Khi tôi đến bến, cửa kho mở toang. Dải niêm phong bị cắt gọn. Các giá đồ đã được chuyển gần hết sang xe tải. Ngăn tủ cuối trống rỗng. Chiếc vali đỏ biến mất. La Nhược Bình đứng dưới mái che, cầm bảng kê. Ông nói việc di chuyển được thực hiện theo lệnh khẩn cấp vì hệ thống hút ẩm của kho hỏng. “Tôi không nhận được thông báo kiểm tra hỏng hóc,” tôi nói. “Cô đã bị tạm đình chỉ.” “Nhưng tôi vẫn là người có tên trong biên bản niêm phong.” Ông chỉ vào chữ ký điện tử của Trầm Chu trên màn hình. “Đại diện dự án đã phê duyệt.” Tôi gọi lại cho anh. Vẫn tắt máy. Trên xe không có vali. Nhân viên nói nó được một xe riêng mang đi trước. Không ai nhớ biển số, chỉ biết lệnh yêu cầu chuyển thẳng đến kho mới. Tôi chạy sang kho mới cách đó hai con phố. Cửa khóa. Người trực đêm kiểm tra danh sách rồi khẳng định chưa nhận chiếc vali nào. Tôi quay về kho cũ lúc gần hai giờ. Dưới chân tủ sắt còn một miếng sáp niêm phong vỡ và vệt bùn kéo về cửa sau. Tôi chụp lại, lưu giờ, xin bảo vệ trích xuất danh sách người ra vào. Sau đó tôi tháo thẻ tên trên ngực, đặt cạnh chùm chìa khóa. La Nhược Bình hỏi: “Cô làm gì vậy?” “Trả thứ ông muốn.” Tôi viết đơn rời vị trí quản lý kho, nhưng ghi rõ quyền yêu cầu điều tra thất lạc vật chứng vẫn được bảo lưu. Tôi không bỏ cuộc. Tôi chỉ không tiếp tục đứng trong một chức danh có thể bị người khác khóa lại bất cứ lúc nào. Trầm Chu xuất hiện khi trời gần sáng. Môi anh rách một đường nhỏ, điện thoại vỡ màn hình. Anh nói trên đường đến văn phòng công chứng đã bị một xe va quệt, túi hồ sơ bị lấy mất. Anh không bị thương nặng, nhưng phải làm việc với cảnh sát nên điện thoại tắt. Lệnh chuyển kho dùng chữ ký điện tử từ phiên đăng nhập của anh. “Tôi đã không ký lệnh đó,” anh nói. “Chiếc vali mất rồi,” tôi nói. “Tôi sẽ tìm.” “Không phải anh. Chúng ta.” Anh khựng lại. “Tôi không cần anh cứu những gì tôi đã giữ. Tôi cần anh ngừng quyết định một mình.” Trầm Chu gật đầu. “Được.” Chỉ một chữ, không biện minh. Gia Dật đến mang theo hộp dụng cụ. Anh cúi xem dấu sáp, vết bùn rồi kiểm tra ngăn tủ. Ở mép khóa có một vết cào mới. “Người mở biết chìa không còn ở đây nên dùng dụng cụ,” anh nói. “Nhưng cái tủ này có hai lớp. Họ chỉ lấy được vali ở ngăn ngoài.” Gia Dật tháo tấm lót đáy. Bên dưới là một hốc mỏng chứa bản sao giấy gửi giữ và một mảnh đồng nhỏ. Mảnh đồng có ba vết giũa, đúng kiểu dấu sửa cha tôi thường để trên những ổ khóa ông đã làm. Mặt sau khắc ngày của chuyến phà cuối. Giấy gửi giữ bị ép giữa hai lớp vải dầu nên còn nguyên. Người gửi là Cố Lam Chi. Người nhận giữ là Tạ Minh Viễn. Sáu cuộn băng, vé phà, máy nghe và ô xanh được gửi tạm cho kho; không chuyển giao nếu thiếu xác nhận của người gửi hoặc những người ghi trong phụ lục. Phần phụ lục không có trong hốc. Chữ ký cha tôi ở đây khác chữ ký trên biên bản La Nhược Bình đưa ra. Nét cuối trong giấy gửi giữ kéo lên, còn biên bản kéo ngang. Gia Dật giải thích sau tai nạn cổ tay cha tôi yếu, từ đó nét ký thay đổi. Biên bản bị ghi ngày sau tai nạn nhưng lại dùng kiểu chữ trước đó. Tôi nhìn mảnh đồng trong tay, cuối cùng hiểu cha không tự ý lấy vali. Cố Lam Chi đã gửi nó cho ông giữ. Ông sửa khóa để bảo vệ đúng thỏa thuận, rồi giấu bản sao ở nơi người chỉ biết lấy vali sẽ không tìm thấy. Trầm Chu gọi tổ an ninh mạng kiểm tra phiên đăng nhập. Lệnh giả được tạo từ máy tính phòng bàn giao lúc anh đang ở văn phòng công chứng. Người mở phiên dùng mã xác nhận lấy từ tệp hồ sơ bị mất, nhưng địa chỉ máy thuộc tài khoản phụ trách của La Nhược Bình. Chưa đủ để kết luận ông trực tiếp mang vali đi. Tuy nhiên, đủ để khóa quyền di chuyển tài sản và dừng lễ bàn giao sáng hôm sau. Tôi đối chiếu danh sách xe. Có một xe bảo trì không ghi biển số, đăng ký điểm đến là nhà kho cũ của công ty vận tải ven sông. Người phê duyệt tuyến là La Nhược Bình. Trầm Chu muốn gọi cảnh sát ngay. Tôi ngăn anh. “Nếu ông ta đã chuyển tiếp, chúng ta chỉ tìm thấy kho trống.” “Cô có cách?” “Tôi có quy tắc nhận đồ.” Trong bảy năm, mọi người đến nhận vali đều được hỏi về ba tiếng chuông. La Nhược Bình biết câu hỏi, nhưng ông luôn khẳng định đêm ấy không có chuông. Nếu muốn mở khóa đồng mà không phá, ông cần người biết cơ cấu ba nhịp. Gia Dật là người duy nhất ngoài tôi vừa chứng minh được cách mở. Gia Dật hiểu ý, lập tức gọi cho La Nhược Bình. Anh nói mình còn giữ chìa phụ và có thể giúp mở vali đổi lấy tiền. Cuộc gọi bật loa, nhưng không ghi âm bí mật. Chúng tôi cần ông tự đưa ra điểm hẹn, sau đó chuyển thông tin cho cảnh sát. La Nhược Bình im lặng vài giây rồi đáp: “Đến kho ven sông trước sáu giờ. Đi một mình.” Chúng tôi đã có địa điểm. Cảnh sát tìm thấy chiếc vali trong tủ sắt của nhà kho cũ. Niêm phong ngoài bị bóc, nhưng khóa đồng chưa mở. La Nhược Bình không có mặt. Một người trông kho nói ông chỉ gửi đồ, dặn chờ kỹ thuật viên. Khi chiếc vali được trả lại, tôi không nhận về nhà. Tôi lập biên bản mới, đặt nó dưới quyền giám sát của văn phòng công chứng và yêu cầu mọi lần mở phải có tôi, Trầm Chu cùng Cố Lam Chi hoặc người bà ủy quyền. Trầm Chu ký không do dự. “Còn đơn nghỉ của cô?” anh hỏi. “Vẫn có hiệu lực.” “Kho cần cô.” “Tôi không muốn được cần chỉ vì không ai khác biết giữ chìa khóa.” Anh cúi mắt. “Tôi hiểu.” “Anh chưa hiểu hết. Nhưng ít nhất anh đang nghe.” Trời sáng dần trên sông. Tôi hiểu quyền của mình không nằm ở chùm chìa khóa. Nó nằm trong việc biết quy tắc, giữ bằng chứng và dám bước khỏi vị trí người khác dùng để kiểm soát mình. Điện thoại Trầm Chu rung. Một tin nhắn từ viện điều dưỡng hiện lên. Cố Lam Chi sẽ đến lễ bàn giao. Bà chỉ yêu cầu một việc: chưa ai được mở cuộn băng cuối trước khi bà có mặt.