Sáng hôm sau, ổ khóa mới vẫn nằm trên bậc cửa. Tôi nhắn cho Trạch Ngôn một câu: Tôi đồng ý nhận ổ khóa, nhưng tôi tự lắp. Anh trả lời gần như ngay lập tức: Được. Trong bao có hướng dẫn. Không hỏi vì sao. Không bảo tôi vụng. Không xuất hiện với hộp dụng cụ trên tay. Một thay đổi nhỏ đến mức nếu là trước đây, tôi sẽ không nhận ra. Bây giờ tôi nhìn chữ “được” rất lâu rồi mới cất điện thoại. Việc cấp bách hơn là lịch chiếu. Ba trường trong khu phố đã đăng ký đưa học sinh đến xem chương trình phim ngắn về lịch sử Hàng Châu. Văn phòng nhà họ Thẩm gửi thông báo rằng toàn bộ lịch phải tạm dừng cho đến khi kế hoạch sự kiện liên hôn được thống nhất. Tôi không gọi Trạch Ngôn. Tôi mang hồ sơ đăng ký đến trung tâm sinh hoạt của khu phố, tìm cô Phùng Nhã Chi, người phụ trách các hoạt động cộng đồng. Cô xem từng trang rồi hỏi Tân Quang có đủ thiết bị an toàn, nhân sự hướng dẫn và quyền sử dụng phòng chiếu hay không. Tôi trả lời điều mình chắc chắn, đánh dấu điều còn thiếu và xin ba ngày bổ sung. Không nhắc mười hai năm với nhà họ Thẩm. Không kể chuyện tôi vừa chuyển khỏi căn phòng quen thuộc. Một lịch chiếu phải được giữ bằng năng lực vận hành, không phải bằng sự thương hại. Ba ngày ấy, chúng tôi làm từ sáng tới khuya. Tạ Hòa Bình kiểm từng đèn thoát hiểm. Chú Duy Khang sửa tay vịn. Tôi nhờ các hộ trong ngõ ký xác nhận rằng họ muốn chương trình tiếp tục, rồi cùng cô bán mì đầu ngõ đo lại lối đi để trẻ con không chen với khách ăn trưa. Đến buổi kiểm tra, hệ thống thông gió vẫn phát ra tiếng rít. Tôi đứng trước đoàn kiểm tra, thừa nhận chưa đạt và đề xuất giới hạn số người cho hai suất đầu, mở thêm cửa phụ, đặt quạt mượn từ nhà văn hóa. Cô Phùng Nhã Chi không gật đầu ngay. “Cô chịu trách nhiệm nếu có người phàn nàn?” “Tôi chịu trách nhiệm về phương án tôi ký. Nếu thông gió không đạt mức đã cam kết, tôi tự hủy suất chiếu.” Chiều hôm đó, giấy chấp thuận tạm thời được gửi đến. Ba trường giữ nguyên lịch. Tên người phụ trách trên giấy là Lâm Vãn Ninh, không phải đại diện nhà họ Thẩm. Tôi dán bản sao ở quầy vé. Chú Duy Khang đọc to từng dòng như công bố kết quả thi. Cô bán mì mang sang một nồi chè đậu xanh. Mấy đứa trẻ đứng ngoài cửa hỏi bao giờ được chọn ghế. Một bà cụ từng bán vé cùng mẹ tôi nắm tay tôi. “Rạp này mở được không phải vì nhà nào cho phép,” bà nói. “Nó mở được vì có người chịu đứng đây khi ai cũng tưởng cửa đã đóng.” Tôi nhìn tờ giấy trên tường, cảm giác chiếc túi áo trống nơi từng đựng chìa khóa không còn đáng sợ như mấy hôm trước. Trạch Ngôn đến khi mọi người đang chia chè. Anh đứng ngoài cửa, trên tay là một hộp linh kiện cho hệ thống thông gió. Chú Duy Khang định gọi anh vào, nhưng tôi bước ra trước. “Anh mua cái này?” “Không. Nhà cung cấp còn nợ một bộ sau lần sửa mái. Anh lấy từ kho theo phiếu cũ.” “Phiếu đứng tên ai?” “Đội sửa chữa Tân Quang.” Tôi kiểm tờ giấy anh đưa. Không có khoản tài trợ mới, không có điều kiện đi kèm. “Cảm ơn,” tôi nói. “Để đội tôi tự lắp.” “Anh có thể giúp.” “Anh đang hỏi hay đang thông báo?” Trạch Ngôn khựng lại. “Anh đang hỏi.” “Tôi từ chối hôm nay.” Anh gật đầu, đặt hộp xuống. Nhưng khi nhìn thấy giấy chấp thuận trên tường, ánh mắt anh dừng lại. “Em không cần tự chịu mọi rủi ro.” “Tôi không tự chịu. Cả đội cùng ký phần việc của họ.” “Vãn Ninh, nếu có sự cố, tên em là tên đầu tiên bị gọi.” “Vì tôi là người phụ trách.” “Anh có thể yêu cầu văn phòng gia đình đứng tên cùng.” Tôi bật cười, nhưng không thấy vui. “Đó chính là điều anh chưa hiểu.” Chúng tôi đi vào phòng chiếu để tránh mọi người nghe thấy. Hàng ghế đỏ còn phủ bụi ở hai dãy cuối. Trạch Ngôn đứng cạnh ghế số mười bảy, nơi chúng tôi từng ngồi xem bộ phim đầu tiên khi còn thiếu niên. “Anh chỉ muốn em có chỗ dựa,” anh nói. “Tôi đã dựa vào anh quá lâu. Đến mức khi ông nội anh dùng rạp cho một cuộc liên hôn, phản ứng đầu tiên của tôi là nhìn anh và chờ anh xử lý.” “Anh sẽ không để ông làm thế.” “Nhưng anh vẫn nói ‘sẽ’. Còn hiện tại, anh đã đồng ý gặp Kỷ Minh Tâm, đã để người ta chuẩn bị buổi công bố, rồi muốn đứng tên cùng tôi để gánh rủi ro. Anh đang cố giữ mọi phía yên ổn.” Hàm anh siết lại. “Em muốn anh lập tức từ bỏ trách nhiệm với gia đình?” “Tôi muốn anh đừng gọi sự trì hoãn là trách nhiệm.” Câu nói rơi giữa căn phòng trống. Trạch Ngôn nói chậm, đúng như mỗi lần anh thật sự giận. “Còn em? Em trả chìa khóa, chuyển đi và tự nhận mọi việc. Em có đang lựa chọn không, hay chỉ chạy về phía ngược lại để chứng minh mình không cần ai?” Tôi muốn phản bác ngay. Nhưng ổ khóa trên cửa sổ, nồi chè ngoài sảnh và chữ ký của cả đội hiện lên trong đầu. Có những giúp đỡ tôi đã nhận. Chỉ không phải từ một người quyết định thay tất cả. “Tôi đang học cách phân biệt,” tôi nói. “Giữa được giúp và bị sắp đặt.” “Anh cũng cần thời gian để phân biệt.” “Thời gian của anh đang dùng ngày mở cửa của chúng tôi làm đồng hồ.” Trạch Ngôn nhìn tôi rất lâu. Sau cùng, anh lấy điện thoại, gọi cho người phụ trách sự kiện ngay trước mặt tôi. Anh nói tấm bảng liên hôn không được đưa vào Tân Quang khi chưa có chấp thuận bằng văn bản của đội vận hành. Giọng anh bình tĩnh, không viện chức vụ, chỉ nhắc đúng văn bản tôi đã gửi và yêu cầu phản hồi bằng văn bản. Cuộc gọi kết thúc, anh không hỏi tôi đã hài lòng chưa. “Đây là phần anh có thể quyết định hôm nay,” anh nói. Tôi gật đầu. “Còn phần liên hôn?” “Anh chưa có câu trả lời đủ thành thật.” “Vậy khi nào có, hãy nói. Đừng mang bữa sáng thay cho câu trả lời.” Khóe môi anh động nhẹ, nhưng không thành cười. Trạch Ngôn rời đi mà không bước qua khu vực đội tôi đang làm. Tối đó, chúng tôi lắp xong bộ phận thông gió. Tiếng rít biến mất sau lần thử thứ ba. Khi tắt đèn phòng chiếu, tôi đi ngang ghế số mười bảy. Một ký ức cũ thoáng qua: hai đứa trẻ chia đôi tấm vé, hẹn sau này dù rạp thuộc về ai cũng sẽ quay lại ngồi cùng chỗ. Tôi vẫn giữ phần giấy của mình trong một hộp nhỏ. Nhưng ký ức chỉ chứng minh chúng tôi từng ở cạnh nhau. Nó không thể quyết định chúng tôi phải trở thành ai.