Mưa quất nghiêng qua mái trạm hoa. Ba thùng bánh đã tháo rời nằm dưới chân chúng tôi, còn lồng cáp đung đưa ngoài khoảng tối dẫn lên đồi Bạch Lộ. Đồng hồ chỉ bốn giờ mười bảy. Phía trên, đường xe đã ngập. Mỗi lượt cáp cần mười hai phút, nhưng không ai hứa gió sẽ cho chúng tôi đủ ba lượt. Tần Dịch Phong nhìn từng thùng. “Nếu cáp dừng sau lượt một?” “Tầng dưới một mình không thành bánh.” “Vậy chia các chi tiết hoàn thiện vào cả ba thùng. Mỗi phần sang được vẫn có thể dùng.” Tôi mở hộp hoa đường, bánh quy hạnh nhân và những mảnh cánh buồm đã vỡ. Lần đầu tiên, tôi phải quyết định chiếc bánh sẽ còn là gì nếu chỉ một phần của nó tới được bình minh. Tám giờ trước, tôi còn tin thử thách lớn nhất của đêm đó là làm chiếc xe của tiệm nổ máy. Lúc tám giờ rưỡi tối, bếp Hạ Vân thơm mùi hạnh nhân rang, đường nóng và cơn hoảng loạn mà không loại máy hút mùi nào kéo đi được. Chiếc bánh cưới đứng giữa phòng lạnh như một ngọn hải đăng bằng kem. Ba tầng phủ màu ngà, chân bánh quấn những dải đường mảnh như sóng. Trên tầng cao nhất là một cánh buồm bằng đường kéo, nghiêng về phía trước đúng mười hai độ. Dưới ánh đèn, nó trong đến mức tôi có thể nhìn thấy bóng tay mình xuyên qua. Tôi đã thử góc mười độ, mười bốn độ, rồi quay lại mười hai. Hứa An Nhiên không yêu cầu con số ấy. Cậu ấy chỉ nói muốn chiếc bánh gợi lại chuyến phà sáng mà hai đứa từng đi sau ngày rời trường nghề, khi chúng tôi không có bằng cấp đẹp, không có tiền và cũng chưa biết sẽ sống bằng nghề gì. Tôi biến ký ức đó thành cánh buồm. Rồi chiếc xe giao hàng của tiệm từ chối tham gia. Nó ho ba tiếng dưới sân, nhả một dải khói xám và tắt máy. Người thợ sửa cúi xuống khoang động cơ, lắc đầu trước khi tôi kịp hỏi. “Bơm nhiên liệu. Sáng mai mới có phụ tùng.” “Tôi cần xe chạy tối nay.” “Cô có thể cần mặt trời mọc hướng tây luôn, nhưng tôi cũng không sửa được.” Hôn lễ bắt đầu lúc sáu giờ ở nhà kính Bạch Lộ. Bánh phải vào phòng chuẩn bị trước năm giờ hai mươi; bàn bánh mở lúc năm giờ ba mươi. Khoảng mười phút ở giữa là phần duy nhất tôi có để lắp, cân nhiệt và sửa bề mặt sau vận chuyển. Từ bếp tới đó bình thường mất một giờ bốn mươi phút. Đêm ấy, thành phố Tân Giang có giải marathon chạy xuyên trung tâm. Từ mười giờ, hàng loạt tuyến phố sẽ đóng. Dự báo mưa lớn sau nửa đêm. Tôi có tám tiếng, một chiếc bánh nặng gần tám mươi cân và một chiếc xe chỉ còn đủ năng lực làm vật trưng bày. Hai nhân viên của tôi gọi tất cả dịch vụ giao lạnh trong danh bạ. Người bận chở hải sản. Người không nhận hàng dễ vỡ. Người đồng ý rồi nghe chữ “bánh cưới ba tầng” liền tắt máy như tôi vừa đề nghị vận chuyển hổ sống. Cuối cùng, chủ vựa trái cây ở chợ Nam Đường cho tôi một số điện thoại. “Tần Dịch Phong,” ông nói. “Chở đào, nho, hoa tươi. Xe lạnh tốt. Tính khí không tốt bằng xe.” Tôi gọi. Đầu dây bên kia có tiếng dây chằng được kéo qua móc kim loại. “Tôi cần đưa một chiếc bánh cưới đến đồi Bạch Lộ trước năm giờ hai mươi.” “Bao nhiêu kiện?” “Một bánh, ba tầng.” “Khối lượng từng tầng?” Tôi im hai giây. “Khoảng tám mươi cân cả khung.” “Khoảng là bao nhiêu?” “Bảy mươi sáu phẩy tám theo lần cân cuối.” “Chiều cao?” “Một mét bốn mươi hai.” “Trọng tâm?” “Anh đang nhận chở hay phỏng vấn tôi?” “Nếu cô không biết trọng tâm, tôi không nhận.” Tôi nhìn cánh buồm trong phòng lạnh. “Khung thép rỗng chạy giữa ba tầng. Tầng dưới nặng nhất. Trọng tâm ở khoảng năm mươi tám xen-ti-mét tính từ đế.” “Đế gì?” “Tấm nhôm bọc gỗ, dưới có cao su chống trượt.” Anh hỏi thêm bán kính quay của khung, nhiệt độ kem bơ, khoảng chịu nhiệt và kích thước cửa bếp. Tôi trả lời được tất cả. Đến câu cuối, giọng anh bớt lạnh đi một chút. “Tôi tới lúc chín giờ bốn mươi. Không đặt bánh lên xe trước khi cân lại.” “Chúng ta phải đi trước mười giờ.” “Nếu muốn đi nhanh, càng phải biết đang chở gì.” Anh cúp máy. Tần Dịch Phong tới lúc chín giờ ba mươi tám bằng một chiếc xe lạnh màu xanh than, thân xe không có hình trái cây cười hay số điện thoại quảng cáo. Chỉ có những vết xước nhỏ quanh tay nắm và một dải phản quang sạch sẽ. Anh cao hơn tôi nghĩ, tóc ngắn còn dính mưa, áo khoác kéo tới cổ. Anh không bước ngay vào phòng lạnh. Trước tiên anh đo độ cao cửa xe, kiểm tra sàn, rồi đẩy vào một chiếc cân thấp. “Bánh ở đâu?” Tôi chỉ qua cửa kính. Anh đứng ngoài nhìn gần một phút. “Cánh buồm không đi được.” Tôi đã thức ba mươi giờ để kéo nó. “Anh mới nhìn chưa đầy một phút.” “Vì chỉ cần chưa đầy một phút để thấy nó nằm cao hơn điểm đỡ cuối cùng gần ba mươi phân. Khi xe nghiêng, khung giữ bánh, không giữ cánh buồm.” “Nó có ba thanh đường nối xuống tầng trên.” “Đường không phải thép.” “Cảm ơn nhận xét chuyên môn về bánh.” “Cảm ơn cô đã thuê người vận chuyển rồi muốn người đó giả vờ đường là thép.” Hai nhân viên của tôi đồng loạt tìm việc ở phía bên kia căn bếp. Tôi mở cửa phòng lạnh. “Cánh buồm là phần không thể thay.” “Vậy nó phải đi trong hộp riêng.” “Gắn lại tại chỗ sẽ có đường nối. Tôi không giấu được.” “Tôi không bảo cô giấu. Tôi bảo nếu giữ trên bánh, khả năng nó gãy cao.” “Bao nhiêu phần trăm?” “Không biết. Tôi chưa từng chở cánh buồm bằng đường.” “Vậy anh đang đoán.” “Còn cô đang hy vọng.” Tôi muốn mời anh ra khỏi bếp. Đồng hồ chỉ chín giờ bốn mươi bảy. Dịch Phong không chạm vào bánh. Anh quỳ xuống nhìn khe giữa đế và bàn xoay, hỏi vị trí từng thanh khung rồi mới đặt bốn cảm biến nhiệt nhỏ vào các góc thùng vận chuyển. Anh cân riêng hộp dụng cụ của tôi, đá lạnh, hai hộp bánh quy hạnh nhân cho bàn tráng miệng, hoa đường dự phòng và phần kem bơ mặn dùng sửa bề mặt. “Những thứ này đi cùng?” “Bánh quy và hoa đường là đơn phụ của An Nhiên. Kem là để sửa.” “Đá lạnh đủ bao lâu nếu xe mất điện?” “Khoảng bốn mươi phút trong thùng kín.” “Bộ đo nhiệt có cảnh báo?” “Tôi có ba cái.” Anh gật đầu. Đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy mình vừa trả lời đúng một câu trong kỳ thi do người lạ tự đặt ra. Chúng tôi thống nhất giữ cánh buồm trên bánh nhưng dựng một khung dây mảnh không chạm bề mặt, giới hạn góc nghiêng của thùng. Tôi không thích vòng dây xuất hiện quanh tác phẩm. Anh không thích việc dây chỉ giảm rủi ro chứ không loại bỏ. Cả hai đều ký vào biên bản vận chuyển bằng hai chữ ký không mấy vui vẻ. Lúc mười giờ hai phút, xe rời sân bếp. Tôi ngồi ghế phụ, ôm hộp dụng cụ. Phía sau vách cách nhiệt là chiếc bánh tôi không nhìn thấy. Trên điện thoại, ba bộ đo nhiệt truyền về các con số sáu phẩy hai, sáu phẩy ba và sáu phẩy hai độ. “Anh chạy chậm hơn được không?” tôi hỏi khi xe qua ổ gà đầu tiên. “Đang ba mươi hai.” “Bánh không biết đồng hồ tốc độ.” “Xe sau biết.” “Tôi cần nó nguyên vẹn.” “Tôi cũng vậy. Nhưng đi chậm bất thường giữa đường mưa làm người khác phanh gấp. Phanh gấp mới giết cánh buồm của cô.” Anh nói như thể cánh buồm là một bệnh nhân khó tính mà cả hai phải giữ sống. Tôi không biết nên thấy được tôn trọng hay bị xúc phạm. Đến đại lộ Trung Tân, rào marathon đã dựng kín sớm hơn lịch thông báo hai mươi phút. Hàng nghìn người mặc áo mưa mỏng đang khởi động dưới những cổng đèn. Nhân viên giao thông chỉ chúng tôi vòng về phía chợ cá. Dịch Phong mở bản đồ tải trọng riêng trên máy định vị, nơi anh ghi chiều cao cầu, giới hạn xe tải và giờ cấm ở các tuyến mình đi mỗi tuần. “Vòng qua chợ thêm ba mươi tám phút,” anh nói. “Không còn đường khác?” “Có đường hầm Đông Khẩu, nhưng xe cao hơn giới hạn mười hai phân.” “Mười hai phân thôi.” “Trần hầm không thương lượng.” Tôi gọi Phó Nghiêm ở nhà kính báo trễ. Anh ta im một nhịp rồi nói đường lên đồi vẫn mở một làn, nhưng mưa có thể khiến họ chặn sau bốn giờ. “Bánh phải tới trước năm giờ hai mươi,” anh nhắc. “Tôi biết.” “Cô dâu vẫn nghĩ mọi thứ đúng kế hoạch.” “Tôi sẽ báo nếu có thay đổi thật.” Tôi không muốn An Nhiên thức trắng chỉ vì một tuyến đường vòng. Tôi cũng không muốn gọi cậu ấy với hàng loạt khả năng chưa xảy ra. Nhưng câu nói “nếu có thay đổi thật” khiến tôi nhớ cách mình thường trì hoãn nói sự thật cho tới khi đã tự sửa xong. Với tôi, chỉ kết quả cuối mới xứng đáng được nhìn thấy. Phần hỗn loạn ở giữa là thứ phải giấu. Xe rẽ vào chợ Nam Đường lúc mười một giờ kém mười. Mùi nước biển, băng tan và dầu chiên trộn với mưa. Các xe hàng đỗ sát hai bên, để lại lối đi vừa đủ một thân xe lạnh. Dịch Phong hạ tốc độ còn mười tám. Tôi nhìn màn hình nhiệt nhiều đến mức những con số như in vào mắt. Một xe đẩy cá bất ngờ lùi khỏi mái che. Dịch Phong không đạp phanh. Anh đánh lái rất nhỏ, để thân xe dịch sang phải rồi trở lại. Phía sau vang lên một tiếng cộc nhẹ. Tôi quay phắt lại dù chỉ nhìn thấy vách ngăn. “Dừng xe.” “Không có chỗ.” “Có tiếng va.” “Thùng phụ chạm thanh chặn.” “Anh biết bằng cách nào?” “Âm thanh thấp, ở bên phải. Thùng bánh nằm giữa.” “Dừng.” Anh nhìn gương, bật đèn cảnh báo và tìm được một khoảng trống dưới mái kho đóng cửa. Chưa kịp kéo phanh tay, tôi đã mở cửa nhảy xuống. Thùng bánh vẫn đứng. Cánh buồm chưa gãy. Nhưng trên mặt kem tầng dưới có một vệt lõm dài bằng đốt ngón tay, đúng nơi thành thùng không hề chạm vào. “Rung truyền qua khung,” tôi nói. Dịch Phong soi đèn vào khoảng rỗng giữa thùng và bánh. “Không. Đế trượt ba mi-li-mét rồi bật lại.” “Cao su chống trượt của tôi đạt chuẩn.” “Trên bàn phẳng. Sàn xe có rãnh.” Anh chỉ khoảng trống nhỏ dưới mép đế. Tấm cao su chạm vào hai đỉnh rãnh nhưng không phủ hết lòng rãnh. Khi xe nghiêng, toàn bộ đế dịch sang rồi bị dây chằng kéo lại. Cú giật đi thẳng lên khung thép, làm kem nứt dù thùng không đổ. Tôi lấy kem sửa vết lõm. Dịch Phong mở khoang dụng cụ, mang ra bốn tấm đệm mỏng thường dùng cho thùng nho. “Không đặt cao su có mùi dưới bánh.” “Đây là xốp tế bào kín dùng cho thực phẩm đóng thùng. Không chạm bánh.” “Độ nén?” Anh đưa tôi xem nhãn, không bảo tôi cứ tin. Tôi ấn thử, ngửi và cắt một góc. Chúng tôi chèn các tấm vào lòng rãnh để tạo mặt phẳng thật sự, rồi đánh dấu vị trí đế bằng bút sáp. Dịch Phong đề nghị đặt thêm hai thanh chặn bên nhưng để khoảng hở vừa đủ cho giãn nhiệt. “Khoảng rỗng không phải lúc nào cũng là đệm,” anh nói. “Nếu vật có chỗ lấy đà, cú va sau đó mạnh hơn.” Tôi nhìn vệt kem mình vừa sửa. “Còn ép quá chặt thì bánh nhận toàn bộ rung của xe.” “Đúng.” Lần đầu tiên chúng tôi không tranh xem ai đúng. Chúng tôi đang tìm khoảng hở vừa đủ giữa hai kiểu sai. Trước khi đóng thùng, anh hỏi: “Phần nào của bề mặt tôi tuyệt đối không được chạm?” “Dải sóng tầng dưới và ba điểm nối cánh buồm.” “Phần nào tôi được phép đặt thanh chặn nếu có lớp cách?” “Mép đế, ngoài lớp kem ít nhất bốn phân.” Anh dùng bút ghi đúng hai câu đó lên sơ đồ thùng. Tôi ký bên cạnh. Xe tiếp tục đi lúc mười một giờ hai mươi sáu. Chúng tôi tới kho trái cây của chủ vựa gần nửa đêm. Dịch Phong đã sắp xếp cho xe vào khu bốc hàng kín để bánh nghỉ rung mười lăm phút và nhiệt trở lại ổn định. Kho nằm sát sông, chứa những dãy lê và nho dưới đèn trắng. Ở góc sân là trạm cáp hàng cũ chạy lên khu trồng hoa Thủy Bình trên sườn đồi, dùng đưa chậu cây qua đoạn dốc xe tải khó lên. Tôi chỉ nhìn nó một lần, vì lúc ấy mọi con đường của tôi vẫn còn nằm dưới bánh xe. Chúng tôi đẩy thùng bánh vào phòng lạnh phụ. Bộ đo báo sáu phẩy chín độ, vẫn trong giới hạn. Tôi kiểm tra cánh buồm. Một đường nối có vệt trắng mảnh, dấu hiệu đường đã chịu lực nhưng chưa nứt. “Cần bao lâu?” Dịch Phong hỏi. “Mười hai phút ở đây, sau đó thêm lớp đỡ ở chân buồm.” “Lớp đỡ có đổi hình?” “Không nếu tôi kéo trong suốt.” Anh không hỏi tiếp. Anh đứng ngoài vùng tôi đánh dấu, đưa dụng cụ khi tôi gọi tên. Có người nghĩ giúp đỡ là lao tay vào. Dịch Phong dường như hiểu đôi khi giúp đỡ là biết mình không được chạm ở đâu. Đến phút thứ tám, toàn bộ kho tắt điện. Tiếng máy nén ngừng đột ngột. Đèn khẩn cấp bật màu đỏ. Từ các dãy hàng vang lên tiếng nhân viên gọi nhau và tiếng cửa cuốn được kéo bằng tay. Bộ đo nhiệt của bánh từ sáu phẩy bốn lên sáu phẩy sáu. “Máy phát bao lâu chạy?” tôi hỏi. Chủ vựa từ ngoài cửa đáp: “Mười lăm phút nếu không ngập tủ điện.” Dịch Phong đã mở thùng đá lạnh. “Bốn mươi phút, đúng không?” “Nếu thùng kín và không mở.” “Cô cần thêm bao lâu để sửa chân buồm?” “Tám phút.” “Nếu mở, đá còn bao lâu?” “Tùy độ ẩm. Có thể hai mươi lăm.” Anh nhìn đồng hồ. “Chúng ta không cược máy phát. Đưa bánh về xe, chạy lạnh bằng động cơ.” “Di chuyển ngay lúc đường đang co vì lạnh sẽ làm vết trắng gãy.” “Nếu ở lại, nhiệt tăng.” “Tôi cần sáu phút.” “Cô vừa nói tám.” “Tôi bỏ lớp bóng cuối.” Anh không tự đóng thùng. “Sáu phút. Tôi chuẩn bị đường đẩy và đá. Khi cô nói dừng, chúng ta dừng, dù lớp đỡ xấu.” Tôi ghét chữ xấu. Nhưng nhiệt độ không quan tâm lòng tự trọng của người làm bánh. Dưới đèn đỏ, tôi kéo thêm hai sợi đường từ chân buồm xuống khung. Chúng không trong hoàn toàn. Nếu nhìn gần sẽ thấy một vùng đục nhỏ. Tôi có thể làm đẹp hơn trong mười phút. Tôi đặt túi đường xuống ở phút thứ sáu. “Đi.” Dịch Phong cùng hai nhân viên kho đẩy thùng theo đường anh đã dọn. Không ai chạy. Bánh dễ vỡ thường bị hỏng vì người ta hoảng đến mức di chuyển nhanh hơn khả năng của tay mình. Chúng tôi đưa bánh lên xe, xếp đá lạnh quanh thùng phụ và khởi động bộ lạnh. Nhiệt độ cao nhất chạm bảy phẩy ba rồi dừng. Sau năm phút, nó hạ xuống bảy phẩy một. Tôi ngồi trên sàn khoang xe, lưng tựa vách, nghe máy nén rung đều. Dịch Phong đưa tôi một chai nước. “Cô có thể thở.” “Tôi vẫn thở.” “Bốn nhịp một phút không được tính.” Tôi uống nước. “Anh đếm cả nhịp thở của hàng à?” “Chỉ khi hàng cãi nhau.” “Bánh không cãi.” “Bánh có đại diện.” Tôi bật cười dù không muốn. Tiếng cười ngắn và mệt, nhưng nó làm vai tôi hạ xuống. Máy phát của kho cuối cùng cũng nổ sau mười chín phút. Chúng tôi không đưa bánh trở lại. Một lần chuyển thêm là một lần thêm rủi ro. Dịch Phong kiểm tra bản đồ, báo đường ven sông đã thông nhưng cầu Hạ Khê giới hạn chiều cao ở làn trong. “Xe qua được không?” “Qua làn ngoài, nếu nước chưa dâng.” “Còn bao lâu tới trạm hoa?” “Một giờ mười lăm.” “Nhà kính?” “Nếu đường đồi mở, thêm bốn mươi lăm phút.” Đồng hồ chỉ không giờ hai mươi ba. Chúng tôi còn gần năm tiếng. Nghe như nhiều, cho tới khi tôi nhìn chiếc cánh buồm đã có vệt trắng ở chân và cơn mưa đang dày lên ngoài cửa xe. Tôi trèo xuống, phủi vụn đường khỏi áo bếp. Dịch Phong đóng khoang, kiểm tra từng móc khóa rồi mới lên cabin. Xe lăn khỏi kho trái cây lúc không giờ ba mươi mốt. Qua gương chiếu hậu, trạm cáp hàng Thủy Bình lùi lại trong mưa, dây cáp căng thành một đường đen mảnh hướng lên sườn đồi. Tôi không biết vài giờ sau, chính đường đen ấy sẽ là phần cuối cùng còn nối chiếc bánh với bình minh. Đường ven sông ít xe hơn trung tâm, nhưng mưa tạt thẳng từ mặt nước khiến kính chắn gió lúc nào cũng như phủ một lớp khói. Dịch Phong giữ tốc độ đều, tránh mọi cú tăng ga không cần thiết. Tôi đặt điện thoại trên giá, để ba con số nhiệt độ nằm trong tầm mắt. Sáu phẩy tám. Sáu phẩy chín. Sáu phẩy tám. Tôi bắt đầu đo thời gian bằng những con số đó thay vì đồng hồ. Cầu Hạ Khê hiện ra sau màn mưa lúc không giờ năm mươi. Biển giới hạn chiều cao treo trước hai làn. Làn trong thấp hơn vì có ống kỹ thuật chạy qua. Làn ngoài vừa đủ cho xe lạnh, nhưng nước đọng thành một dải tối dưới chân cầu. Dịch Phong giảm tốc. “Chúng ta có qua không?” tôi hỏi. “Độ sâu chưa biết.” “Xe trước vừa qua.” “Xe con.” Anh dừng ở phần đường cao, bật đèn cảnh báo rồi lấy một cây thước gấp trong hộc. Tôi nhìn anh khoác áo mưa đi xuống, đo nước ở mép làn ngoài. Chiếc xe tải phía sau bấm còi. Anh không quay lại. “Chín phân ở mép, có thể mười hai ở giữa,” anh nói khi lên xe. “Qua được nếu đi thẳng và không tạo sóng lớn.” “Tôi xuống giữ thùng.” “Không.” “Tôi có thể ngồi phía sau.” “Khoang hàng không có ghế và dây an toàn.” “Tôi sẽ giữ đế.” “Nếu xe trượt, cô biến thành thêm tám mươi cân không được chằng.” “Tôi không nặng tám mươi cân.” “Đó là phần cô chọn phản đối?” Tôi tháo dây an toàn. “Tôi cần biết bánh đang thế nào.” Dịch Phong kéo phanh tay. “Nếu cô xuống xe giữa làn này, tôi không đi. Chúng ta chờ nước rút hoặc quay lại.” “Anh không thể ra lệnh cho tôi.” “Đúng. Tôi chỉ quyết định chiếc xe của mình không chở người trong khoang hàng.” Câu trả lời khiến tôi không thể gọi anh là kẻ thích kiểm soát. Anh không quyết định tôi phải làm gì. Anh đặt ranh giới cho phần trách nhiệm của anh. Tôi cài lại dây. “Qua đi.” Anh chọn số thấp, để xe lăn vào nước gần như không tăng ga. Sóng mở sang hai bên, thấp và đều. Khi bánh trước chạm một hõm sâu, thân xe nghiêng sang phải. Tôi theo phản xạ nghiêng người sang trái, như thể cơ thể mình có thể cân lại cả chiếc bánh phía sau. Dịch Phong lập tức nói: “Ngồi thẳng.” “Xe đang nghiêng.” “Cô đổi tải ghế phụ không giúp thùng giữa xe. Chỉ làm cô mất thăng bằng.” Tôi bám tay vào mép ghế nhưng ngồi thẳng. Năm giây sau, xe lên mặt đường khô bên kia cầu. Bộ đo nhiệt không đổi. Không có cảnh báo rung, vì chúng tôi chưa gắn cảm biến rung. Tôi phải đợi đến điểm dừng kế tiếp mới biết vệt trắng ở chân buồm còn nguyên hay đã dài thêm. “Anh luôn bình tĩnh thế à?” tôi hỏi. “Không.” “Trông anh rất bình tĩnh.” “Tôi nói ít khi sợ.” “Vậy lúc nãy anh sợ?” “Có.” Anh nói chữ ấy dễ dàng, không biến nỗi sợ thành điều đáng xấu hổ hay thành lý do để tôi phải an ủi. Chúng tôi tìm được một mái che của trạm cân bỏ không sau cầu. Cánh buồm vẫn đứng, nhưng một tấm đệm ở chân đế đã trượt nửa phân. Tôi quỳ xuống định kéo nó về vị trí cũ. Dịch Phong giữ cổ tay mình sát người, không đưa tay vào. “Cô kéo từ phía đó sẽ làm đế xoay.” “Tôi không còn góc khác.” “Nếu nâng khung hai mi-li-mét, tôi đẩy đệm vào được.” “Anh sẽ phải chạm khung.” “Đúng.” Khung thép là xương sống của chiếc bánh. Từ lúc bắt đầu làm, chỉ tôi và người thợ hàn thực phẩm từng chạm vào nó. Tôi đã đánh dấu từng ren nối, tự vặn từng chốt. Ý nghĩ để bàn tay khác nâng khung làm ngực tôi cứng lại. “Anh đeo găng mới,” tôi nói. “Chỉ nắm phần thép dưới đế. Không chạm dải sóng. Khi tôi nói dừng, anh hạ ngay.” Dịch Phong mở một đôi găng còn niêm phong trước mặt tôi. “Cô ra hiệu. Tôi không tự nâng.” Tôi đặt hai thanh gỗ mỏng làm điểm kiểm soát, luồn thìa nâng dưới đế rồi đếm. “Một. Hai. Nâng.” Anh nhấc khung vừa đủ để ánh đèn lọt qua. Tôi đẩy tấm đệm vào. Nó mắc ở rãnh. “Giữ.” “Đang giữ.” “Cao thêm một chút.” “Bao nhiêu?” “Một mi-li-mét.” Anh không cười vì con số nhỏ. Anh nâng đúng mức tôi chỉ. Tấm đệm trượt vào vị trí. Tôi nói hạ. Anh hạ ngay. Không có gì vỡ. Cảm giác nhẹ nhõm đến quá nhanh khiến tôi nhận ra mình đã chờ một tai nạn để chứng minh rằng không nên tin người khác. Dịch Phong tháo găng, bỏ vào túi rác riêng. “Khung không phải bề mặt. Nhưng nó vẫn là phần tác phẩm của cô.” “Tôi biết.” “Cô vừa để tôi chạm.” “Tôi cũng biết.” “Vậy tôi không cần nhắc.” “Anh đang nhắc đấy.” Khóe miệng anh động một chút. “Để chắc cô biết tôi biết.” Chúng tôi trở lại cabin. Đồng hồ chỉ một giờ mười bảy. Phó Nghiêm gửi tin nhắn: đường đồi vẫn mở một làn, nhưng đội an toàn sẽ đánh giá lại lúc bốn giờ. Tôi đáp chúng tôi dự kiến tới chân đồi lúc ba giờ năm mươi. Dịch Phong nhìn thời gian trên bản đồ. “Nếu không dừng quá hai mươi phút.” “Tôi cần kiểm bánh sau mỗi đoạn xấu.” “Vậy phải cắt thời gian ở đâu khác.” “Không cắt kiểm tra.” “Không. Cắt route.” Anh chỉ một tuyến qua khu công nghiệp cũ, ngắn hơn mười sáu phút nhưng có hai đoạn gờ giảm tốc. Tuyến chính dài hơn, mặt đường tốt hơn nhưng đi sát bờ sông đang dâng. Tôi hỏi: “Nếu là thùng nho, anh chọn đường nào?” “Gờ giảm tốc. Nho được chèn thành nhiều hộp nhỏ.” “Nếu là bánh?” “Đường sông, cho tới khi mực nước buộc đổi.” “Vậy đi đường sông.” Anh không nói đây là quyết định của anh hay của tôi. Nó là kết quả của hai loại thông tin đã đặt cạnh nhau. Sau vài phút im lặng, tôi hỏi vì sao anh biết nhiều đến thế về khoảng rỗng và tải lệch. Dịch Phong giữ mắt trên đường. “Ba năm trước tôi nhận một chuyến đào quá tải.” “Bị phạt?” “Không. Tệ hơn.” Anh kể vụ mùa năm đó đến sớm, chủ vựa cần đưa hai chuyến thành một để kịp phà. Anh biết xe vượt tải gần mười phần trăm nhưng vẫn nhận vì muốn chứng minh xe và tay lái của mình làm được. Anh chằng thùng rất chặt, đến mức những quả đào ở giữa không có chỗ dịch chuyển. Khi xe qua đoạn xóc, lực truyền thẳng qua cả khối hàng. Không thùng nào đổ. Nhưng hơn nửa số đào dập từ bên trong. “Không ai bị thương,” anh nói. “Xe cũng không hỏng. Nhìn bên ngoài như một chuyến thành công.” “Anh phải đền?” “Có. Nhưng tiền không phải phần tôi nhớ nhất. Chủ vựa mở từng thùng. Quả nào cũng còn hình dạng, đến khi chạm tay mới lõm xuống.” Tôi nhìn mưa trượt trên kính. “Vì thế anh không nhận quá tải.” “Và không tin một món hàng còn đứng nghĩa là nó còn nguyên.” Anh không kể để xin tôi hiểu tính khí khó chịu của mình. Anh chỉ đặt nguồn gốc một quy tắc lên bàn, giống cách anh đưa nhãn xốp cho tôi kiểm tra. “Tôi từng có một giảng viên lấy mẫu bánh cuối khóa của tôi đi triển lãm,” tôi nói. Đó không phải câu chuyện tôi định kể. Có lẽ mưa và bóng tối làm cabin xe giống một căn phòng không thuộc về ai, nơi lời nói có thể ở lại giữa đường. “Ông ấy bảo sẽ giữ nguyên thiết kế. Sau đó đổi khung vì muốn bánh cao hơn. Tầng giữa sụp trước giờ mở cửa. Trong báo cáo, ông viết công thức của tôi không ổn định.” “Cô có giữ bản vẽ cũ không?” “Có. Nhưng lúc ấy chẳng ai quan tâm.” “Vậy từ đó cô không cho ai đổi khung.” “Từ đó tôi không cho ai chạm vào bất cứ thứ gì nếu chưa hỏi.” “Đó là hai quy tắc khác nhau.” Tôi quay sang anh. “Anh đang phân tích tôi à?” “Tôi đang hỏi phần nào của chiếc bánh không được thay vì ý nghĩa, và phần nào cô giữ chỉ vì sợ người khác làm sai.” “Cánh buồm không được thay.” “Tại sao?” “Vì nó là chuyến phà của tôi với An Nhiên.” “Cô dâu biết nó nghiêng mười hai độ không?” “Không.” “Biết nó phải trong hoàn toàn?” “Không.” “Vậy phần không được thay là cánh buồm, hay là cảm giác hai người đã rời bến cùng nhau?” Tôi không trả lời. Anh cũng không ép. Đến một giờ ba mươi, chúng tôi dừng ở bãi xe có mái cuối cùng trước khu đồi. Còn ba giờ năm mươi phút tới hạn lắp. Vệt trắng dưới chân cánh buồm dài thêm gần một phân. Tôi dùng đèn soi xuyên qua đường. Vết mỏi nằm trong một thanh nối, chưa lan tới mặt buồm. Nếu thêm một cú giật đủ mạnh, nó sẽ gãy ở đúng điểm ấy. “Tách cánh buồm ra,” Dịch Phong nói. “Không.” “Đây không còn là xác suất chung. Cô đang nhìn thấy điểm gãy.” “Tôi có thể gia cố.” “Gia cố làm nó cứng hơn ở chân. Lực sẽ chuyển lên mặt.” “Tôi biết vật liệu của mình.” “Tôi biết xe còn phải đi qua đường đồi.” Tôi lấy hộp đường kéo. “Cho tôi mười lăm phút.” “Cô có mười lăm phút. Nhưng sau đó, nếu vết lan, chúng ta phải quyết lại.” Tôi không hỏi ai trao cho anh quyền nói “phải”. Cả hai đều biết đường đi sẽ quyết định thay chúng tôi nếu cứ trì hoãn. Tôi không thêm một thanh cứng. Tôi dùng một vòng đường mảnh phân tán lực từ chân buồm sang hai điểm khung thấp hơn. Dịch Phong dựng lại dây giới hạn góc nghiêng bên ngoài, lần này theo đúng ba vùng tôi cho phép chạm. Chúng tôi không làm riêng từng việc. Tôi nói tải không được đi qua đâu; anh nói lực cần thoát về đâu. Khi hoàn tất, cánh buồm trông khác nếu nhìn kỹ. Hai đường trong suốt chạy như dây buồm thật. Tôi chưa từng vẽ chúng trong thiết kế. “Tệ không?” anh hỏi. “Không.” “Đẹp?” “Tôi chưa quyết.” “Vậy đủ để đi.” Lúc một giờ năm mươi hai, xe trở lại đường. Mưa nặng hạt hơn. Tôi gọi An Nhiên nhưng không kể về vệt mỏi. Cậu ấy đang ở nhà kính, vừa thử ánh sáng. Qua điện thoại, tôi nghe người khác kéo ghế và tiếng mưa trên mái kính. “Cậu ngủ được chút nào chưa?” tôi hỏi. “Cậu hỏi cô dâu lúc hai giờ sáng có ngủ không à?” “Tớ cần biết cậu còn đủ tỉnh để cắt bánh.” “Chỉ cần cậu đem tới. Nếu méo một chút cũng không sao.” “Tớ không làm bánh méo.” An Nhiên cười. “Đó là câu khiến tớ lo nhất.” “Tại sao?” “Vì cậu nói như thể bánh không hoàn hảo thì lời chúc biến mất.” Tôi nhìn màn hình nhiệt. “Tớ sẽ tới trước năm giờ hai mươi.” “Tinh Lam, tớ cưới người mình yêu. Bánh là của cậu làm cho tớ, không phải bài thi cuối khóa.” Tôi muốn nói cậu ấy không hiểu. Nhưng An Nhiên chính là người ngồi cùng tôi trên chuyến phà khi tôi cầm bản vẽ chiếc bánh bị làm hỏng. Có lẽ cậu ấy hiểu quá rõ. “Tớ đang đi,” tôi nói. “Ừ. Đi an toàn.” Cuộc gọi kết thúc. Tôi vẫn chưa kể về vệt trắng. Nó chưa phải hư hỏng, tôi tự nhủ. Chỉ là rủi ro tôi đang xử lý. Hai giờ bảy phút, một chiếc xe máy từ ngõ phụ lao ra trước đầu xe. Mọi thứ xảy ra không có nhạc báo trước. Một đốm đèn trắng. Dịch Phong đánh lái nửa vòng và phanh theo hai nhịp, tránh đâm thẳng. Xe máy lướt qua, người lái không ngã. Chiếc xe lạnh dừng chéo trên mặt đường. Phía sau vách, một tiếng rạn khô vang lên. Không giống thùng chạm thanh. Không giống đế trượt. Âm thanh mảnh và cao, như một cành cây đóng băng bị bẻ trong tay. Tôi đã mở dây an toàn trước khi xe đứng hẳn. “Chờ.” Dịch Phong giữ giọng thấp. “Kiểm tra xe máy trước.” Anh bật đèn cảnh báo, nhìn gương. Người lái xe máy quay lại, giơ tay báo không sao rồi nhanh chóng rời đi trong mưa. Dịch Phong mới cho xe vào sát lề. Tôi chạy xuống khoang sau. Cánh buồm đã vỡ. Nó không đổ nguyên mảng. Đường nứt chạy từ chân lên giữa mặt buồm, chia lớp trong suốt thành bốn mảnh. Hai sợi gia cố vẫn giữ chúng treo trên khung, nên nhìn từ xa hình dáng còn đó. Nhưng chỉ cần chạm, toàn bộ sẽ rơi. Tôi đứng trước thùng mà không nghe thấy mưa nữa. Dịch Phong tới sau, dừng ngoài vạch tôi đã đánh dấu. “Có cứu được không?” Tôi muốn nói có. Tay tôi đã mở hộp dụng cụ, lấy đèn khò đường và keo đường nóng. Nếu ghép từng mảnh, tôi có thể dựng lại hình cho một bức ảnh. Nhưng đường đã hút ẩm. Các mép nứt trắng đục. Mỗi điểm nối mới sẽ nặng thêm và chịu lực kém hơn. Chặng đường xấu nhất còn ở phía trước. “Không,” tôi nói. Chữ ấy cắt qua cổ họng như một mảnh đường. “Tầng trên?” “Bản thân bánh còn nguyên. Cánh buồm không thể đi tiếp.” “Có thể tháo an toàn không?” “Có.” Tôi chưa tháo. Tôi đứng nhìn bốn mảnh vẫn treo, giống một thứ đã chết nhưng chưa chịu rơi. Dịch Phong không nói chúng ta đã cảnh báo. Anh cũng không nói ít nhất bánh chưa đổ. Anh chờ tôi quyết định phần thuộc về tôi. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là quay mặt nứt về phía sau khi lắp bánh. Dùng hoa che chân. Dựng một tấm đường mới nhỏ hơn tại trạm hoa. Nếu ánh sáng bình minh đủ mềm, khách sẽ không biết thiết kế ban đầu. An Nhiên cũng có thể không biết. Tôi đã từng thề không để người khác sửa tác phẩm rồi đổ lỗi cho mình. Bây giờ chính tôi đang định sửa lời chúc của mình mà không nói với người nhận. “Tôi phải gọi cô dâu,” tôi nói. Dịch Phong gật đầu. “Tôi ở cabin.” “Anh không cần đi.” “Cô muốn tôi ở lại?” Câu hỏi làm tôi dừng lại. “Ở lại, nhưng đừng nói thay tôi.” Anh đứng cách thùng hai bước. Tôi gọi video cho An Nhiên lúc hai giờ hai mươi. Cậu ấy bắt máy với một bên tóc còn kẹp, phía sau là những dải đèn vàng trong nhà kính. “Tinh Lam?” “Tớ cần cho cậu xem một việc.” Tôi xoay camera. Không chọn góc đẹp. Không giấu đường nứt. “Cánh buồm vỡ do xe phanh tránh một xe máy. Không ai bị thương. Phần bánh còn lại vẫn an toàn, nhưng thiết kế ban đầu không thể phục hồi để chịu được chặng đường tiếp theo.” An Nhiên nhìn màn hình rất lâu. “Cậu có bị thương không?” “Không.” “Anh tài xế?” “Không.” “Vậy được.” “Không được. Đây là phần chính.” “Phần chính là hai người an toàn.” “Tớ có thể làm một cánh buồm nhỏ khác, hoặc quay mặt vỡ ra sau và che bằng hoa. Nhưng tớ không muốn tự đổi mà không hỏi cậu.” An Nhiên đưa điện thoại gần hơn. “Cậu còn những gì?” Tôi quay camera xuống các hộp phụ. Bánh quy hạnh nhân hình bán nguyệt. Hoa đường màu trắng. Kem bơ mặn. Những mảnh cánh buồm trong suốt. “Cậu nhớ chuyến phà đó vì cánh buồm à?” cậu ấy hỏi. “Tớ nhớ vì chúng ta rời bến.” “Vậy đừng làm lại thứ đã vỡ như thể nó chưa từng vỡ. Làm cho tớ một chiếc bánh đang đi tới đâu đó.” “Có thể không giống bản duyệt.” “Tớ đang duyệt lại.” “Tớ cần ghi rõ.” An Nhiên bật cười. “Được. Tớ, Hứa An Nhiên, đồng ý để đầu bếp Lục Tinh Lam thay đổi thiết kế chiếc bánh cưới sau khi cánh buồm đường vỡ trong vận chuyển. Điều kiện là cậu không thức thêm ba mươi giờ để giả vờ nó chưa từng xảy ra.” Tôi vừa cười vừa khóc, một tổ hợp không hữu ích cho công việc cần tay vững. “Tớ sẽ gửi phác thảo trước khi lắp.” “Không cần.” “Tớ cần.” “Vậy gửi. Nhưng tớ có quyền nói phần vết nứt đẹp hơn phần cậu che đi.” Cuộc gọi kết thúc. Dịch Phong vẫn đứng đúng chỗ cũ. “Tôi cần tháo cánh buồm,” tôi nói. “Giữ các mảnh lớn. Không chạm mặt đường bằng tay, chỉ giữ khung khi tôi cắt dây.” Anh mở đôi găng mới. “Phần nào tuyệt đối không được nghiêng?” “Bây giờ chưa biết.” “Vậy chúng ta tìm trước khi đi tiếp.” Tôi tháo bốn mảnh cánh buồm, đặt giữa các lớp giấy chống dính. Tầng bánh bỗng thấp và trống. Lần đầu nhìn nó không có phần tôi đã bảo vệ suốt ba tháng, tôi không thấy lời chúc biến mất. Tôi chỉ thấy một khoảng chưa được quyết định. Chúng tôi còn chưa đầy ba giờ để lấp khoảng ấy và đưa nó lên đồi. Trạm hoa Thủy Bình nằm cách chỗ dừng mười bảy phút. Tôi từng nghĩ chúng tôi sẽ chỉ đi ngang qua đó để lên đường đồi. Bây giờ nhà kho nhỏ bên cạnh trạm là nơi duy nhất có bàn phẳng, mái kín và điện đủ cho đèn khò đường. Dịch Phong gọi chủ vựa trái cây, xin mở cửa trạm. Anh không nói chúng tôi cần một phép màu. Anh hỏi rất cụ thể: bàn inox có sạch không, ổ điện còn hoạt động không, cáp hàng chịu tải bao nhiêu, có nhân viên trực được cấp quyền vận hành không. Câu trả lời lần lượt là có, có, hai trăm cân và có một người trực đêm vì mưa. “Cáp không dùng nếu không có người của trạm,” anh nói sau khi cúp máy. “Tôi chưa định dùng cáp.” “Cô cũng chưa định làm lại bánh.” Tôi nhìn khoảng trống trên tầng cao nhất. “Đừng biến mọi câu của anh thành dự báo đúng.” “Tôi sẽ cố sai ở phần ít tốn đường hơn.” Chúng tôi tới trạm lúc hai giờ bốn mươi ba. Nhân viên trực tên Khương mở kho, đưa chúng tôi khăn sạch và chỉ khu vực có thể dùng. Ngoài mái hiên, những chậu hoa cưới buộc dây đang chờ chuyến cáp đầu sáng. Sợi cáp chạy từ trạm qua một khe dốc tới điểm nhận phía trên, gần đường bảo trì dẫn tới nhà kính. Khương nói nếu gió không vượt giới hạn, mỗi lồng hàng có thể chở tối đa hai trăm cân, nhưng đồ dễ vỡ phải chia tải và người gửi phải tự đóng thùng. Dịch Phong ghi thông số. Tôi nghe nhưng chưa nối chúng với chiếc bánh. Trên bàn inox, tôi mở tất cả những gì còn lại. Bốn mảnh cánh buồm đường. Mười tám chiếc bánh quy hạnh nhân hình bán nguyệt. Ba hộp hoa đường trắng, vốn để rải quanh bàn tráng miệng. Gần hai cân kem bơ mặn. Một lọ bột vàng ăn được. Các thanh khung thép tháo rời. Những vòng đường trong suốt đã dùng gia cố. Nếu cố dựng một cánh buồm mới, tôi cần ít nhất hai giờ để nấu, kéo, làm nguội và thử tải. Chúng tôi không có hai giờ. Nếu dùng hoa che khoảng trống, chiếc bánh sẽ thành một phiên bản thấp hơn của thiết kế cũ, như một câu bị xóa mất danh từ chính. Tôi đặt bốn mảnh buồm trên giấy, xoay chúng. Các đường nứt tạo thành những góc không đều. Khi ghép đúng vị trí cũ, chúng chỉ nói về thứ đã vỡ. Khi tách ra và dựng dọc theo ba tầng, chúng giống những mặt nước bắt ánh sáng. Tôi xếp bánh quy hạnh nhân thành một đường cong đi từ chân bánh lên đỉnh. Hình bán nguyệt chồng nhau thành những bậc nhỏ. Dịch Phong đứng bên kia bàn. “Phần nào đang đi tới đâu đó?” “Tôi chưa biết.” “Các mảnh trong suốt đang đứng yên.” “Đó là vì tôi chưa gắn.” “Bánh quy có hướng.” Tôi nhìn đường cong. Anh không nói đẹp hay xấu. Anh chỉ chỉ ra lực thị giác theo cách anh đọc lực trên xe. Tôi xoay toàn bộ đường cong về phía phải, giống một đường chân trời dần cao. Xen giữa bánh quy, tôi đặt các mảnh buồm vỡ theo góc nghiêng khác nhau. Không còn một cánh buồm duy nhất. Có bốn mặt sáng, như bốn khoảnh khắc mặt trời chạm nước. “Tôi cần chúng đứng mà không đặt trọng lượng lên kem,” tôi nói. Dịch Phong lấy sơ đồ khung. “Thanh giữa có ba ren chờ. Cô dùng để làm gì?” “Cho phương án hoa treo, nhưng An Nhiên bỏ từ tháng trước.” “Ren chịu được bao nhiêu?” “Bốn cân mỗi điểm, nếu lực thẳng.” “Các mảnh đường nặng?” “Tổng chưa tới tám trăm gam.” “Có thể làm ba giá riêng. Khi vận chuyển tháo ra, tới nơi mới cắm vào ren.” “Bề mặt sẽ có lỗ.” “Cô che bằng gì?” Tôi nhìn hoa đường. “Một cụm ba bông ở mỗi điểm.” “Vậy trước lúc lắp, bánh đi như ba mô-đun kín. Phần dễ gãy đi hộp riêng.” Câu “ba mô-đun” nằm lại trong đầu tôi. Khung chiếc bánh vốn có thể tháo từng tầng để vệ sinh, nhưng tôi luôn vận chuyển nguyên khối vì sợ khi lắp lại các dải sóng không liền. Đường lên đồi là đoạn xấu nhất. Nếu tháo bánh thành ba tầng, trọng tâm mỗi thùng thấp hơn rất nhiều. Dải sóng sẽ bị ngắt ở hai đường nối, nhưng thiết kế mới bằng bánh quy có thể đi qua chính các đường đó và biến chúng thành bậc. “Tôi cần cắt dải sóng ở hai mối tầng,” tôi nói. Dịch Phong không đáp ngay. “Cắt xong không quay lại được.” “Cánh buồm cũng không quay lại được.” “Cô muốn tháo ngay hay sau khi tới chân đồi?” “Sau khi hoàn tất giá đỡ. Tôi cần nhìn tổng thể một lần.” Anh gật đầu. “Tôi làm mẫu tải. Cô quyết hình.” Trong một giờ tiếp theo, chúng tôi làm việc cạnh nhau mà không ai cố biến chuyên môn của mình thành ngôn ngữ duy nhất. Tôi cắt những giá nhỏ từ thanh đường dự phòng, bọc chân bằng hoa trắng. Dịch Phong dùng các đoạn thép ren có sẵn, kiểm rằng mỗi giá chỉ truyền lực xuống khung. Tôi thử dựng từng mảnh buồm vỡ rồi lắc bàn bằng lực tăng dần. Mảnh nhỏ nhất rung quá mạnh. Tôi hạ nó xuống tầng giữa, nơi điểm đỡ ngắn hơn. Tôi nghiền hai chiếc bánh quy lỗi thành cát hạnh nhân, trộn bột vàng rồi rắc thành một đường từ thấp lên cao. Nó giống ánh sáng chưa kịp thành hình. “Tôi từng nghĩ vết rạn phải được giấu,” tôi nói. Dịch Phong đang cân một giá đỡ. “Bởi vì người ta sẽ nghĩ cô làm sai?” “Bởi vì tôi đã làm sai.” “Cô làm một vật không chịu được cú phanh tránh người. Hai chuyện đó không giống nhau.” “Thiết kế vận chuyển là một phần của bánh.” “Đúng. Và lần sau cô sẽ thiết kế khác. Nhưng đêm nay, chiếc xe máy vẫn lao ra.” Tôi không cần anh xóa trách nhiệm cho mình. Điều tôi cần là một cách giữ cả trách nhiệm lẫn sự thật rằng không phải mọi biến cố đều là bản án về năng lực. Ba giờ ba mươi tám, tôi gửi An Nhiên một bức phác bằng bút sáp: ba tầng tách bậc, đường bánh quy đi lên, bốn mảnh đường bắt ánh sáng như mặt nước sau mưa. Cậu ấy trả lời gần như ngay lập tức: “Nó đang rời bến.” Tôi phóng to câu đó rồi đặt điện thoại xuống. “Được,” tôi nói. “Tháo bánh.” Chúng tôi khóa phòng kho, rửa tay, thay găng. Tôi cắt dải sóng ở hai mối tầng bằng dao ấm. Mỗi nhát cắt làm tôi đau như đang phá chính thứ mình làm ra, nhưng khi Dịch Phong nâng khung theo hiệu lệnh, ba tầng rời nhau sạch sẽ. Tầng dưới vào thùng lớn, tầng giữa vào thùng thứ hai, tầng trên và các giá đỡ vào thùng thứ ba. Các mảnh buồm nằm riêng giữa giấy chống dính. Đá lạnh được chia theo thể tích, mỗi thùng có một bộ đo nhiệt. Tôi dùng kem đánh dấu mặt trước để không ai xoay sai hướng. Dịch Phong cân từng thùng. “Ba mươi tám phẩy bốn. Hai mươi bốn phẩy một. Mười chín phẩy sáu.” “Tổng nặng hơn lúc đầu.” “Thêm thùng và đệm. Nhưng mỗi trọng tâm thấp hơn.” Phó Nghiêm gọi lúc bốn giờ mười. “Đường lên đồi đang ngập ở đoạn cua thứ ba,” anh nói. “Đội an toàn chặn xe. Người đi bộ còn qua đường bảo trì nếu nước không lên thêm.” “Từ điểm chặn tới nhà kính bao xa?” “Một phẩy tám cây số dốc.” Tôi nhìn ba thùng. “Có xe nhỏ phía trên không?” Dịch Phong hỏi, ghé gần điện thoại nhưng không lấy khỏi tay tôi. Phó Nghiêm nói một xe điện của nhà kính đang ở điểm nhận cáp hoa, cách nhà kính sáu trăm mét. Trạm cáp Thủy Bình nối thẳng tới đó. Tôi quay sang cửa kho. Ngoài mưa, chiếc lồng hàng treo dưới dây cáp đung đưa rất nhẹ. “Gió?” Dịch Phong hỏi Khương. “Trong giới hạn. Nhưng chỉ nhân viên trạm vận hành. Mỗi lượt một thùng, phải có khung chặn.” “Bao lâu một lượt?” “Mười hai phút một chu trình: đưa lên, dỡ thùng và trả lồng. Chưa tính đóng tải.” Ba lượt là ba mươi sáu phút, chưa kể đóng tải và nhận tải. Đồng hồ chỉ bốn giờ mười bảy. Nếu khiêng bộ từ điểm chặn, chúng tôi có thể nhanh hơn nếu đường không quá sâu. Nhưng ba thùng cần ít nhất sáu người giữ ngang trên dốc. Nhà kính chỉ đưa được hai người xuống. Mưa đang tăng. “Dùng cáp,” tôi nói. Mưa quất nghiêng qua mái trạm hoa. Ba thùng bánh đã tháo rời nằm dưới chân chúng tôi, còn lồng cáp đung đưa ngoài khoảng tối dẫn lên đồi Bạch Lộ. Đồng hồ chỉ bốn giờ mười bảy. Phía trên, đường xe đã ngập. Mỗi lượt cáp cần mười hai phút, nhưng không ai hứa gió sẽ cho chúng tôi đủ ba lượt. Tần Dịch Phong nhìn từng thùng. “Nếu cáp dừng sau lượt một?” “Tầng dưới một mình không thành bánh.” “Vậy chia các chi tiết hoàn thiện vào cả ba thùng. Mỗi phần sang được vẫn có thể dùng.” Tôi mở hộp hoa đường, bánh quy hạnh nhân và những mảnh cánh buồm đã vỡ. Lần đầu tiên, tôi phải quyết định chiếc bánh sẽ còn là gì nếu chỉ một phần của nó tới được bình minh. Tôi chia bánh quy, hoa đường và kem sửa thành ba bộ. Mảnh buồm lớn đi cùng tầng dưới, hai mảnh vừa theo tầng giữa, mảnh nhỏ theo tầng trên. Nếu chỉ hai thùng qua, tôi vẫn có thể dựng một chiếc bánh hai tầng. Không phải bánh đã hứa, nhưng vẫn là một lời chúc trung thực. Khương kéo lồng hàng vào đúng vạch tải dưới mái tôn. Nhân viên nhà kính đã chờ ở đầu trên và xác nhận bộ đàm. Phó Nghiêm gửi ảnh điểm nhận: sàn khô, xe điện sẵn, bốn người đeo găng. Thùng tầng dưới được đặt vào lồng. Dịch Phong dùng thanh chặn của trạm, nhưng không siết ngay. “Khoảng cho phép?” anh hỏi. “Không quá hai mi-li-mét ngang. Không ép thành thùng.” Anh chèn xốp vào hai bên, kéo dây tới khi thùng không lấy đà nhưng vẫn còn lớp đệm. Tôi gắn bộ đo nhiệt lên mặt ngoài, kiểm nắp ba lần. Khương bấm nút lúc bốn giờ hai mươi mốt. Lồng hàng rời sàn. Tôi chưa từng thấy chiếc bánh của mình bay khỏi tay theo nghĩa đen. Nó đi qua khe dốc trong mưa, một hộp trắng nhỏ dưới sợi cáp đen. Gió làm lồng xoay vài độ rồi bộ ổn hướng kéo lại. Trên màn hình, nhiệt độ tăng từ bảy phẩy tám lên bảy phẩy chín. Bốn giờ hai mươi bảy, đầu trên báo đã nhận tầng dưới nguyên vẹn. Họ mất hai phút dỡ thùng, rồi trả lồng rỗng xuống. Bốn giờ ba mươi ba, cửa lồng lại mở dưới mái trạm. Chúng tôi đóng tầng giữa trong bốn phút. Lượt hai rời trạm lúc bốn giờ ba mươi bảy. Giữa đường, cáp dừng bốn mươi giây vì cảm biến gió. Tôi nắm bộ đàm đến đau tay. Khương nói: “Dừng an toàn. Không mất điện.” Dịch Phong đứng cạnh nhưng không bảo tôi bình tĩnh. Anh đọc nhiệt độ cho tôi: tám phẩy một, tám phẩy một, ổn định. Cáp chạy lại. Gần bốn giờ bốn mươi bốn, đầu trên báo đã dỡ tầng giữa. Chúng tôi còn tầng trên và chính mình. Mảnh đường nhỏ nhất đã bắt đầu mềm ở mép vì độ ẩm. Tôi tháo nó khỏi giá, cất vào hộp kín. Phương án chuyển lên sẽ chỉ còn ba mảnh. Tôi gửi thay đổi cho An Nhiên. Cậu ấy trả lời bằng một dấu mặt trời. Khi đầu trên xác nhận tầng giữa, tôi giao Dịch Phong danh sách chèn tải và bắt đầu đi bộ theo đường bảo trì. Anh ở lại cùng Khương đón lồng rỗng, đóng tầng trên rồi đưa dụng cụ bằng xe qua đường vòng tới điểm chặn gần nhất. Khương vẫn ở bảng điều khiển để hoàn tất chu trình cuối. Lượt cuối rời trạm lúc bốn giờ năm mươi lăm. Sáu phút sau, đầu trên báo đã nhận tầng trên. Tôi vẫn đang trên đường hẹp, bùn bám vào giày. Mỗi trăm mét tôi lại nhìn điện thoại. Tám phẩy ba. Tám phẩy năm. Kem bơ mặn bắt đầu mềm rõ ở chín độ. Chúng tôi vẫn còn khoảng an toàn, nhưng không nhiều. Xe điện của nhà kính đón tôi ở điểm cáp lúc năm giờ mười hai. Ba thùng nằm trên sàn, các dấu bút sáp không xê dịch. Phó Nghiêm muốn đưa thẳng vào nhà kính. Tôi yêu cầu phòng chuẩn bị phía sau được hạ nhiệt và đóng cửa khách. “Còn tám phút tới giờ cô yêu cầu,” anh nói. “Tôi cần lắp tới năm giờ ba mươi.” “Khách bắt đầu vào lúc năm rưỡi.” “Vậy dựng bình phong. Tôi không lắp bánh ở nơi có người va vào.” Phó Nghiêm nhìn đồng hồ, siết bộ đàm trong tay rồi gọi người dựng bình phong. Anh vẫn nhắc tôi còn bao nhiêu phút, nhưng để căn phòng đóng kín như tôi yêu cầu. Dịch Phong tới sau hai phút, áo mưa dính bùn tới đầu gối. Anh mang hộp dụng cụ và phần đá lạnh còn lại. “Tám phẩy sáu,” anh nói. “Đặt tầng dưới.” Bốn người khiêng thùng vào phòng. Tôi mở nắp. Mặt kem còn nguyên. Mảnh buồm lớn không nứt thêm. Dịch Phong đứng ở khung dưới. “Cô ra hiệu.” Chúng tôi lắp thanh trục, hạ tầng giữa, rồi tầng trên. Hai đường cắt dải sóng hiện rõ như sẹo. Tôi dùng bánh quy hạnh nhân tạo bậc đi qua các mối nối, không che chúng hoàn toàn. Kem bơ mặn giữ từng chiếc bánh quy, hoa đường mọc ở các điểm ren. Dịch Phong lắp ba giá đỡ theo thứ tự tôi đánh dấu. Anh chỉ chạm thép. Tôi dựng các mảnh buồm vỡ lên giá. Ánh đèn chuẩn bị xuyên qua các đường nứt, hắt vệt vàng lên lớp kem màu ngà. “Lùi hai bước,” tôi nói. Cả hai cùng lùi. Chiếc bánh không còn là ngọn hải đăng đứng yên. Đường bánh quy đi từ tầng thấp lên tầng cao như một bờ dốc. Ba mảnh đường trong suốt nghiêng theo ba hướng, phản chiếu ánh sáng như mặt nước thay đổi theo góc nhìn. Vệt bột vàng chạy giữa chúng, không thẳng nhưng luôn hướng lên. “Phần nào đang đi tới đâu đó?” Dịch Phong hỏi. Tôi chỉ đường bánh quy. “Phần này.” “Còn các mảnh vỡ?” “Chúng là ánh sáng trên đường đi.” Anh nhìn lâu hơn lần đầu đứng ngoài phòng lạnh. “Đẹp,” anh nói. Lần này tôi đã quyết. “Ừ.” Đồng hồ chỉ năm giờ mười bảy. Tôi chụp một bức ảnh gửi An Nhiên. Không chỉnh sáng, không giấu các đường cắt. Cậu ấy gọi ngay. “Đừng sửa vết rạn lớn nhất,” cậu ấy nói. “Mép nó trắng.” “Phủ vàng lên mép, đừng che.” “Tớ đang có bột vàng.” “Tớ biết. Tớ thấy trong ảnh.” Tôi trộn bột vàng với một giọt cồn thực phẩm, dùng cọ mảnh đi theo đường nứt. Vết rạn không biến mất. Nó sáng lên. Năm giờ hai mươi bảy, bánh được đưa ra nhà kính. Bầu trời ngoài mái kính chuyển từ đen sang xanh đậm. Những dải đèn vàng phản vào ba mảnh đường. Khách chưa vào khu bàn bánh vì bình phong vẫn còn. An Nhiên xuất hiện trong váy cưới màu ngà, tóc đã làm xong nhưng chân vẫn đi dép mềm. Cậu ấy không nhìn tôi trước. Cậu ấy đi quanh bánh một vòng. Tôi đợi lời đánh giá như đợi kết quả một kỳ thi. An Nhiên chạm tay vào vai tôi. “Nó không giống bản vẽ.” “Tớ biết.” “Nó giống đêm nay.” Tôi kể ngắn gọn từng thay đổi: cánh buồm vỡ, ba mô-đun, cáp hàng, mảnh nhỏ bị bỏ. Không kể để xin tha thứ. Cũng không biến khó khăn thành lý do bánh phải được khen. An Nhiên chỉ vào vết rạn vàng. “Giữ phần này khi cắt. Tớ muốn miếng đầu tiên đi qua nó.” “Đường kéo cứng, phải tháo trước khi cắt bánh.” “Vậy đặt nó cạnh đĩa.” “Được.” Cậu ấy ôm tôi, cẩn thận không làm nhăn áo bếp hơn mức nó đã nhăn. “Cậu tới rồi,” cậu ấy nói. Không phải bánh tới. Là tôi. Dịch Phong đứng cách đó gần cửa, kiểm tra các thùng rỗng. An Nhiên buông tôi ra, đi tới cảm ơn anh. Anh nói chiếc bánh do tôi quyết, anh chỉ giữ tải. Cậu ấy đáp giữ tải đúng lúc cũng là một phần của việc đưa lời chúc tới nơi. Anh không nhận công thay tôi. Tôi cũng không phủ nhận phần anh đã làm. Lễ cưới bắt đầu lúc sáu giờ lẻ ba, chậm ba phút vì một dải đèn cần chỉnh. Mặt trời không xuất hiện rõ sau mây, nhưng bầu trời sáng dần qua mái kính. Ba mảnh đường trên bánh bắt ánh sáng trước cả cửa sổ phía đông. Tôi đứng cuối phòng, vẫn mặc áo bếp dưới áo khoác mượn. Dịch Phong đưa tôi một cốc trà nóng. “Anh không phải đưa xe về à?” “Đợi nước rút. Đường xuống vẫn đóng.” “Vậy anh bị mắc ở đây.” “Có đồ ăn.” “Anh đánh giá hôn lễ theo việc có đồ ăn?” “Và chỗ đỗ xe.” Tôi cầm cốc trà. “Bánh có rung trên cáp không?” “Có.” “Bao nhiêu?” “Đủ để cô không muốn biết khi nó đang đi.” “Tôi muốn biết bây giờ.” “Lồng xoay tối đa bốn độ. Thanh chặn giữ. Không có cú giật.” “Anh đã xem bộ đo?” “Ba lần.” “Tôi cũng ba lần.” “Vậy tổng cộng quá nhiều.” Khi An Nhiên và người bạn đời cắt bánh, mảnh đường có vết rạn vàng được tháo xuống đặt cạnh đĩa đầu tiên. Khách ăn bánh. Đây là một chi tiết hiển nhiên, nhưng với tôi nó quan trọng. Tác phẩm không đứng nguyên dưới kính để được chụp rồi bỏ lại. Nó bị cắt, chia ra, dính kem vào nĩa và biến mất từng miếng. Phần bánh quy hạnh nhân hết trước. Một đứa trẻ xin bông hoa đường trên điểm nối tầng. An Nhiên cho nó lấy. Tôi không chạy tới sửa bố cục. Đến bảy giờ, mưa nhẹ đi. Dịch Phong và tôi quay lại phòng chuẩn bị thu khung. Trên bàn còn một hộp bánh thử nhỏ tôi đã làm từ phần cốt bánh dư, vốn để kiểm kem trước khi rời bếp. Nó đi suốt hành trình trong hộp dụng cụ nhưng chưa ai ăn. “Tôi nợ anh tiền phát sinh,” tôi nói. “Có bảng kê. Tôi gửi sau.” “Thêm thời gian trạm hoa, cáp và chờ đường.” “Cáp do cô thanh toán trực tiếp cho trạm. Thời gian chờ có trong hợp đồng.” “Anh lúc nào cũng có hợp đồng cho mọi thứ à?” “Không. Bữa sáng không cần.” Tôi nhìn hộp bánh thử. “Anh muốn ăn không?” “Bây giờ?” “Tôi cần biết nó có bị dập từ bên trong không.” Anh mở hộp. Hai lát bánh vẫn có hình dạng. Anh dùng nĩa ấn nhẹ rồi nếm. “Không dập.” “Nhận xét chuyên môn rất sâu.” “Kem hơi mặn.” “Đó là kem bơ mặn.” “Vậy thành công.” Chúng tôi ăn hết hộp bánh trong phòng chuẩn bị, đứng cạnh các thùng rỗng. Khi chỉ còn vụn hạnh nhân trên đáy hộp, Dịch Phong mở trang dữ liệu nhiệt và hỏi tôi muốn nhận bằng cách nào. Tôi đưa số cá nhân; anh lưu lại rồi gửi ngay tệp đầu tiên để tôi biết mình không đọc nhầm một chữ số. Một tuần sau, tôi thay đổi ba thứ ở bếp Hạ Vân. Tôi thêm mục tải trọng và phương án tháo mô-đun vào mọi bản thiết kế bánh cao. Tôi mua cảm biến rung. Và tôi bỏ quy tắc viết tay dán trên cửa phòng lạnh: “Người vận chuyển không vào khu lắp ráp.” Quy tắc mới dài hơn: “Chỉ người được đầu bếp chỉ định mới vào; trước khi chạm, phải xác nhận phần được phép chạm.” Tôi thử dòng bánh mô-đun với ba tài xế khác nhau. Mỗi người chỉ được chạm vào phần đã ghi trên sơ đồ, và sau mỗi chuyến tôi sửa lại cách đặt khung. Đến chuyến thứ tư, tôi gửi Dịch Phong một bản tải mới. Anh nhận, nhưng hẹn sau hai chuyến đào và hoa đã có trong lịch. Sáng chủ nhật, tôi mang hộp bánh thử còn lại ra bến phà Tân Giang. Tin nhắn tôi gửi tối hôm trước chỉ có: “Bảy giờ, phà tuyến sông Đông. Tôi muốn xem bình minh khi không phải giao gì cả. Anh có muốn đi cùng không?” Dịch Phong trả lời: “Có. Tôi giữ chỗ phía không nghiêng.” Khi tôi lên boong, anh đã ngồi ở một bàn có hai ghế cạnh cửa sổ. Bản đồ tuyến phà được gấp đôi trên bàn, bốn bến sau khúc sông đều còn để ngỏ. “Chào em,” anh nói. Đó là lần đầu tiên anh đổi cách gọi. Tôi đặt hộp bánh xuống ghế trống rồi ngồi đối diện. “Chào anh.” Anh đẩy bản đồ về giữa bàn. Tuyến phà có bốn bến sau khi qua khúc sông rộng. Một bến dẫn tới chợ gốm. Một bến có đường đi bộ ven lau. Hai bến còn lại chúng tôi đều chưa biết. “Xuống đâu?” anh hỏi. “Tới giữa sông rồi quyết.” “Không có kế hoạch tải?” “Hôm nay chúng ta chỉ chở một hộp bánh.” “Khối lượng?” “Tôi không nói.” “Trọng tâm?” “Anh có thể tự tìm sau khi tôi cho phép mở hộp.” Phà rời bến. Động cơ làm mặt bàn rung rất nhẹ. Theo thói quen, tôi đưa tay giữ hộp bánh. Dịch Phong cũng đưa tay, rồi dừng trước khi chạm. Tôi nhìn bàn tay anh, sau đó gật đầu. Anh đặt hai ngón tay lên mép hộp phía đối diện. Không giữ thay tôi. Chỉ chia lực khi con phà đổi hướng. Ngoài cửa sổ, mây tách ra một khoảng hẹp. Ánh sáng rơi xuống mặt sông thành một con đường không thẳng, chỗ rộng chỗ hẹp, luôn chuyển động theo nước. Tôi mở hộp bánh. Hai chiếc nĩa nằm bên trong. Chúng tôi chưa biết sẽ xuống bến nào. Lần đầu tiên trong nhiều năm, điều đó không làm tôi sợ.