Năm ngày trước cuộc họp quyết định tương lai Tân Quang, Kỷ Minh Tâm mang đến một bản biên bản. Cô đặt nó trước mặt tôi, không che dòng nào. Nội dung ghi rõ cuộc liên hôn là điều kiện để Trạch Ngôn được xác nhận quyền kế nhiệm trong gia đình. Rạp Tân Quang được chọn làm công cụ hình ảnh cho cam kết giữa hai bên. Ở trang cuối có chữ ký của Kỷ Minh Tâm, chữ ký của Thẩm Trạch Ngôn và dòng xác nhận đồng ý nguyên tắc. Tôi đọc lại ba lần. “Anh ấy ký khi nào?” “Trước cuộc họp đầu tiên mà cô được báo về liên hôn,” Kỷ Minh Tâm nói. “Tôi ký để được quyền xem toàn bộ điều kiện. Sau đó tôi yêu cầu sửa, nhưng không ai phản hồi.” Tôi nhớ câu Trạch Ngôn từng nói: anh chưa đồng ý ngày công bố. Anh đã lựa chọn từng chữ rất cẩn thận để không nói rằng mình chưa ký. “Vì sao bây giờ cô mới đưa?” “Bản này thuộc hồ sơ kín của gia đình. Tôi đã nghĩ có thể thương lượng từ bên trong. Tôi sai. Khi họ dùng giấy ủy quyền của cô, im lặng của tôi không còn là thận trọng nữa.” Tôi chụp lại biên bản rồi gọi Trạch Ngôn đến. Anh đọc tin nhắn và có mặt sau nửa giờ. Tôi đặt bản giấy giữa bàn. “Anh đã ký.” “Đúng.” Không giải thích trước. Không phủ nhận. “Vậy những lần anh nói chưa quyết định là gì?” “Anh đã ký đồng ý nguyên tắc để giữ quyền tham gia đàm phán. Anh nghĩ nếu rời khỏi bàn, ông nội sẽ quyết định mọi thứ mà không cần anh.” “Anh giữ ghế ở bàn bằng cách để tên tôi và rạp nằm trong điều kiện.” “Anh đã yêu cầu bỏ Tân Quang.” “Nhưng anh không nói với tôi rằng anh đã ký.” Trạch Ngôn cúi đầu. “Anh sợ nếu nói ra, em sẽ rời đi trước khi anh sửa được.” “Và tôi đã rời đi vì anh không nói.” Anh không xin tôi tha thứ. Điều đó tốt hơn một lời xin lỗi vội, nhưng không làm vết nứt nhỏ lại. “Tôi tin việc anh giữ nửa vé,” tôi nói. “Tôi tin anh đã từ chối biến rạp thành quà. Nhưng anh vẫn chọn giữ quyền kế nhiệm trước rồi mới tìm cách giữ tôi sau. Tôi chưa thể coi hai việc ấy như chưa xảy ra.” “Anh hiểu.” “Không, anh chỉ vừa nghe.” Tôi thu bản chụp lại. “Hiểu hay không phải xem anh làm gì khi không còn quyền quyết định thay kết quả.” Sau khi Trạch Ngôn rời đi, tôi cùng Kỷ Minh Tâm và cô Phùng Nhã Chi xây phương án tự quản cho Tân Quang. Ba nhóm sẽ có quyền biểu quyết ngang nhau: người lao động, đại diện khu phố và nhóm khán giả đăng ký. Mọi ủy quyền phải ghi thời hạn, phạm vi và có quyền thu hồi. Nhà tài trợ được công khai số tiền nhưng không được đổi tên rạp hoặc nội dung hoạt động. Đổi lại, chúng tôi phải chấp nhận mất toàn bộ khoản hỗ trợ còn lại từ nhà họ Thẩm. Tôi tính lại ngân sách. Không có khoản đó, rạp chỉ có thể mở ba ngày mỗi tuần trong sáu tháng đầu. Tôi cắt lương của mình xuống mức thấp nhất, nhưng không cắt phần công còn nợ đội. Kỷ Minh Tâm đề nghị quỹ thư viện của cô mua suất chiếu cho trẻ em theo giá công khai. “Tôi không nhận tài trợ đổi lấy phiếu biểu quyết,” tôi nói. “Không ai đề nghị phiếu. Tôi mua dịch vụ như mọi đối tác khác.” Chúng tôi ghi điều đó thành điều khoản đầu tiên. Tôi đi từng nhà trong ngõ để giải thích phương án. Có người không tin một rạp nhỏ có thể sống mà thiếu nhà họ Thẩm. Có người đồng ý góp phí thành viên. Có người chỉ hứa mua vé mỗi tháng một lần. Tôi ghi tất cả con số thật, kể cả những khoảng trống. Cuối ngày, chúng tôi có đủ chữ ký để yêu cầu một cuộc bỏ phiếu cộng đồng. Tôi gửi phương án cho Trạch Ngôn với một dòng: Anh được xem như một cư dân từng gắn bó với rạp, không phải người có quyền phê duyệt. Anh trả lời: Anh hiểu. Anh sẽ cung cấp những hồ sơ mình có quyền cung cấp, còn quyết định thuộc về cuộc bỏ phiếu. Tôi không biết anh sẽ chịu mất đến đâu khi thực hiện lời đó. Tôi cũng chưa biết mình có thể yêu anh sau khi đã thấy chữ ký kia hay không. Nhưng lần đầu tiên, tương lai Tân Quang không nằm trong câu trả lời của anh. Nó nằm trên những tờ phương án tôi tự mang đi gõ cửa từng nhà.