Sáng hôm sau, tôi mở kho sách bằng chiếc chìa khóa bà Tần giao. Hoài Cẩn đã đứng ngoài cửa sau, tay cầm máy đo độ ẩm và một tập giấy trắng. Anh không tự tiện bước qua ngưỡng. “Phần sàn gần cửa sổ yếu,” anh nói. “Em cho phép anh vào kiểm tra chứ?” Tôi tránh sang bên. “Chỉ kiểm tra kết cấu. Đừng chuyển sách khi chưa hỏi tôi.” “Được.” Cách anh hỏi khiến tôi vừa nhẹ nhõm vừa khó chịu. Ngày trước, Hoài Cẩn chưa bao giờ cần xin phép để bước vào tiệm. Anh biết chìa khóa dự phòng nằm dưới chậu hoa, biết ngăn nào có bánh quế bà Tần giấu trẻ con, thậm chí biết tôi thường ngồi ở bậc thang thứ ba khi buồn. Ba năm xa cách đã biến từng thói quen thành một ranh giới phải gọi tên. Kho sau chật đến mức hai người tránh nhau cũng khó. Tôi lập danh mục từng thùng sách, còn anh đánh dấu vị trí nứt trên sơ đồ. Khi tôi định kéo một hòm từ sát tường, Hoài Cẩn đưa tay ra rồi dừng giữa chừng. “Hòm đó nặng.” “Tôi biết.” “Anh giữ một đầu được không?” Tôi gật đầu. Chúng tôi cùng nhấc, không ai giành phần của người kia. Dưới hòm là một hộp gỗ nhỏ phủ bụi. Bên trong có hơn trăm thẻ mượn sách cũ, mỗi thẻ đóng hình chim én xanh ở góc phải. Tôi nhặt một tấm lên. Tên người mượn đã nhòe, nhưng mặt sau ghi bằng bút chì: “Đọc xong thì kể cho em nghe kết thúc.” Nét chữ là của tôi năm mười hai tuổi. Hoài Cẩn nhìn thấy, khóe môi hơi cong. “Em không bao giờ chịu đọc đoạn buồn.” “Còn anh luôn kể khác đi.” “Vì em khóc rất lâu.” “Tôi khóc vì anh kể dở.” Câu đáp bật ra tự nhiên đến mức cả hai cùng im lặng. Trong một nhịp ngắn, căn kho trở lại thành nơi chúng tôi từng ngồi sát nhau giữa mùi giấy cũ. Rồi tiếng máy đo báo động kéo tôi về hiện tại. Hoài Cẩn chỉ lên trần. Độ ẩm ở góc xà cao hơn mức an toàn. Anh giải thích bằng những từ đơn giản: nếu mưa tiếp tục, phần gỗ đã mục có thể võng xuống; chúng tôi phải chuyển sách khỏi khu vực đó trước tối. “Tôi gọi người của thư viện,” tôi nói. “Họ có thể đến kịp không?” “Ba giờ chiều.” “Anh có hai đồng nghiệp đang ở gần đây, nhưng họ chỉ tham gia nếu em đồng ý.” Tôi nhìn đống thùng còn lại. “Gọi họ. Mọi sách phải được ghi mã trước khi chuyển.” Hoài Cẩn gửi tin nhắn ngay trước mặt tôi. Anh không nói kiểu “để anh lo”, câu từng khiến tôi cảm thấy mình mãi là đứa trẻ đi sau anh. Anh hỏi quy trình, viết từng bước lên giấy rồi dán ở cửa kho cho mọi người cùng làm. Đến trưa, Đỗ Minh Kha xuất hiện trong bộ áo khoác không dính một giọt mưa. Anh ta đại diện công ty đã mua dãy nhà và có quyền quyết định hợp đồng cải tạo. Minh Kha không vòng vo. “Cô Tống, chúng tôi có thể hỗ trợ chi phí chuyển kho nếu tiệm bàn giao sớm mười ngày.” Bà Tần mời anh ta trà, nhưng Minh Kha chỉ đặt danh thiếp lên quầy. “Tòa nhà này không còn hiệu quả,” anh ta nói. “Một cửa hàng phục vụ miễn phí không thể trả nổi chi phí sửa chữa.” “Tính hiệu quả không chỉ nằm ở tiền bán sách,” tôi đáp. “Vậy cô chứng minh bằng số liệu.” Anh ta đẩy cho tôi một bản đề nghị. Số tiền đủ để bà Tần thuê một căn phòng nhỏ trong hai năm. Đổi lại, chúng tôi phải từ bỏ mọi yêu cầu giữ chức năng cộng đồng tại địa điểm mới. Bà Tần nhìn con số rất lâu. Tôi hiểu vì sao. Bà đã dùng tiền tiết kiệm để giữ tiệm suốt nhiều năm. Một lời kêu gọi tình cảm không thể trả hóa đơn cho bà. “Tôi cần bảy ngày đã ghi trong biên bản,” tôi nói. Minh Kha quay sang Hoài Cẩn. “Kiến trúc sư Lục, báo cáo của anh đủ để đóng khu nhà ngay hôm nay.” “Đủ để đóng kho sau,” Hoài Cẩn đáp. “Không đủ để rút lại thời hạn kiểm kê gian trước.” “Anh đang đứng về phía họ?” “Trong hồ sơ này, tôi đứng về phía dữ kiện.” Hoài Cẩn không bảo vệ tôi bằng một màn đối đầu. Anh chỉ giữ đúng giới hạn đã ký, dù điều đó khiến người trả phí tư vấn không hài lòng. Minh Kha thu danh thiếp lại, nói sẽ quay lại vào ngày niêm phong, rồi rời đi. Sau khi anh ta đi, bà Tần hỏi nhỏ: “Nếu không cứu được căn nhà, cháu còn muốn làm tiếp không?” Tôi nhìn những thẻ mượn sách trải kín bàn. Chúng ghi tên học sinh, người giao hàng, công nhân về hưu và những bà mẹ từng đưa con đến tránh nóng. Đó là bằng chứng tiệm không chỉ thuộc về ký ức của ba chúng tôi. “Có,” tôi nói. “Nhưng chúng ta phải tìm cách để nơi này sống mà không bắt bà tiếp tục bù lỗ.” Hoài Cẩn đặt trước mặt tôi một bảng thống kê trống. “Số lượt mượn, giờ hoạt động miễn phí, người sử dụng thường xuyên, và những dịch vụ khu phố đang thiếu. Em phụ trách dữ liệu cộng đồng. Anh phụ trách chi phí và không gian.” “Tại sao anh chuẩn bị sẵn?” “Vì anh đã nghĩ đến phương án này trước khi về.” Tôi nhớ góc giấy hình chim én trong ống bản vẽ. “Vậy tại sao anh không gửi cho tôi từ đầu?” Anh siết nhẹ cây bút. “Vì bản đầu tiên có một điều kiện không công bằng với em.” “Điều kiện gì?” “Anh chưa thể nói khi nó vẫn còn trong hồ sơ của người khác.” Tôi không chấp nhận câu trả lời ấy, nhưng trước khi hỏi tiếp, một tấm thẻ rơi khỏi đáy hộp. Nó không có tên người mượn. Mặt trước chỉ đóng con dấu chim én, mặt sau ghi một dãy số tủ. Tôi đi theo dãy số đến chiếc tủ gỗ cạnh cầu thang. Ngăn kéo tương ứng đã trống, chỉ còn một vệt hình chữ nhật trên lớp bụi, như thể có người vừa lấy đi một phong thư hoặc cuốn sổ mỏng. Hoài Cẩn đứng cách tôi hai bước. Anh không nhìn ngăn kéo. Anh nhìn tấm thẻ trong tay tôi. “Thứ anh còn giữ,” tôi hỏi, “đã từng nằm ở đây đúng không?” Anh trả lời sau một khoảng lặng. “Đúng.” Tôi đặt tấm thẻ vào túi hồ sơ kiểm kê. “Ngày niêm phong, anh mang nó đến. Lần này, quyền quyết định đọc hay không thuộc về tôi.” Hoài Cẩn gật đầu. “Anh hiểu.” Buổi chiều, chúng tôi chuyển hết sách khỏi khu vực nguy hiểm trước khi mưa lớn. Khi thùng cuối cùng được đặt xuống gian trước, tôi đóng con dấu chim én lên danh mục mới. Mực xanh in rõ trên giấy trắng, giống một lời xác nhận rằng những gì từng thuộc về quá khứ vẫn có thể được ghi lại bằng quy tắc của hiện tại.