đó từng dùng đúng câu ấy trong một bức thư gửi tôi.” “Mẹ anh?” Anh không trả lời. Ngoài cửa hàng, mưa vẫn rơi kín phố. Trong máy, đoạn băng chạy đến cuối, chỉ còn tiếng chuông báo sương vang ba nhịp rồi im bặt. Chúng tôi đã mở được chiếc vali. Nhưng thay vì tìm thấy chủ nhân, chúng tôi nghe thấy nó gọi tên người đang đứng trước mặt tôi.