Tôi phát hiện điều khoản bị xóa vào một buổi chiều mất điện. Căn nhà cưới tối dần từ bốn giờ, còn điện thoại của Kỷ Trầm Chu không liên lạc được. Tô Vãn Ninh là tôi phải tìm nến trong ngăn kéo phòng khách. Khi kéo ngăn dưới cùng, một bìa hồ sơ rơi xuống sàn. Bản hôn ước nằm bên trong. Tôi vốn không định đọc. Mười tháng qua, tôi đã thuộc gần hết các điều khoản. Nhưng dưới ánh sáng điện thoại, một đường mực đen hiện ra bên cạnh dòng bồi thường nếu rút lui trước hạn. Điều khoản ấy bị gạch bỏ. Bên lề có chữ ký của Trầm Chu và ngày tháng trùng với ngày đăng ký kết hôn. Tôi ngồi xuống sàn. Nếu dòng này bị xóa từ ngày đầu, tại sao anh không nói? Tại sao suốt mười tháng, anh vẫn để tôi tin rằng rời đi sẽ khiến một trong hai người phải trả giá? Tại sao mỗi lần anh hỏi tôi có muốn ở lại không, tôi lại tưởng đó chỉ là phép lịch sự của người biết tôi chưa đủ khả năng gánh khoản bồi thường? Điện sáng trở lại. Căn phòng bỗng rõ đến chói mắt. Tôi gọi cho luật sư độc lập từng xem hồ sơ trước khi đăng ký kết hôn. Chị ấy xác nhận đã nhận một phụ lục do Trầm Chu ký, trong đó anh đơn phương từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường. Phụ lục có hiệu lực từ ngày chúng tôi đăng ký, dù hai gia đình chưa ký lại toàn bộ bản hôn ước. “Anh ấy dặn tôi chỉ được báo nếu cô hỏi trực tiếp,” chị nói. “Tại sao?” “Vì anh ấy không muốn việc mình từ bỏ quyền lợi trở thành lý do khiến cô thấy mắc nợ.” Tôi cúp máy, nhìn những đường mực đen. Trầm Chu về lúc gần bảy giờ. Áo sơ mi anh ướt mưa, mái tóc dính vào trán. Anh thấy tôi ngồi cạnh bàn với bản hôn ước mở sẵn thì dừng lại. “Em đã đọc.” “Ừ.” “Anh giải thích đi.” Anh đặt chìa khóa xuống. “Điều khoản bồi thường không còn ràng buộc em.” “Em biết đọc.” “Vậy em muốn hỏi gì?” Tôi bật dậy. “Tại sao anh giấu?” “Anh không giấu. Bản sửa đổi vẫn ở đây.” “Trong ngăn kéo mà em không bao giờ mở.” “Em có thể hỏi luật sư bất cứ lúc nào.” “Anh biết em sẽ không hỏi.” Trầm Chu im lặng. Sự im lặng ấy chính là câu trả lời. Tôi đẩy bản giấy về phía anh. “Ngày đầu tiên anh đã xóa điều khoản giữ em lại. Vậy tại sao anh vẫn chuyển vào đây?” “Vì anh đã đồng ý sống cùng em mười hai tháng.” “Đó vẫn là nghĩa vụ.” “Ban đầu là vậy.” Hai chữ ban đầu khiến tim tôi đập nhanh. “Sau đó thì sao?” Anh nhìn tôi, nhưng không bước lại gần. “Sau đó anh không còn làm mọi việc vì bản hôn ước.” “Từ lúc nào?” “Anh không biết.” “Anh là người ghi ngày trên mọi tài liệu.” “Tình cảm không có ngày hiệu lực.” Tôi cười, mắt nóng lên. “Nhưng anh lại cho nó một ngày hết hạn.” “Anh chưa từng làm vậy.” “Chúng ta chỉ còn hai tháng.” “Thời hạn của hôn ước còn hai tháng. Không phải thời hạn của lựa chọn.” Anh nói câu đó rất bình tĩnh, như thể sự khác biệt quá rõ. Với tôi, chúng luôn chồng lên nhau. Tôi không biết một bữa sáng bắt đầu từ trách nhiệm đã trở thành tự nguyện lúc nào. Không biết một lần chờ dưới mưa thuộc về người chồng trên giấy hay người đàn ông muốn tôi về nhà. “Anh có yêu em không?” Tôi hỏi. Đây là lần đầu tiên tôi nói thẳng. Trầm Chu siết tay. “Nếu anh trả lời có, em sẽ ở lại vì muốn ở lại, hay vì sợ từ chối một người đã làm nhiều việc cho em?” “Anh đừng quyết định thay em.” “Anh đang cố không làm vậy.” “Bằng cách giữ em trong khoảng trống này?” “Bằng cách để em biết mình không nợ anh.” Tôi cầm bản hôn ước lên. “Anh xóa một điều khoản mà không nói, rồi vẫn chăm sóc em, vẫn đứng về phía em. Anh nghĩ như vậy em sẽ không thấy mắc nợ sao?” “Ít nhất em có thể rời đi mà không mất gì.” “Anh sai rồi.” Giọng tôi vỡ ra. Tôi đã mất khả năng tin vào những tháng ngày vừa qua. Khi còn khoản bồi thường, tôi có thể gọi mọi thứ là nghĩa vụ. Khi biết khoản đó không tồn tại, tôi buộc phải nhìn lại từng bữa cơm, từng cốc trà, từng đêm anh ngồi ngoài cửa phòng. Nếu không có điều khoản nào giữ anh ở lại, có nghĩa anh đã tự chọn. Và nếu anh tự chọn, có nghĩa tôi đã bỏ lỡ lời đáp suốt mười tháng chỉ vì nó không được nói thành lời. Trầm Chu bước đến một bước rồi dừng. “Vãn Ninh.” “Đừng lại gần.” Anh lập tức dừng hẳn. Tôi ghét việc ngay cả lúc đó, anh vẫn tôn trọng mọi ranh giới tôi đặt ra. “Em cần thời gian.” “Được.” “Anh đừng ngủ ở đây tối nay.” “Được.” Anh lấy chìa khóa xe. Trước khi đi, anh đặt chiếc cốc trắng đã được thay quai lên bàn. “Tối mai anh sẽ quay lại lấy đồ nếu em đồng ý.” “Đây là nhà của anh.” “Không. Đây là nơi chúng ta đã đồng ý sống cùng. Nếu một người muốn người kia rời đi, quy tắc của chúng ta nói phải mở cửa trước khi hỏi lý do.” Tôi nhớ dòng chữ chính anh viết trong đêm đầu tiên. Anh mở cửa bước ra, để chìa khóa căn nhà trên kệ. Tôi đứng một mình giữa phòng khách. Bản hôn ước mở trước mặt, những đường gạch đen chia nó thành nhiều khoảng trắng. Tôi đã tưởng điều khoản là chiếc lồng. Nhưng người đàn ông ấy đã mở cửa lồng từ ngày đầu, còn tôi vẫn ngồi bên trong vì không hề biết. Đêm đó, tôi lật từng trang và phát hiện không chỉ khoản bồi thường bị xóa. Điều khoản bắt buộc xuất hiện trước gia đình đã được sửa thành “chỉ khi cả hai cùng đồng ý”. Điều khoản sống chung có thêm một dòng cho phép bất kỳ bên nào yêu cầu không gian riêng mà không cần giải thích. Trầm Chu đã dùng hôn ước để tháo hôn ước. Tôi nhắn cho anh một câu: “Ngày mai về nói chuyện.” Anh trả lời sau vài giây: “Nếu em vẫn muốn.” Tôi nhìn bốn chữ ấy rất lâu. Mười tháng qua, anh không ở lại vì bị ràng buộc. Mỗi ngày anh đều hỏi bằng một cách khác rằng tôi có cho phép anh ở lại hay không. Còn tôi, vì sợ yêu một người chồng theo nghĩa vụ, đã chưa từng thật sự trả lời.