Mái kính bắt đầu hát khi cơn gió thứ ba quật qua quảng trường. Âm thanh ấy không giống tiếng kính nứt. Nó mỏng, cao và kéo dài, như có ai miết một ngón tay ướt quanh miệng ly khổng lồ. Dưới chân tôi, sàn bảo trì rung lên từng nhịp. Mưa đập vào mặt ngoài mái vòm, trượt thành những dòng bạc méo mó dưới ánh đèn khẩn cấp. Một con chim non đang bám vào vành kính cách tôi chưa đầy ba mét. Bộ lông ướt ép sát thân, đôi cánh run bần bật. Phía sau nó là khoảng tối đầy gió. Phía dưới là đại sảnh đã sơ tán, sâu đến mức chiếc đèn pin rơi khỏi tay chắc phải mất rất lâu mới chạm nền. Qua bộ đàm, giọng Kiều Dịch Thần vang lên, bình tĩnh đến đáng giận. “Hạ Linh, nhìn bảng điều khiển. Chúng ta chỉ còn một lần chuyển trạng thái. Đóng cửa, tải gió sẽ giảm nhưng hành lang bay biến mất. Mở hành lang, đàn chim có đường ra nhưng vành phía đông phải chịu thêm bốn mươi giây. Cô chọn đi.” Bàn tay tôi đặt trên hai nút sáng. Một nút đỏ. Một nút hổ phách. “Anh có giữ được mái không?” tôi hỏi. “Tôi giữ phần của tôi. Cô quyết định phần của cô.” Con chim non trượt xuống nửa gang tay. Dây an toàn màu cam siết ngang hông tôi. Ở đầu bên kia lớp kính, bóng Dịch Thần đứng trước cụm neo, một tay giữ cần khóa, tay còn lại ra hiệu rằng anh đã sẵn sàng. Mái kính lại cất tiếng ngân. Tôi hít vào, đưa ngón tay về phía bảng điều khiển. Bốn ngày trước, tôi còn nghĩ điều nguy hiểm nhất rơi xuống từ mái Vân Tước chỉ là một con chim bị thương. Sáng hôm đó, Tần Nhược Chi đặt chiếc hộp giấy lên bàn khám của tôi rồi lùi lại, hai tay vẫn cầm nguyên áo mưa đang nhỏ nước. “Quà sáng,” cô ấy nói. “Có cánh, có móng, tính khí tệ hơn cậu lúc chưa uống cà phê.” Một con yến trưởng thành nằm trong lớp khăn mềm. Cánh trái của nó xệ xuống, mắt vẫn mở và phản ứng nhanh. Tôi che bớt ánh sáng, kiểm tra hô hấp, sờ dọc xương cánh. Không gãy. Có một vết rách nông ở màng cánh và vài hạt trong suốt mắc giữa những sợi lông ngực. Tôi dùng nhíp gắp một hạt đặt lên khay thép. Nó không phải cát. Dưới kính phóng đại, cạnh hạt sắc và ánh xanh nhạt. “Bụi kính cường lực,” tôi nói. Nhược Chi chống hai tay lên bàn. “Người giao chim bảo nhặt được ở phố Nam Kính, sau trận mưa đá tối qua. Khu ấy có sáu tòa nhà kính. Cậu định hỏi từng cửa sổ à?” Tôi xoay chiếc hộp. Ở đáy có một tờ hóa đơn ướt nhòe của quầy bánh trong quảng trường Vân Tước. Người nhặt chim đã ghi số điện thoại phía sau. Tôi gọi. Ông ấy xác nhận con chim rơi ngay cạnh cửa giao hàng phía bắc của quảng trường, nơi mái vòm lớn nối hai dãy phố mua sắm. “Vết cắt còn mới,” tôi nói. “Nếu nó bay qua vùng có kính vỡ, có thể còn những con khác.” Nhược Chi nhìn đồng hồ rồi nhìn tôi. “Tớ biết ánh mắt đó. Ít nhất ăn nửa cái bánh trước khi đi cứu cả bầu trời.” Tôi cắn hai miếng trong lúc chuẩn bị túi sơ cứu, lồng vận chuyển, ống nhòm và áo khoác xanh rêu. Đó là nhượng bộ lớn nhất tôi dành cho bữa sáng. Sau trận mưa đá, Tinh Châu sạch một cách bất thường. Nước mưa cuốn bụi khỏi những hàng cây, nhưng trên mặt đường vẫn lấp lánh vụn kính từ biển quảng cáo và ban công. Quảng trường Vân Tước nằm giữa phố Nam Kính như một giọt nước khổng lồ úp ngược. Mái vòm của nó nối ba khối nhà, cao sáu tầng, gồm hàng nghìn tấm kính tam giác ghép trên khung thép trắng. Khi tôi tới nơi, toàn bộ cửa phía bắc đã bị chặn. Dải băng cảnh báo đỏ kéo từ cột này sang cột khác. Bảo vệ yêu cầu tôi đứng ngoài, nhưng tiếng chim kêu vọng từ trên cao xuống khiến tôi ngẩng lên. Dưới những thanh ngang gần đỉnh vòm có hàng chục chiếc tổ nhỏ màu đất. Một vài con trưởng thành lao qua vùng sáng, đổi hướng gấp khi đến gần một mảng kính rạn. Trên nền đá phía trong, lông chim lẫn với những hạt kính nhỏ giống hệt thứ tôi vừa lấy khỏi con yến. Một người đàn ông mặc áo khoác kỹ sư màu than đang đứng trên thang nâng, dùng đèn quét dọc mối nối. Dây đai an toàn ôm gọn vai và lưng. Anh nói gì đó qua bộ đàm, rồi thang hạ xuống. Vừa bước khỏi sàn nâng, anh đã nhìn thấy tôi đứng sát dải băng. “Lùi khỏi đường biên hai mét,” anh nói. “Tôi đến từ Trạm cứu hộ Dã Vũ. Trên mái có đàn yến đang làm tổ.” “Tôi biết có chim.” “Anh biết có bao nhiêu tổ đang hoạt động không?” Anh nhìn lên mái, không trả lời ngay. Sự im lặng của anh khiến tôi hiểu thành một câu trả lời khác: số tổ không nằm trong bảng tính của anh. “Tôi là Kiều Dịch Thần, phụ trách đánh giá kết cấu,” anh nói. “Vùng phía bắc đang có nguy cơ rơi kính thứ cấp. Bác sĩ Du không được qua vạch.” “Con chim tôi tiếp nhận bị bụi kính cắt cánh. Nếu có chim non, việc phong tỏa đường bay có thể khiến chim bố mẹ lao vào kính nhiều hơn.” “Tôi chưa phong tỏa đường bay. Tôi phong tỏa người.” Một người đàn ông cầm bộ đàm đi nhanh từ trong sảnh ra. La Cảnh Du, quản lý vận hành quảng trường, tự giới thiệu trong lúc điện thoại vẫn rung liên tục trong túi áo. Tôi cũng nói tên mình là Du Hạ Linh, bác sĩ thú y phụ trách cứu hộ chim hoang dã tại Trạm Dã Vũ. Anh ta nói khu phía bắc đã đóng từ đêm, ba cửa hàng không thể giao hàng, hai đơn vị thuê đang đòi thời hạn mở lại. Nhà thầu kính sẽ tới vào chiều và phương án nhanh nhất là giăng lưới, di chuyển tổ rồi tháo các tấm hỏng. “Tuyệt đối không di tổ hàng loạt lúc này,” tôi nói. “Có chim non chưa đủ lông. Chim trưởng thành có thể bỏ tổ nếu bị xáo trộn sai cách.” Cảnh Du cau mày. “Nếu kính rơi, tổ cũng không còn.” “Tôi không phủ nhận nguy cơ cho người. Tôi yêu cầu đánh giá tập tính trước khi chọn cách xử lý.” Dịch Thần bước tới giữa chúng tôi. “Hai người tranh luận ngoài vùng đỏ. Không ai vào trong khi chưa có mũ và dây.” “Tôi cần nhìn gần.” “Không.” “Tôi biết cách tiếp cận chim bị thương.” “Còn tôi biết tấm kính phía trên cô đang mang một vết nứt dài một mét hai.” Tôi ghét cách anh nói, gọn đến mức không chừa chỗ cho người khác tham gia quyết định. Tôi cũng ghét việc mắt mình vô thức nhìn theo hướng anh chỉ và thấy vết nứt thật, mảnh như sợi tóc nhưng kéo dài qua hai cạnh kính. “Cho tôi hai giờ quan sát từ khu an toàn,” tôi nói. “Không di tổ, không đóng lưới. Sau hai giờ, tôi đưa bản đồ đường bay và số tổ hoạt động. Anh đưa cho tôi bản đồ vùng rủi ro. Chúng ta mới bàn phương án.” Dịch Thần nhìn Cảnh Du. Quản lý La nhấc điện thoại lên như muốn dùng nó làm bằng chứng cho từng phút thiệt hại. “Hai giờ,” Cảnh Du nói. “Không hơn.” Dịch Thần mở một thùng thiết bị, lấy ra mũ bảo hộ và dây đai màu cam. Anh đặt chúng lên bàn gấp trước mặt tôi. “Cô đứng ở vạch vàng. Muốn bước lên sàn bảo trì phải có người giám sát và khóa đủ hai móc.” “Tôi chỉ quan sát.” “Vậy cô sẽ không cần tranh luận về dây.” Tôi đội mũ, nhưng không chạm vào bộ dây. Trong đầu tôi, kỹ sư vẫn là kiểu người nhìn một mái vòm rồi chỉ thấy tải trọng, hệ số và những thứ có thể loại bỏ để phương trình gọn hơn. Trong đầu anh, có lẽ tôi là kiểu bác sĩ sẵn sàng đặt một con chim lên trên an toàn của cả khu phố. Hai giờ sau, cả hai chúng tôi đều phát hiện mình đã đánh giá đối phương quá đơn giản. Tôi đếm được ba mươi bảy tổ, trong đó mười một tổ có chim non. Đường bay chính đi qua cửa thông gió phía đông, vòng quanh một dải đèn quảng cáo rồi ra cửa bắc. Mưa đá làm hai tấm kính rạn, nhưng hoạt động sửa chữa đêm trước mới là thứ khiến đàn chim rối loạn: nhà thầu đã kéo rèm chắn bụi màu trắng, biến vùng tối quen thuộc thành một mặt sáng phản chiếu. Việc đếm không đơn giản như nhìn lên rồi ghi số. Mỗi tổ phải được theo dõi đủ lâu để phân biệt tổ đang nuôi con với tổ cũ chỉ còn bùn khô. Tôi chia mái thành mười hai ô, đánh dấu giờ chim trưởng thành mang thức ăn về và hướng chúng rời đi. Nhược Chi đặt điện thoại trên giá ba chân, cứ năm phút lại đọc thời gian để tôi khỏi cúi xuống sổ. Hai lần, tiếng khoan của nhà thầu làm cả đàn tách khỏi vòng bay. Dịch Thần nghe tôi phàn nàn, không yêu cầu tôi chứng minh thêm. Anh cho dừng khoan mười phút, rồi bố trí việc gia cố sang khu khuất mái. Đổi lại, tôi phải chấp nhận điểm quan sát anh chọn. Vị trí ấy thấp hơn chỗ tôi muốn, một thanh dầm che mất ba tổ phía đông. Anh gọi thang nâng tới nhưng không cho nâng người. Thay vào đó, anh gắn một camera đầu dài lên giỏ thang, điều khiển nó tới dưới mép dầm rồi truyền hình ảnh về máy tính bảng của tôi. “Không cần người đi vào nếu thiết bị nhìn được,” anh nói. “Tôi thường tin mắt mình hơn camera.” “Camera không bị kính rơi vào đầu.” Hình ảnh rung nhẹ nhưng đủ rõ để tôi thấy ba chiếc mỏ nhỏ cùng ngẩng lên. Tôi ghi thêm một tổ hoạt động vào bản đồ. Không phải giải pháp của anh hoàn hảo, nhưng nó bảo toàn cả dữ liệu tôi cần lẫn giới hạn an toàn anh chịu trách nhiệm. Tôi bắt đầu hiểu năng lực của Dịch Thần không chỉ nằm trong những con số. Anh biết biến một điều cấm thành một con đường khác. Trong khi đó, Dịch Thần đánh dấu sáu tấm cần giảm tải ngay, hai cụm neo phải kiểm tra và một hành lang dưới mái có thể cho phép người cứu hộ tiếp cận mà không đi qua vùng đỏ. Anh dùng búa cao su gõ từng thanh nối, đặt cảm biến lên các điểm nghi ngờ rồi chụp dấu sơn để theo dõi độ dịch chuyển. Mỗi lần anh ra hiệu, kỹ thuật viên đều nhắc lại câu lệnh trước khi thao tác. Trên công trường của anh, sự im lặng chỉ dành cho lúc tính toán; mệnh lệnh liên quan đến an toàn luôn phải được xác nhận thành tiếng. Anh không đề xuất tháo cả mái. Anh yêu cầu dựng chống tạm ở vòng ngoài trước khi bất cứ ai chạm vào tổ. Khi Cảnh Du hỏi có thể tháo riêng hai tấm rạn ngay không, Dịch Thần chỉ lên thanh đỡ đi qua vùng tổ dày nhất. “Tháo bây giờ sẽ đổi đường truyền lực khi chúng ta chưa có chống tạm,” anh nói. “Nhanh hơn chưa chắc sớm hơn. Nếu phải dừng giữa chừng, khu này đóng lâu gấp đôi.” Tôi nhìn anh thêm một lần. Người đàn ông tôi vừa quy thành kẻ chỉ biết loại bỏ biến số lại là người đầu tiên ngăn phương án tháo kính vội vàng. Khi chúng tôi đặt hai bản đồ cạnh nhau, những vùng quan trọng gần như chồng lên nhau. “Đường bay của cô đi qua cụm neo số bốn,” anh nói. “Vùng an toàn của anh chặn đúng cửa chim bố mẹ dùng nhiều nhất.” “Vậy phải tạo đường khác.” “Không thể chỉ bật một ngọn đèn rồi bảo chúng đi theo.” “Tôi chưa bảo thế.” “Ánh mắt anh vừa bảo.” Lần đầu tiên, khóe miệng Dịch Thần động nhẹ. “Ánh mắt tôi thiếu giấy phép hành nghề thú y.” Nhược Chi vừa tới nơi với ba cốc cà phê, nghe được câu đó liền đưa một cốc cho anh. “Kỹ sư Kiều có tiến bộ. Biết tự chẩn đoán.” Dự báo mới xuất hiện lúc gần trưa. Một áp thấp ngoài Tịch Lam đổi hướng, có khả năng mang theo dông mạnh và gió giật tới Tinh Châu trong ba ngày. Màn hình trong phòng vận hành hiện một vòng xoáy màu đỏ tiến dần về thành phố. Dịch Thần phóng mô hình mái vòm lên tường. “Nếu gió đúng hướng này, các tấm rạn không phải vấn đề duy nhất. Vành phía đông sẽ nhận tải hút lớn hơn bình thường. Chúng ta cần chống tạm, thay hai neo và mở đường thoát khí có kiểm soát.” Cảnh Du hỏi: “Bao lâu?” “Bảy mươi hai giờ nếu vật tư đến đúng lúc.” “Tôi không có bảy mươi hai giờ để thử nghiệm với chim.” “Tôi cần ít nhất từng đó để làm mái an toàn,” Dịch Thần đáp. Cảnh Du đi một vòng quanh bàn, cuối cùng đặt bộ đàm xuống. “Được. Bảy mươi hai giờ. Nếu trước sáu giờ tối ngày thứ ba không có phương án đã thử, tôi cho đóng toàn bộ khe, giăng lưới phía trong và tháo khu kính hỏng. Tôi không để khách thuê, nhân viên hay người đi đường chịu rủi ro vì chúng ta không dám quyết.” Tôi muốn phản đối cụm từ “không dám quyết”, nhưng Dịch Thần đã hỏi thẳng: “Nếu phải tạo hành lang tạm, chim cần những điều kiện gì?” Tôi mở sổ. “Ít phản quang. Không có chuyển động đột ngột. Ánh sáng phải giảm theo nhịp, không bật tắt cùng lúc. Lối ra đủ rộng để đàn trưởng thành quay đầu. Và không dùng thuốc an thần cho cả đàn.” “Tôi không định dùng thuốc.” “Nhà thầu có đề xuất.” “Trong vùng tôi phụ trách, họ không được làm nếu cô không đồng ý.” Đó là câu đầu tiên của anh khiến tôi dừng lại. Không phải vì anh đứng về phía tôi, mà vì anh đã xác định rõ ranh giới chuyên môn của tôi. Chúng tôi bắt đầu bằng một hành lang tối làm từ khung nhôm nhẹ và rèm xám, chạy dọc mép vùng vàng tới cửa thoát phía đông. Tôi đề nghị dùng đèn hổ phách vì bước sóng dịu hơn với chim. Dịch Thần gắn từng cụm đèn vào một bảng điều khiển có sáu công tắc riêng. Anh còn đặt cảm biến tải trên khung để nếu gió đổi, hệ thống sẽ báo trước khi rèm trở thành một cánh buồm. Chiều xuống, chúng tôi tắt dãy đèn quảng cáo, mở cửa lối ra và chờ. Con yến đầu tiên bay khỏi tổ, lượn một vòng rồi lao về hành lang. Nó đến gần tấm rèm, nhìn thấy ánh phản quang trên khung nhôm và bẻ góc đột ngột. Hai con khác làm theo. Cả đàn xoáy lên dưới đỉnh vòm, tiếng cánh dồn dập như mưa rơi trong nhà. “Giảm đèn số ba,” tôi nói. Dịch Thần gạt công tắc. Vùng giữa tối hơn. Một con chim thử lại, nhưng đến cửa vẫn quay đầu. “Có lẽ độ sáng chưa đúng,” anh nói. “Không chỉ ánh sáng.” Tôi bước dọc vạch vàng, quan sát những dải rèm. Khi quạt thông gió phía nam khởi động, rèm gần cửa rung nhẹ. Ngay lúc đó, ba con chim đổi hướng cùng nhau. Quạt dừng, chúng lại vòng về mái. Tôi yêu cầu bật quạt lần nữa. Dịch Thần không hỏi tại sao. Anh gọi phòng máy. Luồng khí chạy qua, tấm rèm phồng lên, đàn chim nghiêng cánh gần như đồng thời. “Chúng đang đọc gió,” tôi nói. “Đèn chỉ giúp chúng tránh vật cản. Thứ dẫn đường là luồng khí.” Dịch Thần nhìn mô hình trên máy tính bảng. “Hành lang của chúng ta đang là túi khí kín. Tôi có thể mở một khe thử ở chân rèm, nhưng phải chặn người ở cửa phía đông.” Cảnh Du lập tức phản đối. “Mở thêm bất cứ thứ gì lúc kết cấu chưa rõ là không được.” “Một khe rộng mười hai phân, nằm dưới cao độ nguy hiểm và có khung giữ,” Dịch Thần nói. “Tôi chịu trách nhiệm.” Tôi thêm: “Chúng ta thử năm phút. Nếu đàn hoảng, đóng lại ngay.” Sau một cuộc tranh luận đủ dài để Nhược Chi uống hết cốc cà phê thứ hai, Cảnh Du đồng ý. Khe vừa mở, tấm rèm hướng về cửa thoát như một lá cờ. Một con yến lượn thấp, chạm đúng dòng khí rồi lao xuyên hành lang. Con thứ hai theo sau. Con thứ ba mang một mẩu cỏ khô trong mỏ, do dự hai vòng mới đi qua. Ba con, không hơn. Nhưng khi chúng quay lại theo đúng lối cũ, tôi nghe Nhược Chi reo nhỏ phía sau. Dịch Thần không reo. Anh chỉ nhìn đường biểu diễn tải trên màn hình, rồi đưa cho tôi xem con số vẫn nằm trong giới hạn. “Luồng khí của cô hoạt động,” anh nói. “Cái khe của anh tạo ra nó.” “Vậy tạm coi là hòa.” Đó là phần thưởng đầu tiên sau gần mười giờ căng thẳng: không phải ba con chim được cứu, bởi chúng vốn vẫn có thể bay, mà là việc chúng tôi tìm được một ngôn ngữ chung giữa tập tính và kết cấu. Tối hôm ấy, khi nhà thầu lắp chống tạm ở vòng ngoài, một tấm kính phía đông đột nhiên phát tiếng ngân. Âm thanh mảnh và kéo dài khiến tất cả cùng ngẩng lên. Nó giống hệt tiếng tôi sẽ nghe trong cơn bão bốn ngày sau, dù lúc đó tôi chưa biết. Phó Minh Triết, thợ kính trưởng, đặt lòng bàn tay lên thanh thép gần nhất. “Không phải tiếng nứt,” ông nói. “Giống gió chạy qua chai rỗng.” Dịch Thần yêu cầu dừng toàn bộ máy. Đại sảnh im xuống. Tiếng ngân biến mất khi quạt thông gió ngừng, rồi trở lại yếu hơn lúc cửa giao hàng mở. “Cộng hưởng,” anh nói. “Một khoảng hở nào đó đang biến luồng khí thành dao động. Tôi cần kiểm tra vành kính.” Tôi nhìn lên những tấm kính ghép thành vòng cung. “Nó có làm mái sập không?” “Chưa đủ dữ liệu để trả lời.” Sự im lặng sau câu đó làm tôi bực hơn một lời từ chối. “Anh có thể nói rõ mức rủi ro không?” “Tôi vừa nói là chưa đủ dữ liệu.” “Không. Anh nói một câu khiến tất cả phải tự tưởng tượng phần còn lại.” Anh nhìn tôi một lúc. “Được. Hiện tại, dao động ở dưới ngưỡng gây hỏng neo. Nếu gió tăng gấp ba và tần số trùng với vành phía đông, rủi ro sẽ tăng. Tôi chưa biết tăng bao nhiêu. Vì vậy không ai lên sàn bảo trì cho đến khi có cảm biến bổ sung.” Câu giải thích ấy không làm nguy cơ nhỏ đi, nhưng khiến tôi biết mình đang đứng ở đâu. Tôi gật đầu. Đêm trực đầu tiên, chúng tôi ngồi trên bậc thềm của một quầy ăn đã đóng cửa. Nhược Chi mang tới bốn hộp cơm, nhưng Cảnh Du vừa nghe điện thoại vừa cầm hộp đi mất. Phó Minh Triết ngủ trên ghế gấp. Chỉ còn tôi và Dịch Thần ngồi dưới mái vòm tối, chia nhau một túi củ cải muối vì hộp của anh không có phần đó. “Anh luôn ăn nhanh thế à?” tôi hỏi. “Ở công trường, món ăn nguội nhanh hơn người.” “Đó không phải câu trả lời.” “Cô luôn hỏi lại thế à?” “Ở trạm cứu hộ, bệnh nhân không tự khai triệu chứng.” Anh đưa nốt túi củ cải cho tôi. “Tôi chọn kết cấu vì một cây cầu cũ ở quê từng bị đóng sau bão. Người lớn bảo nó vẫn đứng, vậy là an toàn. Ba ngày sau, một nhịp cầu rơi xuống sông. Không ai bị thương, nhưng tôi nhớ cảm giác những câu khẳng định chắc chắn hóa ra chỉ là thói quen.” Tôi không ngờ anh kể điều ấy. “Vậy nên anh chỉ nói khi đủ dữ liệu?” “Và đôi khi không nói gì lâu hơn mức cần thiết.” “Người khác sẽ tưởng anh đã quyết định xong.” “Cô chẳng phải đã tưởng như vậy sao?” Tôi thừa nhận bằng cách ăn thêm một miếng cơm. Đến lượt mình, tôi kể về con chim bói cá đầu tiên tôi cứu khi còn thực tập. Tôi đã giữ nó trong lồng thêm hai ngày vì sợ vết thương chưa lành hẳn. Khi thả ra, nó bay yếu vì căng thẳng và va vào lưới. Người hướng dẫn khi ấy nói một câu tôi chưa bao giờ quên: cứu hộ không phải giữ một sinh vật bên mình cho đến khi ta hết sợ. Cứu hộ là trả lại lựa chọn ngay khi nó đủ khả năng chọn. “Vì vậy cô không cho di tổ,” Dịch Thần nói. “Vì vậy tôi không cho bất kỳ ai quyết thay đàn chim chỉ để chúng ta bớt lo. Nếu buộc phải di chuyển để tránh chết, tôi sẽ làm. Nhưng phải là lựa chọn cuối cùng, không phải lựa chọn tiện nhất.” Anh gật đầu. “Còn ranh giới của tôi là không ai vào vùng đỏ khi chưa có dây và người giám sát. Kể cả bác sĩ rất giỏi thuyết phục chim.” “Tôi không thuyết phục chim.” “Cô vừa thuyết phục ba con dùng một hành lang do người dựng.” “Tôi đưa gió cho chúng. Chúng tự chọn.” Anh nhìn lên mái. “Khác biệt quan trọng.” Sáng ngày thứ hai, khác biệt ấy bị thử thách. Cảnh Du cho nhà thầu mang tới những cuộn lưới lớn. Anh ta nói chưa lắp, chỉ chuẩn bị. Nhưng việc những cuộn lưới nằm ngay cửa bắc khiến tôi thấy như đồng hồ đã nhảy nhanh thêm vài giờ. Cùng lúc, đại diện các cửa hàng kéo đến phòng vận hành, yêu cầu mở ít nhất lối đi phía tây. Một chủ quán cho rằng vài tổ chim không thể khiến hàng trăm người nghỉ việc. Một người khác quay video, hỏi tại sao quảng trường không “dọn sạch” mái từ đầu. Cảnh Du tắt bộ đàm, day trán. “Tôi không ghét chim. Nhưng tiền bảo hiểm, tiền thuê và lương nhân viên không bay đi rồi mùa sau quay lại.” “Tôi hiểu,” tôi nói. “Cho chúng tôi hết hôm nay.” “Bác sĩ Du, cô có thể hứa đàn chim sẽ đi theo đường mới không?” “Không.” “Còn kỹ sư Kiều có thể hứa mái chịu được bão không?” Dịch Thần đáp: “Không ai có chuyên môn nên hứa điều tuyệt đối.” Cảnh Du cười khô. “Hai người hợp nhau ở chỗ làm quản lý mất ngủ.” Anh ta cho chúng tôi đến sáu giờ chiều để chứng minh hành lang có thể vận hành ở quy mô lớn hơn. Nếu thất bại, lưới sẽ được lắp ngay trong đêm. Nhược Chi đặt ba camera nhỏ quanh mái, ghi lại từng lần chim ra vào. Gần trưa, cô gọi tôi đến xem một đoạn tua chậm. Trong video, một con trưởng thành không đi về cửa bắc như phần lớn đàn. Nó lượn sát vành phía đông, biến mất sau tấm rèm cũ rồi xuất hiện ở bên ngoài chỉ vài giây sau. “Có đường phụ,” Nhược Chi nói. “Tớ kiểm tra sáu đoạn khác, ít nhất tám con dùng nó.” Chúng tôi đi vòng lên tầng kỹ thuật. Sau một biển quảng cáo tháo dở là một khe thông gió cũ, hẹp nhưng nối trực tiếp với khoảng đệm dưới vành kính. Mép khe có phân chim và những sợi cỏ mắc lại. Dịch Thần đo kích thước, kiểm tra khung rồi mở bản vẽ lưu trên máy tính bảng. “Trên bản vẽ cải tạo năm ngoái, khe này được ghi là đã đóng.” “Nhưng nó chưa đóng hoàn toàn,” tôi nói. “Hoặc đã được mở lại do co giãn.” Tôi đứng cách mép đúng vạch anh đánh dấu. Luồng khí mát lướt qua cổ tay. Khi quạt phía nam chạy, dòng khí mạnh lên, kéo thẳng về khe. Chúng tôi không còn chỉ đoán rằng đàn chim đọc gió. Đường phụ là bằng chứng hành vi rõ ràng. Chúng đã dùng chênh lệch áp suất trong mái như một tấm bản đồ vô hình từ trước khi con người dựng hành lang. Dịch Thần lập tức gọi Kiều Tử Du, chuyên viên mô phỏng gió cũng là em họ anh. Tử Du xuất hiện trên màn hình với mái tóc búi vội và giọng nói nhanh như đang đuổi theo từng con số. Sau khi nhận dữ liệu, cô ấy nói nếu nối hành lang tạm với luồng khí ở khe cũ, tải trên rèm sẽ giảm, đồng thời đàn chim có tín hiệu quen thuộc. “Nhưng phải chống vòng ngoài trước,” Tử Du nhấn mạnh. “Anh mà mở bừa, em sẽ tự đến khóa bảng điều khiển.” Dịch Thần đáp: “Em cứ hoàn thành mô hình trước khi đe dọa cấp chỉ huy.” Tử Du nhìn sang tôi trên màn hình. “Bác sĩ Du, nếu anh ấy lại im lặng như tượng, chị cứ hỏi anh ấy đang sợ con số nào. Thường sẽ có ích.” Tôi quay sang Dịch Thần. “Gia đình anh hỗ trợ công việc thật chu đáo.” “Đó là phiên bản lịch sự của việc can thiệp.” “Anh nên biết ơn. Tôi phải mất một đêm mới tự phát hiện.” Đến chiều, chúng tôi dựng lại hành lang. Vòng ngoài được gia cường bằng hai khung đỡ, rèm đổi sang loại mờ không phản chiếu, các đèn hổ phách chia thành sáu vùng. Thay vì mở một khe dưới chân rèm, Dịch Thần nối ống dẫn mềm từ đường thông gió cũ vào đầu hành lang, tạo luồng khí nhẹ hướng ra ngoài. Tôi thiết kế nhịp tắt sáng từ mái xuống cửa, mỗi vùng chậm hơn vùng trước bốn giây. Trước khi thử thật, Dịch Thần bắt cả đội diễn tập một lần không có chim. Nhược Chi cầm đồng hồ, tôi đọc thứ tự đèn, kỹ thuật viên điều chỉnh khí, còn Minh Triết đứng cạnh chốt rèm. Lần đầu, lệnh của tôi tới bảng điều khiển chậm sáu giây vì mọi người đều chờ Dịch Thần nhắc lại. Anh dừng diễn tập. “Trong phần hành vi đàn, lệnh của bác sĩ Du có hiệu lực trực tiếp,” anh nói. “Tôi chỉ can thiệp nếu tải vượt ngưỡng. Đừng biến xác nhận an toàn thành thêm một tầng xin phép.” Lần thứ hai, Minh Triết đóng chốt quá sớm vì nghe nhầm “giữ vùng bốn” thành “tắt vùng bốn”. Chúng tôi đổi cách gọi: mỗi lệnh phải gồm động từ, số vùng và trạng thái mong muốn. “Giữ, vùng bốn, còn sáng.” “Tắt, vùng ba, sau bốn giây.” Cách nói nghe cứng nhắc nhưng loại được khoảng mơ hồ mà một cơn bão sẽ phóng đại. Tôi cũng yêu cầu thử tình huống đàn quay đầu. Nếu ba con liên tiếp va rèm hoặc hơn nửa đàn bỏ hành lang, tôi sẽ hô “trả sáng”, toàn bộ vùng đèn bật lại từ cửa về mái. Dịch Thần thêm tình huống cảm biến mất tín hiệu: cơ cấu giữ nguyên, không tự đóng, để tránh cắt ngang đường bay. Cảnh Du đứng bên ngoài quan sát, cuối cùng hỏi mình có quyền làm gì nếu điện trong khu phố chập chờn. “Anh có quyền sơ tán và cắt nguồn không thiết yếu,” tôi nói. “Và nút dừng toàn bộ cơ cấu,” Dịch Thần bổ sung. “Nhưng trước khi nhấn, anh phải báo một câu trên bộ đàm nếu liên lạc còn hoạt động.” Chúng tôi không chỉ dựng một cái ống cho chim bay. Chúng tôi dựng một chuỗi quyết định đủ rõ để năm người có thể phối hợp khi không ai nhìn thấy toàn bộ hiện trường. Lúc diễn tập lần thứ ba chạy trơn tru, Cảnh Du mới cho mở niêm phong vùng thử. Cảnh Du đứng cạnh nút dừng khẩn cấp. “Mười phút. Tải vượt ngưỡng, chim va rèm hoặc có kính rơi, dừng ngay.” Tôi cầm bảng điều khiển, nhưng Dịch Thần vẫn giữ khóa tổng. Anh nhìn tôi. “Bắt đầu khi cô thấy nhịp đàn ổn.” Tôi chờ một nhóm chim trưởng thành quay về tổ, tránh lúc chúng đang mang thức ăn cho chim non. Khi vòng bay giãn ra, tôi tắt vùng đèn đầu tiên. Bóng tối lan chậm. Đàn chim chuyển hướng. Tôi tắt vùng thứ hai, rồi thứ ba. Luồng khí nâng mép rèm lên rất nhẹ. Con đầu đàn đi vào hành lang. Năm con theo sau. Đến vùng thứ tư, một con quay lại, nhưng những con khác vẫn tiếp tục. Tôi giữ nguyên ánh sáng thay vì vội tắt thêm. Khi vòng bay ổn định, Dịch Thần mở khóa khí thêm một nấc. Trong mười phút, gần nửa đàn dùng hành lang. Không va chạm. Không tiếng kêu hoảng. Đường tải trên màn hình dao động nhưng không vượt vạch vàng. Cảnh Du nhìn từ đàn chim sang chúng tôi. “Phương án này có thể lặp lại trong bão không?” “Chưa,” Dịch Thần nói. “Nhưng có thể phát triển thành phương án vận hành.” Tôi cứ tưởng quản lý La sẽ phản đối chữ “chưa”. Anh ta lại cuộn bản sơ đồ, nói với nhà thầu: “Cất lưới. Chưa tháo khỏi hiện trường, nhưng cất đi.” Đó là một chiến thắng đủ lớn để mọi người thở ra. Và chính vì thế, chúng tôi mất vài giây mới nhận ra khung hành lang vừa nghiêng. Một tiếng kim loại bật khô vang lên. Góc neo phía bắc trượt khỏi dấu sơn kiểm tra gần hai phân. Dịch Thần đập nút dừng. Các rèm tự cuộn lên, đèn sáng đồng loạt. Đàn chim tản ra. Anh yêu cầu tất cả rời khỏi khu vực, rồi quỳ xuống kiểm tra chân neo. “Áp suất đổi khi nửa đàn đi qua không thể tạo lực này,” tôi nói. “Không phải do đàn chim.” Anh chỉ vào vệt xước mới trên bản mã. “Tải động trong ống dẫn truyền sang khung nhiều hơn mô hình. Tôi đã cho phép thử khi chưa đo đủ dao động ngang.” “Không ai bị thương.” “Đó là kết quả, không phải lý do để bỏ qua lỗi.” Anh tự đình chỉ thử nghiệm, niêm phong bảng điều khiển và gửi báo cáo ngay tại chỗ. Cảnh Du nổi giận vì chúng tôi vừa tiêu hết gần một ngày để rồi quay lại điểm bắt đầu. Dịch Thần không biện hộ. Anh nhận trách nhiệm kỹ thuật, yêu cầu thay cụm neo và nói mọi thử nghiệm chỉ tiếp tục sau khi Tử Du chạy lại mô hình. Tôi nhìn anh ký tên dưới biên bản. Một phần trong tôi tôn trọng việc anh không đổ lỗi cho đề xuất dùng luồng khí của tôi. Phần khác nghe câu “đình chỉ toàn bộ” và lập tức nghĩ anh đã quay về phương án đóng kín. Nếu là tôi của một ngày trước, tôi đã tranh luận ngay trước mặt mọi người. Nhưng đêm qua, anh đã nói rõ điểm yếu của mình. Tôi kéo anh ra gần quầy vé trống. “Anh định bỏ hành lang?” tôi hỏi. “Không.” “Anh vừa niêm phong nó.” “Vì neo hiện tại không đủ.” “Vậy phương án tiếp theo là gì?” Anh mở máy tính bảng, cho tôi xem ba sơ đồ. “Một, bỏ ống dẫn và quay lại dẫn sáng, an toàn kết cấu hơn nhưng tỷ lệ đàn chấp nhận thấp. Hai, giữ luồng khí, đổi khung sang hệ treo độc lập; mất tám giờ lắp. Ba, mở khe thông gió cũ rộng hơn và bỏ phần lớn rèm; chưa biết ảnh hưởng tới vành kính nên cần kiểm tra tiếng ngân trước.” “Anh đã chuẩn bị ba lựa chọn?” “Tôi chuẩn bị trong lúc Cảnh Du mắng.” “Anh nên nói trước khi niêm phong.” “Cô nên hỏi trước khi cho rằng tôi đổi ý.” Tôi khoanh tay. “Tôi vừa hỏi.” “Và tôi vừa nói.” Chúng tôi nhìn nhau vài giây, rồi cùng bật cười. Không phải vì tình hình buồn cười. Có lẽ vì lần đầu tiên một hiểu lầm giữa chúng tôi chết nhanh hơn thời gian cần để nó lớn lên. Tôi chọn phản biện phương án hai và ba. Hệ treo độc lập an toàn hơn cho rèm, nhưng việc lắp đặt gần tổ sẽ gây xáo trộn. Mở khe cũ ít thêm vật thể lạ, nhưng chỉ khả thi nếu Dịch Thần chứng minh tiếng ngân không báo hiệu hư hỏng toàn mái. Anh không quyết thay. Anh ghi từng ý, yêu cầu tôi chấm mức ảnh hưởng lên đàn chim, rồi gửi cả hai phương án cho Tử Du và Minh Triết. Buổi chiều, khi kiểm tra một tổ thấp ở vùng vàng, tôi nghe tiếng chim non kêu khác thường. Một con đã bò khỏi miệng tổ, mắc chân vào sợi nhựa. Tôi có thể với tới từ sàn kỹ thuật nếu đi thêm hai bước, nhưng vạch đỏ nằm ngay trước mũi giày. Dịch Thần đang đứng phía dưới với đội lắp neo. Tôi gọi anh. Anh lên cùng một dây phụ, khóa móc vào thanh neo rồi mới cho tôi tiếp cận. “Con non có thể giãy khỏi tổ,” tôi nói. “Tôi cần giữ nó trước, rồi cắt sợi.” “Tấm kính trên trái ổn định trong ba phút. Tôi giữ dây, cô làm việc.” Tôi bò thấp, đưa tay vào dưới bụng con chim. Nó nhỏ đến mức nằm gọn trong lòng bàn tay, da còn lộ dưới lớp lông ống. Khi tôi cắt sợi nhựa, nó đạp mạnh. Mỏ quệt qua găng, còn cổ tay tôi cọ vào cạnh khung sắc. Một đường xước mở ra, máu thấm dưới tay áo. Tôi đặt con non lại tổ, kiểm tra chân nó rồi lùi về vùng vàng. Dịch Thần chỉ buông dây sau khi cả hai móc của tôi đã qua vạch. Anh nhìn vết máu. “Cho tôi xem được không?” Câu hỏi đơn giản khiến tôi ngẩn ra. Tôi gật đầu. Anh tháo găng, mở túi sơ cứu tôi mang theo. Động tác rửa vết xước của anh cẩn thận hơn vẻ ngoài. Khi bông sát trùng chạm da, tôi khẽ rụt tay. “Đau?” “Chỉ xót.” “Tôi quấn băng nhé?” “Được.” Anh không giữ cổ tay tôi lâu hơn cần thiết. Sau khi dán băng, anh ngồi xuống sàn cách tôi một khoảng vừa đủ. “Cây cầu tôi kể tối qua không phải lý do duy nhất,” anh nói. “Năm năm trước, ở một công trình khác, tôi cho một nhóm kiểm tra tiếp tục làm việc vì dữ liệu gió chưa vượt ngưỡng. Một giàn giáo phụ bị lật. Đồng nghiệp của tôi gãy chân. Anh ấy hồi phục, nhưng tôi đã hiểu sai sự thiếu dữ liệu thành bằng chứng rằng mọi thứ vẫn an toàn.” “Vì thế anh muốn ít biến số nhất.” “Ít biến số khiến tôi thấy mình kiểm soát được hậu quả. Nhưng đôi khi cách đó chỉ đẩy hậu quả sang người khác.” Anh nhìn về phía tổ chim. “Tôi không muốn quyết định thay cô. Tôi chỉ không muốn có thêm một người bị thương vì tôi chờ quá lâu.” Tôi nhìn miếng băng trắng trên cổ tay. “Còn tôi cứ tưởng tự mình gánh rủi ro thì không liên lụy ai. Thực ra nếu tôi ngã, cả đội phải dừng để cứu tôi.” “Đúng.” “Anh có thể đừng đồng ý nhanh như thế không?” “Không. Phần này dữ liệu rất rõ.” Tôi bật cười, và anh cũng cười. Dưới mái kính lấm tấm vết mưa, tiếng chim non đòi ăn vang lên. Khoảng cách giữa chúng tôi thay đổi không phải vì một cái chạm tay, mà vì anh đã hỏi trước khi chạm và nói ra nỗi sợ thay vì dùng nó làm mệnh lệnh. Đến rạng sáng ngày thứ ba, dự báo bão thay đổi lần nữa. Vòng áp thấp tăng tốc sau khi vượt cầu Tịch Lam. Thay vì còn hơn một ngày, chúng tôi chỉ có mười hai giờ trước đợt gió đầu tiên. Cảnh Du kích hoạt phương án đóng toàn bộ quảng trường. Cửa cuốn hạ xuống từng khu. Nhân viên được cho về. Nhà thầu lưới quay lại vị trí chờ. Tử Du gửi mô hình mới: hệ treo độc lập có thể chịu được gió, nhưng lắp xong sớm nhất sau mười bốn giờ. Phương án hai không còn kịp. Phương án ba, mở khe cũ, vẫn thiếu dữ liệu về tiếng ngân. Dịch Thần chia đội thành ba nhóm. Minh Triết kiểm tra lớp trám quanh vành kính. Tử Du tiếp tục mô phỏng từ xa. Anh cùng một kỹ thuật viên đặt thêm cảm biến. Tôi và Nhược Chi rà lại từng tổ, xác định con non nào đủ khả năng rời tổ, con nào cần hộp trú tạm nếu mái phải tháo. Chúng tôi làm việc đến mức thời gian biến thành những mốc pin máy ảnh và cốc nước rỗng. Gần trưa, Nhược Chi phát hiện một tổ cuối ở phía tây không xuất hiện trong bản đồ. Camera bị thanh quảng cáo che khuất, nhưng tiếng kêu yếu vọng ra sau lớp rèm. “Chúng ta báo Dịch Thần,” cô ấy nói. Tôi gọi bộ đàm. Không có trả lời. Anh đang ở buồng máy, nơi sóng chập chờn. Cảnh Du thông báo còn bốn mươi phút trước khi đóng vùng vàng để kiểm tra neo lần cuối. Tôi nhìn khoảng cách từ vạch an toàn tới tổ. Chỉ hơn mười mét. Không phải vùng đỏ, tôi tự nói. Chỉ là vùng vàng đang chuẩn bị đóng. Tôi có mũ, có đèn và biết đường. Nhược Chi chặn trước mặt tôi. “Chờ người giám sát.” “Nếu trong tổ có con mắc chân, chúng ta cần biết trước lúc đóng.” “Cậu vừa mất hai ngày để dạy một kỹ sư không quyết thay cậu. Đừng quay sang quyết thay cả đội.” Tôi nghe thấy, nhưng nỗi sợ con chim non bị bỏ lại mạnh hơn sự tỉnh táo. Tôi bảo Nhược Chi đứng ngoài và bước qua vạch. Tổ nằm sâu hơn tôi nghĩ. Tôi phải vòng qua một giàn đèn, cúi dưới thanh chống và leo lên ba bậc thang bảo trì. Khi đến nơi, tôi phát hiện có hai con non khỏe mạnh, không con nào mắc kẹt. Tiếng kêu yếu chỉ vì chim bố mẹ đang ở ngoài kiếm ăn. Đúng lúc ấy, còi cảnh báo vang lên. Cảm biến tải ở cụm neo số bốn mất tín hiệu. Theo quy trình, toàn bộ hệ thống phải dừng, nguồn quạt bị cắt và đội kỹ thuật rút khỏi vị trí cho đến khi xác nhận không có người trong vùng. Nhưng tôi đang ở đó. Mười phút sau, Dịch Thần xuất hiện dưới chân thang. Gương mặt anh không giận dữ. Điều đó còn tệ hơn. “Đứng yên,” anh nói qua bộ đàm. “Tôi đưa dây phụ lên.” “Tôi có thể tự xuống.” “Không. Thanh chống vừa chuyển tải. Cô chờ.” Anh mất gần hai mươi phút để thiết lập đường dây an toàn mới. Khi tôi ra ngoài, đội kiểm tra phải khởi động lại toàn bộ quy trình. Chúng tôi mất hai giờ quý giá trước cơn bão chỉ vì tôi không chờ vài phút để xin phép. Trong phòng vận hành, Dịch Thần tháo thẻ tiếp cận của tôi khỏi bảng phân quyền. “Cho đến khi có kế hoạch mới, cô không vào hiện trường.” “Tôi sai, nhưng anh không thể loại chuyên môn cứu hộ khỏi quyết định.” “Tôi không loại chuyên môn của cô. Cô vẫn phụ trách đánh giá đàn chim và điều khiển từ vùng xanh. Tôi rút quyền vào khu kỹ thuật vì cô vi phạm điều chúng ta đã thống nhất.” “Anh đang phạt tôi.” “Tôi đang giữ ranh giới mà tôi đã nói từ đầu.” Tôi muốn cãi rằng tổ cuối cần được kiểm tra. Nhưng nó không cần. Hai con non khỏe mạnh. Không có hiểm họa tức thời nào biện minh cho lựa chọn của tôi. Tôi đã biến trách nhiệm thành quyền bất chấp, y hệt điều tôi vẫn buộc tội người khác. Nhược Chi đặt thẻ của tôi xuống bàn. “Cậu không tin người khác bảo vệ chim đúng cách nên cậu tự làm tất cả. Nhưng nếu cả hệ thống dừng vì cậu, chim cũng mất đường ra.” Tôi ngồi im. Ngoài cửa kính, mây đen đã trùm lên nửa thành phố. Những tòa nhà phía cầu Tịch Lam mờ dần trong mưa. Dịch Thần không mắng thêm. Anh quay lại hiện trường, để tôi với bản đồ tổ và cảm giác xấu hổ nặng hơn chiếc túi cứu hộ. Khoảng một giờ sau, Phó Minh Triết mang vào một mảnh vật liệu màu xám. Đó là lớp sơn đàn hồi bóc từ mép khe thông gió cũ. “Tôi biết tiếng ngân từ đâu rồi,” ông nói. “Đợt bảo trì mùa đông đã sơn phủ lên khe giãn áp. Bên ngoài nhìn như đường ron, nhưng sơn bít gần kín miệng khe. Gió chỉ còn lách qua một đoạn nhỏ, nên nó mới hú như chai.” Tử Du đang kết nối trên màn hình lập tức yêu cầu đo lại toàn bộ. Minh Triết chỉ rõ dấu sơn mới nằm trên khe cũ, đúng chi tiết chúng tôi đã nhìn thấy từ đêm đầu nhưng chưa hiểu. Dịch Thần nhập kích thước vào mô hình. Đường áp suất trên màn hình thay đổi. “Không phải toàn mái cộng hưởng,” Tử Du nói. “Là khoang phía đông bị giữ áp vì khe thoát bị bít. Nếu mở lại từng đoạn có kiểm soát, tải hút trên vành giảm khoảng mười tám phần trăm.” Dịch Thần phóng to mô hình. “Và luồng khí thoát ra đi đúng hướng hành lang cũ.” Tôi đứng bật dậy. “Đó là đường đàn chim đã dùng.” Mọi mảnh rời cuối cùng nối lại. Sơn bảo trì bịt khe, khiến khoang phía đông giữ áp và phát tiếng ngân. Phần khe còn hở tạo ra luồng khí nhỏ mà chim trưởng thành vẫn nhận ra. Mưa đá làm kính rạn nhưng không phải nguyên nhân duy nhất của rủi ro. Nếu mở khe theo thứ tự, chúng tôi vừa giảm tải cho mái, vừa khôi phục đường bay quen thuộc. Cảnh Du hỏi câu quan trọng nhất: “Mở trong bão có chắc không?” Dịch Thần không im lặng. Anh chỉ thẳng vào ba vùng màu trên mô hình. “Không có phương án chắc tuyệt đối. Nếu giữ kín, áp suất dự kiến vượt ngưỡng ở vành phía đông khi gió đạt cấp cảnh báo. Nếu tháo kính ngay, chúng ta tạo một cửa gió không kiểm soát và phải di tổ. Nếu mở khe theo ba giai đoạn, rủi ro chính là cơ cấu kẹt hoặc đàn chim vào hành lang khi tải đang chuyển. Chúng tôi có thể giảm hai rủi ro đó bằng khóa tay tại chỗ, dây an toàn và quyền dừng độc lập cho cả đội kết cấu lẫn đội cứu hộ.” Anh không nói “hãy tin tôi”. Anh đưa cho mọi người đủ thông tin để tự quyết. Tôi đặt thẻ tiếp cận lên bàn trước mặt anh. “Tôi xin lỗi vì đã vào vùng vàng một mình. Tôi đã làm đúng điều tôi ghét nhất: lấy nỗi sợ của mình làm quyền quyết định thay người khác. Nếu anh cho tôi trở lại, tôi chấp nhận dây an toàn, người giám sát và quyền đóng hành lang của anh. Đổi lại, khi đàn bắt đầu di chuyển, anh để tôi quyết định nhịp mở theo hành vi của chúng.” Dịch Thần nhìn tôi. “Cô có tuân lệnh rút nếu tải vượt ngưỡng không?” “Có.” “Dù còn chim trên vành?” Tôi phải mất một nhịp mới trả lời được. “Có. Tôi sẽ dùng phương án hộp trú sau bão thay vì đổi một mạng người lấy một con chim.” Anh đẩy thẻ lại cho tôi, nhưng không tự gắn nó lên áo. “Cô tự nhận quyền và trách nhiệm của mình.” Tôi cài thẻ vào ngực áo. Sau đó anh đặt bảng điều khiển hành lang sáng trước mặt tôi. “Cô giữ bảng này. Tôi giữ khóa tải tổng. Cảnh Du có quyền sơ tán. Minh Triết có quyền dừng cơ cấu. Bất kỳ ai thấy điều kiện của phần mình không còn đúng đều được hô dừng.” Chúng tôi viết quyết định vận hành lên một tấm bảng lớn. Không phải bản cam kết rằng mọi thứ sẽ thành công, mà là danh sách rủi ro, ngưỡng dừng và quyền của từng người. Cảnh Du ký với tư cách quản lý. Dịch Thần ký trách nhiệm kết cấu. Tôi ký phần cứu hộ. Minh Triết ký cơ cấu. Tử Du xác nhận mô hình từ xa. Trước khi ai rời bàn, Nhược Chi bắt chúng tôi đọc lại toàn bộ theo thứ tự. Ngưỡng vàng là giữ trạng thái và quan sát. Ngưỡng đỏ kéo dài quá ba giây là khóa cơ cấu. Nếu đàn dồn ở vùng bốn, tôi có quyền kéo dài ánh sáng nhưng không được yêu cầu mở thêm khe. Nếu một tổ rơi, đội cứu hộ xử lý từ ray an toàn; không ai rời dây để rút ngắn khoảng cách. Nếu bộ đàm mất liên lạc, tín hiệu tay và số lần giật dây thay thế lời nói. Cảnh Du chỉ vào dòng cho phép sơ tán. “Nếu tôi ra lệnh rút toàn bộ, có ai được ở lại vì cho rằng phần mình sắp xong không?” “Không,” Dịch Thần đáp. Tôi cũng nói: “Không.” Quản lý La nhìn tôi lâu hơn một nhịp, rõ ràng vẫn nhớ hai giờ chúng tôi vừa mất. Tôi không né ánh mắt anh ta. Dịch Thần lấy bộ dây màu cam khỏi thùng, đặt trước mặt tôi. Lần này anh không bắt tôi mặc ngay. Anh giải thích từng điểm neo, giới hạn hành trình của ray và chỗ dây có thể vướng vào cạnh rèm. Tôi tự lặp lại quy trình, rồi thực hành chuyển móc trên một thanh thấp. Ở lần đầu, tay áo tôi kẹt dưới khóa. Anh chỉ vào đó mà không chạm, chờ tôi tự sửa. Lần thứ hai, hai móc đi đúng thứ tự. “Đạt chưa?” tôi hỏi. “Về thao tác, đạt. Về tính kiên nhẫn, cần theo dõi thêm.” “Tôi có thể ghi nhận xét tương tự cho khả năng giao tiếp của anh.” “Công bằng.” Minh Triết giả vờ ho để che tiếng cười. Không khí trong phòng nhẹ đi đúng một khoảnh khắc, vừa đủ để mọi người nhớ rằng chúng tôi là một đội chứ không phải năm người đứng cạnh một tai nạn đang chờ xảy ra. Khi nét mực cuối cùng khô, tiếng sấm đầu tiên vang lên ngoài quảng trường. Mưa đến sớm hơn dự báo ba mươi phút. Toàn bộ người không nhiệm vụ rời khỏi Vân Tước. Cửa cuốn phía phố Nam Kính đóng kín. Đèn trong đại sảnh tắt, chỉ còn dãy khẩn cấp và sáu vùng hổ phách của hành lang. Trên mái, đàn chim bay thấp hơn bình thường, phản ứng với áp suất tụt nhanh. Tôi mặc dây an toàn màu cam, tự kiểm tra từng khóa rồi đưa cho Dịch Thần kiểm tra chéo. Anh kéo thử móc chính, nhìn thẳng vào tôi. “Nếu bộ đàm mất tín hiệu, hai lần giật dây là dừng, ba lần là rút.” “Tôi nhớ.” “Cô có muốn Nhược Chi giữ bảng điều khiển thay không?” “Không. Tôi chọn giữ.” Anh gật đầu. “Được.” Chúng tôi lên sàn bảo trì theo hai lối song song. Dịch Thần và Minh Triết đến cụm neo phía đông. Tôi đứng ở vùng quan sát, nơi nhìn được cả tổ lẫn cửa hành lang. Nhược Chi theo dõi camera từ phòng vận hành. Cảnh Du giữ liên lạc với đội sơ tán và nguồn điện. Giai đoạn một diễn ra trơn tru. Minh Triết cắt lớp sơn ở đoạn khe đầu, mở cơ cấu bằng tay. Tiếng ngân hạ xuống một quãng. Tử Du báo áp suất khoang giảm đúng mô hình. Tôi tắt vùng đèn thứ nhất. Vài con trưởng thành thử luồng khí mới nhưng chưa rời tổ. Giai đoạn hai bắt đầu khi gió giật qua mái. Một thanh rèm rung mạnh. Tải tăng tới sát vạch vàng rồi lùi xuống. Dịch Thần yêu cầu giữ trạng thái hai phút. Tôi không thúc anh. Anh cũng không giục tôi di chuyển đàn. Sau hai phút, đàn chim tạo thành vòng bay dài. Tôi tắt vùng đèn thứ hai và thứ ba. Luồng khí từ khe vừa mở kéo dọc hành lang. Bảy con đi qua. Rồi mười hai con. Những con trưởng thành quay lại, chứng minh đường bay không bị chặn một chiều. “Chuẩn bị giai đoạn ba,” Dịch Thần nói. Minh Triết đưa tay vào cần khóa cuối. Đúng lúc ấy, một tiếng rít kim loại vang lên. Cơn gió thứ ba quật qua quảng trường. Mái kính bắt đầu hát. Tôi đứng trên sàn bảo trì, y như khoảnh khắc đã mở đầu câu chuyện này. Mưa đập vào mặt ngoài vòm kính. Một con chim non bị gió hất khỏi tổ, rơi xuống và bám vào vành cách tôi chưa đầy ba mét. Nó chưa đủ sức bay qua hành lang. Nếu chúng tôi đóng cửa, tải gió sẽ giảm tạm thời nhưng đường thoát của đàn biến mất. Nếu mở khe cuối, vành phía đông phải chịu một đợt chuyển tải ngắn. Dịch Thần đọc số liệu rồi hỏi qua bộ đàm: “Hạ Linh, nhìn bảng điều khiển. Chúng ta chỉ còn một lần chuyển trạng thái. Đóng cửa, tải gió sẽ giảm nhưng hành lang bay biến mất. Mở hành lang, đàn chim có đường ra nhưng vành phía đông phải chịu thêm bốn mươi giây. Cô chọn đi.” Bàn tay tôi đặt trên hai nút sáng. “Anh có giữ được mái không?” “Tôi giữ phần của tôi. Cô quyết định phần của cô.” Lần này, tôi hiểu câu nói ấy không phải anh đẩy trách nhiệm sang tôi. Anh đã trao đúng phần quyền mà tôi có chuyên môn để sử dụng, đồng thời giữ lấy phần rủi ro của mình. Tôi nhìn vòng bay. Đàn chim đang nghiêng cánh theo luồng khí nhưng dồn lại vì vùng đèn cuối chưa tắt. Nếu chờ thêm, chúng sẽ kiệt sức. Con non trên vành trượt xuống nửa gang tay. “Mở,” tôi nói. “Theo nhịp của tôi.” Tôi nhấn nút hổ phách. Dãy đèn thứ tư tắt. Minh Triết mở khóa cơ cấu. Dịch Thần giữ cần tải. Tiếng ngân vút cao đến nhức óc rồi đột ngột hạ xuống khi khe thoát áp mở thêm. Tử Du đếm tải qua bộ đàm, từng con số ngắn và rõ. Đàn chim lao vào hành lang. Không phải một hàng ngay ngắn như trong thử nghiệm. Chúng cuộn thành dòng xoáy, con đi, con quay lại, cánh quệt sát rèm. Tôi giữ vùng đèn thứ năm lâu hơn dự kiến để đàn giãn ra. Dịch Thần báo còn ba mươi giây ở tải chuyển tiếp. Một tấm rèm mắc vào chốt, che mất nửa lối ra. “Minh Triết không tới được,” anh nói. “Hạ Linh, cô cách chốt hai mét. Cô có thể nhả nó nếu vẫn giữ hai móc.” Tôi nhìn con chim non. Nó ở hướng ngược lại. Bản năng đầu tiên thôi thúc tôi lao tới nó. Nhưng đường ra đang bị che, hàng chục con chim có thể va vào nhau. Tôi phải chọn việc thuộc phần mình và tuân thủ giới hạn đã hứa. “Tôi xử lý chốt trước.” Tôi kiểm tra móc chính, chuyển móc phụ sang dây dẫn bên phải rồi bò thấp. Gió giật qua khe khiến áo khoác ép sát lưng. Tôi không bước thêm cho đến khi nghe Dịch Thần xác nhận dây đã chịu tải. Chốt rèm kẹt vì một mảnh nhựa cong. Tôi dùng kéo cứu hộ cắt nó. Tấm rèm bung ra, hành lang mở đủ rộng. “Lối thông!” tôi hét. Tôi quay về bảng điều khiển, tắt vùng đèn thứ năm. Đàn chim tràn qua cửa như một dải mực sống, đen rồi bạc dưới chớp sáng. Nhược Chi đếm qua camera. Hai mươi. Ba mươi mốt. Bốn mươi sáu. Tải chạm vạch đỏ. “Giữ hay dừng?” Cảnh Du hỏi. Dịch Thần không trả lời thay tôi. Anh nói: “Tôi giữ được mười hai giây. Sau đó phải khóa.” Tôi quan sát những tổ còn lại. Chim trưởng thành cuối cùng đã rời mái. Chỉ còn con non mắc ở vành. “Mười giây,” tôi nói. “Sau đó anh khóa dù tôi đang ở đâu.” “Không chấp nhận. Cô chỉ tiếp cận nếu đường dây cho phép quay lại trong tám giây.” Tôi ước lượng khoảng cách. Nếu lao tới, tôi có thể chạm con chim nhưng không thể trở về. Nếu đổi điểm neo, dây trượt sẽ đưa tôi tới gần hơn mà vẫn giữ lối rút. Tôi chỉ vào thanh dẫn phía trên. “Chuyển móc trượt sang ray số hai. Tôi cần anh nhả khóa một nấc.” Dịch Thần nhìn đường tải rồi nhìn tôi. “Được. Cô có sáu giây tiếp cận, hai giây quay về.” Anh không cấm. Tôi không bất chấp. Chúng tôi cùng điều chỉnh kế hoạch. Tôi tự khóa dây, nghe tiếng chốt kim loại đóng chắc. Dịch Thần nhả ray. Tôi trượt theo lực căng đến sát vành kính, úp người xuống sàn. Con non há mỏ nhưng không còn sức kêu. Tôi luồn bàn tay dưới bụng nó, giữ hai cánh sát thân rồi kéo nó vào túi trước áo khoác. “Về!” anh quát. Tôi đạp chân vào thanh ngang. Dây kéo tôi lùi lại đúng lúc Minh Triết đóng cơ cấu giai đoạn ba. Một tiếng “cạch” nặng vang lên. Khe dừng ở vị trí an toàn. Tải từ vạch đỏ tụt xuống vàng, rồi xuống xanh. Mái kính im tiếng. Trong vài giây, tôi chỉ nghe tiếng mưa và hơi thở của chính mình. Sau đó bộ đàm nổ tung bởi tiếng Nhược Chi. “Đàn đã ra hết vùng camera! Tớ đếm đủ nhóm trưởng thành. Hạ Linh, con non thế nào?” Tôi mở nhẹ túi áo. Cái đầu nhỏ xíu cựa lên, mỏ chạm vào ngón tay tôi. “Còn sống.” Dịch Thần ngồi tựa vào thanh thép đối diện. Nước mưa từ tóc anh chảy dọc thái dương dù chúng tôi vẫn ở dưới lớp mái. Anh nhìn tôi kiểm tra hai móc dây trước khi đứng dậy, rồi mới thở ra. “Cô đã giữ lời,” anh nói. “Anh cũng vậy.” Chúng tôi chưa kịp nói thêm. Cảnh Du yêu cầu toàn đội rút khỏi sàn bảo trì để kiểm tra sau tải. Không ai ôm nhau giữa bão. Không có nhạc nổi lên. Chúng tôi chỉ làm đúng phần việc tiếp theo: bàn giao con non cho Nhược Chi, đối chiếu số đàn, khóa vùng nguy hiểm và đo từng cụm neo. Bão kéo dài gần ba giờ. Nước tràn qua một cửa giao hàng, hai biển quảng cáo bị gió giật hỏng và một tấm kính ngoài cùng xuất hiện thêm vết rạn. Nhưng vành phía đông đứng vững. Áp suất trong khoang không vượt ngưỡng lần nào nữa. Sáng hôm sau, mây tách ra trên Tinh Châu. Đàn chim đậu thành hàng trên mái một tòa nhà đối diện. Khi nắng chiếu tới, vài con bay về gần Vân Tước, lượn quanh khe thoát mới mở nhưng chưa vào tổ. Tôi không biết chúng có quay lại hay không. Cứu được chúng qua một đêm không có nghĩa chúng tôi được quyền đòi chúng chọn mái vòm này lần nữa. Con chim non được đưa về Trạm Dã Vũ. Nó chỉ mất nước nhẹ và không gãy xương. Nhược Chi đặt mã hồ sơ cho nó là “Ca Cam”, vì sợi dây an toàn màu cam đã cứu cả người lẫn chim. Tôi phản đối cái tên thiếu nghiêm túc. Cô ấy ghi vào hệ thống trước khi tôi phản đối xong. Cảnh Du triệu tập cuộc họp lúc mười giờ. Tôi chuẩn bị tinh thần cho hóa đơn thiệt hại, khiển trách và một cuộc tranh luận mới về việc tháo mái. Nhưng anh ta đặt lên bàn kế hoạch mở lại từng khu. “Khu tây mở sau kiểm định hai ngày. Khu bắc giữ đóng để thay kính và hoàn thiện khe thoát áp,” Cảnh Du nói. “Tôi đã đề nghị chủ đầu tư tài trợ các hốc làm tổ vĩnh viễn ở vòng ngoài, có khay bảo trì tách khỏi đường người đi. Trạm Dã Vũ sẽ được thuê tư vấn quy trình mùa chim.” Tôi nhìn anh ta. “Anh chắc chứ?” “Không.” Cảnh Du liếc Dịch Thần. “Tôi học được từ hai người rằng người có chuyên môn không nên hứa tuyệt đối. Nhưng tôi có ngân sách, số liệu thử nghiệm và ba mươi bảy tổ chứng minh chúng ta nên làm tốt hơn.” Dịch Thần bổ sung rằng mái vòm không cần tháo. Hai tấm hỏng sẽ được thay, cụm neo số bốn gia cường và khe thoát áp được phục hồi theo bản thiết kế mới. Hệ thống cảm biến sẽ ở lại ít nhất một năm. Mỗi mùa chim, quảng trường giảm ánh sáng ở vành phía đông vào giờ bay cao điểm. Minh Triết chống tay lên bản vẽ. “Và không ai được lấy sơn bít khe vì thấy đường ron xấu.” Cảnh Du ghi câu ấy thành dòng đầu tiên trong quy trình bảo trì. Ba tháng sau, Vân Tước mở lại khu phía bắc. Mái vòm vẫn trong suốt, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy một dải khe mảnh chạy quanh vành đông, bên dưới là những hốc làm tổ bằng vật liệu thô màu đá. Các biển quảng cáo được lùi xuống. Đèn có chế độ giảm sáng theo giờ. Hành lang tạm đã tháo, chỉ còn bảng điều khiển sáu vùng được giữ trong phòng trưng bày nhỏ về công trình và chim đô thị. Cảnh Du nhất quyết đặt cạnh nó một tấm biển giải thích rằng quảng trường không “giữ chim lại”, chỉ tạo điều kiện để chim có thể quay về. Tôi đồng ý với câu chữ ấy. Ngày thả Ca Cam, Nhược Chi mang lồng vận chuyển đến mái một tòa nhà thấp gần cầu Tịch Lam. Con chim non đã thay gần đủ lông. Tôi mở cửa lồng và lùi lại. Nó đứng ở mép gần một phút, nhìn khoảng trời trước mặt. Dịch Thần đứng cách tôi hai bước. Anh không hỏi tại sao nó chưa bay. Tôi cũng không chạm vào nó để thúc. Cuối cùng, Ca Cam vỗ cánh, chao xuống một đoạn khiến tim tôi rơi theo, rồi bắt được luồng gió nâng. Nó bay qua lan can, vòng một cung rộng và biến vào nền trời xám xanh. “Cô ổn chứ?” Dịch Thần hỏi. “Tôi đang tập không giữ một sinh vật bên mình cho đến khi hết sợ.” “Khó không?” “Rất khó.” “Cô làm khá tốt.” Tôi nhìn anh. Trong ba tháng sửa chữa, chúng tôi gặp nhau gần như mỗi ngày. Có hôm tranh luận về độ nhám của hốc làm tổ. Có hôm chỉ uống cà phê trong phòng vận hành. Anh vẫn hỏi trước khi đưa ra lựa chọn ảnh hưởng tới phần việc của tôi. Tôi cũng thôi coi mọi giới hạn an toàn là một cách kiểm soát. Chúng tôi gần nhau hơn, nhưng chưa ai gọi tên mối quan hệ ấy. Tôi từng nghĩ sự chậm rãi đó là do anh chưa chắc chắn. Sau này tôi hiểu, Dịch Thần đang để tôi có khoảng trời để tự chọn, giống điều tôi đã yêu cầu cho đàn chim. Mùa chim năm sau đến bằng một buổi sáng nhiều gió. Nhược Chi gọi tôi lúc sáu giờ, hét to đến mức tôi phải đưa điện thoại ra xa. Camera ở Vân Tước ghi được nhóm yến đầu tiên bay vào khe phía đông. Khi tôi tới quảng trường, dưới mái đã có tiếng cánh quen thuộc. Một vài con thăm dò các hốc mới. Một con ngậm cỏ khô, chui vào hốc gần cụm neo số bốn rồi lại bay ra. Chúng không trở về vì bị giữ lại. Không còn tấm lưới nào ép chúng ở đó. Chúng trở về vì mái kính bây giờ có đường vào, đường ra và đủ khoảng trống để một mùa sống bắt đầu. Dịch Thần đứng giữa đại sảnh, áo khoác màu than vắt trên tay. Ánh nắng xuyên qua vòm kính, vẽ bóng anh dài trên nền đá. Khi thấy tôi, anh không bước tới ngay mà chờ tôi quan sát đàn chim xong. “Bác sĩ Du,” anh gọi. “Kỹ sư Kiều.” “Tôi có một đề xuất không thuộc phạm vi vận hành quảng trường.” “Anh đã đánh giá rủi ro chưa?” “Rồi. Khả năng bị từ chối có tồn tại. Hậu quả chủ yếu là tôi phải ăn tối một mình.” Tôi cố giữ vẻ nghiêm túc. “Phương án của anh?” “Bảy giờ tối nay, quán mì bên phố Nam Kính. Không họp, không bản vẽ, không bộ đàm. Tôi muốn mời cô đi ăn với tư cách một cuộc hẹn. Cô có thể nói không, hoặc đề nghị thời gian khác.” Rõ ràng, đủ dữ liệu và để nguyên quyền lựa chọn cho tôi. Rất Kiều Dịch Thần. Tôi nhìn lên mái. Một con yến lao qua dải nắng, nghiêng cánh theo luồng khí từ khe thoát áp rồi bay thẳng ra khoảng trời phía cầu Tịch Lam. “Bảy giờ được,” tôi nói. “Nhưng tôi chọn quán. Lần trước anh ăn hộp cơm nhanh đến mức tôi nghi ngờ khả năng thưởng thức món ăn của anh.” Khóe miệng Dịch Thần cong lên. “Tôi chấp nhận điều chỉnh phương án.” Chúng tôi cùng đi qua đại sảnh vừa mở cửa. Phía sau, Cảnh Du đang nhắc nhân viên giảm một dãy đèn vì đàn chim mới về. Minh Triết đứng trên sàn nâng kiểm tra khe, còn Nhược Chi bận đặt tên cho từng hình bóng lướt qua camera dù tôi đã bảo cô ấy không thể phân biệt chúng từ xa. Trên nền đá sáng, bóng của tôi và Dịch Thần đi cạnh nhau, không ai kéo ai, không ai chắn đường ai. Phía trên hai cái bóng ấy, mái kính mở ra một vùng trời đủ rộng cho cả một mùa chim.