“Cô muốn giữ bí mật, hay muốn giữ chính mình?” Cố Trạch Xuyên hỏi tôi câu ấy vào lúc ba giờ mười bảy phút chiều, khi mưa đập lên mái kính của phòng phục chế như hàng nghìn đầu kim nhỏ. Trước mặt tôi, lớp lót chiếc áo cưới đã được tháo gần hết. Những mũi chỉ đỏ son chạy trên nền lụa ngà, ngoằn ngoèo thành một bản đồ mà tôi từng đi qua suốt tuổi thơ nhưng đã cố quên gần hai mươi năm. Tôi cầm chiếc kim bạc của mẹ. Mũi kim lạnh đến mức đầu ngón tay tê buốt. Sau lớp kính quan sát, Cố Trạch Xuyên đang chờ quyết định. Trên bàn, phong thư đã ố vàng vẫn còn đóng. Chỉ cần rạch mép giấy, tôi có thể biết mẹ đã viết gì trước khi biến mất khỏi đời tôi. Chỉ cần gật đầu, bảo tàng sẽ biến mọi thứ thành câu chuyện hấp dẫn nhất mùa mưa năm ấy. Cố Trạch Xuyên ngồi sau kính, cách tôi một vách ngăn. Anh không chạm được vào chiếc áo, cũng không chạm được vào tôi. Anh chỉ bật bộ đàm rồi nói: “Không ai có quyền bắt cô mở lá thư. Kể cả người đã viết nó.” Tôi nhìn đường chỉ đỏ, nhớ lại buổi sáng ba tuần trước, khi chiếc áo cưới vô danh được đưa đến Bảo tàng Dệt Vân Thành trong một trận mưa lớn. Hôm đó, hệ thống cảnh báo độ ẩm réo từ bảy giờ bốn mươi. Tôi vừa bước vào phòng phục chế đã thấy hai nhân viên vận chuyển đứng cạnh một thùng gỗ dài, nước từ áo mưa của họ nhỏ thành vũng trên sàn. Trên nắp thùng chỉ có một tờ phiếu gửi đồ, phần người gửi để trống, phần hiện vật ghi bằng mực đen: áo cưới lụa thêu tay, niên đại chưa xác định, đề nghị trưng bày trong triển lãm cuối mùa mưa. Tôi hỏi: “Ai nhận hiện vật không có hồ sơ nguồn gốc thế này?” Một giọng phụ nữ vang lên sau lưng: “Tôi.” Lục Mạn Thanh bước vào, giày cao gót không hề trượt dù nền đá còn ướt. Chị ta là phó giám tuyển trẻ nhất của bảo tàng, nổi tiếng vì có thể biến một chiếc cúc áo thành chủ đề thảo luận suốt ba ngày trên mạng. Chị đặt tập hồ sơ mỏng đến đáng ngờ lên bàn tôi. “Chủ sở hữu hiến tặng có điều kiện. Chúng ta được phục chế, nghiên cứu và trưng bày. Danh tính sẽ công bố sau.” “Tôi cần chuỗi lưu giữ, tình trạng trước vận chuyển, môi trường bảo quản cũ và xác nhận quyền sở hữu.” “Tống Vãn Ninh, triển lãm còn hai mươi mốt ngày.” “Lụa không biết xem lịch truyền thông.” Lục Mạn Thanh khoanh tay. “Nhưng nhà tài trợ thì biết.” Tôi không thích câu đó. Vải cổ có một ưu điểm hơn con người: nó không nói dối giỏi. Một thớ sợi giòn sẽ gãy dưới ánh sáng xiên. Một vết mốc từng bị lau sẽ để lại quầng. Một mũi khâu mới dù cố bắt chước đến đâu vẫn căng khác mũi cũ. Chỉ cần đủ kiên nhẫn, vật liệu sẽ kể đúng chuyện đã xảy ra với nó. Con người thường không tử tế như vậy. Tôi yêu cầu mở thùng dưới camera bảo tồn. Chiếc áo nằm giữa các lớp giấy không axit, màu lụa ngà đã trầm xuống như ánh trăng qua mây. Trên thân áo là những cành hải đường thêu bằng chỉ tơ xám xanh, cánh hoa chỉ điểm một chút đỏ son ở nhụy. Kiểu dáng không quá cổ, có lẽ khoảng ba mươi năm, nhưng kỹ thuật thêu tinh tế đến mức từng đường cong của cánh hoa vẫn có độ chuyển sáng.