Ngày còn một hôm, tôi gặp Tống Đức Khang và Tống Chí Duy ở quầy lúc tám giờ sáng. Mái bạt đã cuộn một nửa. Người mua đồ cũ đang tháo tủ hấp. Trên nền có những ô vuông sạch hơn chỗ khác, dấu của các thiết bị từng đứng. Cha tôi đặt cuốn sổ tiết kiệm lên chiếc bàn cuối cùng, cùng hợp đồng thuê quầy và giấy nhận nợ. “Cha có thể chuyển tiền ngay,” ông nói. “Bên cho thuê đồng ý giữ cọc nếu hôm nay mở lại. Hoài Túc đến mấy giờ?” “Anh ấy không đến.” Tống Đức Khang nhìn ra cửa như thể con rể có thể đang đỗ xe ngoài đường. “Con chưa thuyết phục?” “Con không thuyết phục.” “Dao Quỳnh, đây không phải lúc giận dỗi vợ chồng. Cha trả hết phần con làm mất. Nó giúp ba tháng, Chí Duy qua được. Sau này nhà mình bù lại.” Tôi đặt bản bảo lãnh lên bàn. “Con đến để chấm dứt cái này.” Chí Duy bước tới. “Chị, bên cung cấp nói nếu đóng quầy vẫn chia lịch được. Em đi làm ở bếp trung tâm, mỗi tháng trả—” “Em tìm được việc rồi?” Nó gãi vệt dầu trên tay. “Ca phụ bếp. Mười giờ đến bảy giờ. Lương ít hơn lúc quầy bán tốt.” “Nhưng có lương.” “Có.” Cha tôi gõ mặt bàn. “Đi làm thuê thì bao giờ ngóc đầu? Quầy đã đổ bao nhiêu tiền vào.” Chí Duy nhìn ông, lần đầu không nói về tháng sau. “Tiền đó mất rồi, cha.” Tôi mở giấy nhận nợ. Bên cung cấp đã ghi lịch mười hai tháng cho phần còn lại thuộc nghĩa vụ của tôi sau khi bán thiết bị. Số tiền mỗi tháng gần bằng khoản tôi có thể trả nếu giữ ca sáng và cắt phần lớn chi tiêu. Không có chỗ cho tiền cọc nhà hôm nay. “Con nhận lịch này,” tôi nói. “Chí Duy nhận phần của em ấy theo thỏa thuận với bên cung cấp. Con không bảo lãnh thêm, không ký gia hạn quầy.” Tống Đức Khang đẩy cuốn sổ về phía tôi. “Cầm tiền. Cha không bắt nó vào quầy nữa. Coi như cha cho con gái.” Tôi nhìn ông. Nếu đó là lời cho vô điều kiện, tôi có thể nhận không? Nhưng cuốn sổ đang nằm cạnh hợp đồng quầy. Cha tôi vẫn nhìn chiếc tủ hấp bị mang đi như nhìn danh dự gia đình bị tháo thành từng con ốc. “Cha cho con dù quầy đóng và Hoài Túc không vào chứ?” tôi hỏi. Ông im lặng. Tôi đã có câu trả lời. “Con không nhận.” “Con định ngủ ngoài đường để chứng minh mình cứng?” “Không. Con định chịu phần con đã ký.” “Tiền cha cũng là tiền nhà mình.” “Nhưng thời gian của chồng con không phải tiền nhà mình để con đem đổi.” Giọng tôi không lớn. Không ai ngoài ba người nghe. Không có người chứng kiến để khen tôi trưởng thành. Người mua đồ cũ vẫn kéo tủ qua ngưỡng, kim loại cạ nền phát ra tiếng rít. Tống Đức Khang quay mặt đi. “Cha nuôi con lớn để con không phải khổ vì mấy khoản này.” “Cha nuôi con lớn để con tự ký được. Con đã ký sai thì con trả.” “Còn Chí Duy?” Tôi quay sang em trai. Nó đứng trong chiếc áo vàng đất đã bạc, không còn quầy để bộ áo ấy đại diện. “Em đi làm. Bán hết thiết bị. Trả đúng lịch. Nếu thiếu tiền ăn, nói số tiền cụ thể. Chị không ký thay, không tìm người giữ quầy, không hứa Hoài Túc.” Chí Duy cúi đầu. “Em biết rồi.” “Em có trách chị không?” Nó cười méo. “Chị đã mất quỹ vì em. Em trách nữa thì lời quá.” “Quỹ mất vì chị ký.” “Em là người xin.” Lần đầu tiên chúng tôi để hai phần lỗi đứng cạnh nhau mà không ai giành trả hết. Tôi ký vào lịch nhận nợ. Bút chạy chậm hơn lần bảo lãnh. Mỗi tháng, một khoản. Mười hai tháng. Không có phép màu, không có quỹ trở lại. Bên cho thuê quầy đến lấy chìa khóa lúc chín giờ. Chí Duy tự tháo tấm biển món ăn. Tống Đức Khang cất cuốn sổ tiết kiệm vào túi, động tác mạnh nhưng không nói thêm. Trước khi đi, ông đặt lên bàn một túi bánh hấp mẹ tôi gửi. “Tiền thì không lấy, đồ ăn vẫn phải ăn.” Tôi nhận. “Vâng.” Ông không tha thứ cho lựa chọn của tôi. Tôi cũng không cần biến sự thất vọng của ông thành một cánh cửa đóng vĩnh viễn. Ông đi trước. Chí Duy buộc tấm biển lên xe, chuẩn bị chiều đến bếp trung tâm thử việc. Tôi rời quầy với bản hợp đồng bảo lãnh đã chấm dứt, lịch trả nợ trong túi và không đủ tiền đặt cọc căn áp mái. Cùng lúc đó, ở nơi tôi không biết, Hoài Túc trả chùm chìa khóa thứ ba. Hôm sau anh mới kể: anh đặt nó trước mặt Vệ Như Tịnh và nói không nhận nhà vì giá của nó là ca làm của tôi. Mẹ anh hỏi ai sẽ chăm Vệ Quang Nghiêm. Hoài Túc giữ hai buổi đã ghi, nhận thêm một tối tập tại nhà và trả nửa phí xe trung tâm cho hai buổi. Cha anh chấp nhận đi xe dù đắt. Mẹ anh phải mua buổi đưa đón còn thiếu trong tháng đầu rồi đổi lịch phục hồi tháng sau. “Con đang làm khó cả nhà để bênh vợ,” bà nói. “Con đang sửa phần con để mẹ không cần hỏi cô ấy qua con.” Cha anh cầm chùm chìa khóa, nhắc nhà vẫn trống và tiền thưởng đã mất. Hoài Túc đáp anh không chắc mọi việc sẽ dễ, chỉ chắc tên ai thì người đó nhận. Anh gạch tên tôi khỏi bản lịch cuối cùng, để nếu tôi có giúp, cái tên ấy phải do tôi tự viết. Vệ Như Tịnh cất chìa khóa vào túi thuốc. Không ai vui, và anh rời căn nhà miễn phí với hai bàn tay không. Sáng ngày bàn giao, tôi trở lại Bạch Thạch lúc chín giờ bốn mươi. Căn hộ trống vang tiếng chân. Bốn thùng carton xếp giữa phòng khách, chữ tên phòng bị gạch và sửa đến nhòe. Máy giặt đứng một mình cạnh bếp, dây cấp nước đã tháo. Tôi đặt lịch trả nợ lên thùng ĐỒ CHƯA BIẾT ĐỂ ĐÂU. Mười giờ kém năm, Hoài Túc bước vào. Anh mang túi đồng phục và hộp dụng cụ. Chùm chìa khóa trên tay chỉ còn chìa căn Bạch Thạch và chìa xe. Chúng tôi nhìn nhau như hai người đến cuộc hẹn mà không biết đối phương còn mang gì. “Em chấm dứt bảo lãnh,” tôi nói. “Quầy đóng. Chí Duy bán thiết bị và đi làm thuê. Em nhận lịch trả mười hai tháng. Em không lấy tiền cha.” Tôi đưa giấy. Anh đọc con số, ngày trả, chữ ký. Không hỏi tại sao tôi không nhận tiền. Anh đặt lại. “Anh trả nhà,” anh nói. “Tên em không còn trên lịch. Anh nhận ba buổi của cha, hai buổi xe chia phí với ông. Mẹ trả một buổi tháng đầu.” Anh mở tay cho tôi thấy không có chùm chìa khóa thẻ trắng. Trong mười tám ngày, tôi đã mong một lời xin lỗi đủ tốt, một cái ôm đúng lúc, một người nói rằng thiệt hại không quan trọng. Đến lúc ấy, thứ làm tôi thở được lại là hai món không còn: hợp đồng bảo lãnh đang hoạt động và chìa khóa căn nhà miễn phí. “Anh mất thưởng,” tôi nói. “Ừ.” “Em không đủ cọc.” “Anh cũng không.” “Căn áp mái chắc mất rồi.” “Chưa chắc.” Anh lấy điện thoại gọi môi giới. Đôi kia chưa chuyển cọc vì muốn lắp điều hòa nhưng chủ không đồng ý. Chúng tôi còn đến mười một giờ ba mươi. “Tổng tiền thật của anh đây.” Hoài Túc mở ứng dụng ngân hàng, đưa tôi xem, rồi đọc từng khoản đã trừ. “Không còn thưởng. Không có tiền nhà anh.” Tôi cũng mở tài khoản. “Đây là của em. Trừ kỳ nợ đầu tiên. Không có tiền cha.” Cộng lại vẫn thiếu phí kéo máy và tiền ăn hơn một tuần. Kha Mẫn Chi đến lúc mười giờ mười lăm để nhận nhà. Bà kiểm tra tường, đồng hồ nước, chìa khóa. Thấy máy giặt chưa chuyển, bà nhắc số người vận chuyển đã cho. “Tính cả kéo sáu tầng bao nhiêu?” Hoài Túc hỏi. Bà gọi ngay, bật loa. Giá cao hơn chúng tôi tính. Tôi nhìn chiếc máy cũ. “Để lại bán cho người thuê mới?” Kha Mẫn Chi nói người mới có máy. Hoài Túc hỏi bên vận chuyển có nhận trả chậm một phần không. Không. Tôi gọi khách sạn hỏi khoản ứng lương. Kế toán nói chiều mới duyệt. Hoài Túc gọi Lạc Thế Bình hỏi tiền công hai giờ tăng thêm từ tuần trước có thể thanh toán sớm không. Quản lý đáp khoản đó đã vào chu kỳ lương, không tách. Không có ai cứu đúng hạn. Tôi mở túi đồ, thấy hai chiếc nhẫn cưới bọc trong khăn. “Cầm tạm một chiếc.” Hoài Túc lắc đầu. “Môi giới có cho trả phí dịch vụ sau bốn ngày không?” Chúng tôi gọi. Người môi giới đồng ý giảm nửa phí nếu tự làm hồ sơ và trả phần còn lại ngày lương về. Khoản chênh vừa đủ phí kéo máy nếu cắt tiền ăn xuống số bánh hấp cha tôi đưa và đồ khô còn lại. “Nhận,” tôi nói, rồi quay sang Hoài Túc. “Anh thấy được không?” Đó là lần đầu tiên trong mười tám ngày tôi hỏi trước khi nói thay cả hai. Anh kiểm tra lại con số. “Được. Nhưng tiền nợ tháng này của em không chuyển sang tiền chung.” “Ừ. Phần em tự trả.” “Phí xe của cha anh cũng vậy.” “Ừ.” Chúng tôi ký căn áp mái lúc mười một giờ mười chín. Không ai trong hai gia đình biết chúng tôi đã từ chối lựa chọn của người kia khi làm quyết định của mình. Không có lời thề. Chỉ có hai chữ ký trên hợp đồng thuê nóng, rẻ, xa đều cả hai phía. Chuyến xe đến Bạch Thạch lúc mười hai giờ. Người chuyển đồ buộc máy giặt sau cùng. Tôi cầm bút gạch tên phòng cũ trên thùng carton. BẾP thành BẾP MỚI. PHÒNG NGỦ thành GÁC MÁI. Đến thùng ĐỒ CHƯA BIẾT ĐỂ ĐÂU, tôi chưa nghĩ ra tên. Hoài Túc lấy bút, viết: ĐỒ CHUNG, BÀN SAU. Tôi bật cười. “Anh giữ nguyên quy trình à?” “Quy trình này chưa làm mất quỹ.” Đó là câu đùa đầu tiên của anh kể từ lúc biết bảo lãnh. Tôi cười đến cay mắt. Anh không ôm tôi. Anh nhấc đầu thùng phía mình và chờ tôi nhấc phía còn lại. Chúng tôi dọn xong trước giờ bàn giao. Sáu tầng cầu thang làm đầu gối tôi run, vai Hoài Túc đỏ lên dưới áo. Máy giặt phải tháo cửa mới lọt qua bếp. Khi kê vào góc, nó nghiêng hẳn sang phải vì nền áp mái không phẳng. “Đừng chạy hôm nay,” anh nói. “Anh mua miếng kê sau.” “Ngày lương về.” “Ừ.” Tối đó, căn phòng nóng đến mức chúng tôi trải chiếu sát cửa sổ. Bữa ăn là bánh hấp nguội và nước ấm trong bình đỏ. Tôi đưa anh lịch trả nợ để cất chung giấy thuê nhà. Anh lắc đầu. “Em giữ. Khi cần cho anh biết khoản ảnh hưởng tiền chung.” “Anh không kiểm tra à?” “Anh cần biết phần chung. Phần nợ em đã nhận, em tự theo.” Đó là ranh giới anh trả lại sau khi tôi từng coi quyền quản quỹ là quyền làm mọi việc. Tôi nói: “Em chưa xin anh tha thứ lần nữa.” “Anh chưa quên.” “Em biết.” “Nhưng anh ở đây.” Tôi nhìn quanh căn áp mái. “Ở đây rất nóng.” “Anh cũng biết.” Chúng tôi nằm cách nhau một cánh tay. Đêm đó không có mưa. Chỉ có tiếng bồn nước trên mái co lại khi nhiệt giảm. Gần sáng, tôi thức thấy bàn tay anh nằm giữa chiếu. Tôi đặt tay mình cạnh đó, không chạm. Một lúc sau, ngón út anh khẽ móc vào ngón út tôi. Không ai nói gì. Ba mươi ngày sau, hậu quả vẫn còn đủ mặt. Ngày mùng năm, tôi chuyển kỳ trả nợ đầu tiên. Số dư tài khoản riêng giảm xuống mức khiến tôi phải bỏ món thịt trong giỏ hàng. Chí Duy gửi ảnh bảng chấm công ở bếp trung tâm, than đứng mười tiếng đau lưng, rồi ba phút sau hỏi tôi loại giày nào rẻ mà bền. Tôi không mua cho nó. Tôi gửi ba địa chỉ bán và số tiền tôi có thể cho mượn nếu nó ghi ngày trả. Nó đáp thôi, tháng này tự mua đôi cũ. Vệ Quang Nghiêm dùng xe trung tâm hai buổi mỗi tuần. Ông phàn nàn người lái thắng gấp, nhưng đầu gối co thêm được mười độ. Hoài Túc đưa cha đi hai sáng và tập tại nhà một tối. Quãng đường từ áp mái đến kho dài hơn, anh phải đổi hai tuyến xe. Vệ Như Tịnh trả tiền một buổi đưa đón đầu tiên, sau đó đổi được lịch phục hồi sang chiều thứ sáu. Bà vẫn bảo nếu ở căn nhà trống thì đỡ bao nhiêu. Hoài Túc không tranh luận lại mỗi lần. Anh chỉ nhắc lịch nào tên người đó. Khoản thưởng cuối quý không quay lại. Lạc Thế Bình xếp Hoài Túc vào tuyến kiểm kê xa hơn vì lịch mới còn chỗ ở đó. Anh nhận vì phù hợp ba buổi chăm cha, nhưng mỗi ngày về muộn thêm hai mươi phút. Không ai gọi đó là phần thưởng cho lựa chọn đúng. Khách sạn của tôi vẫn thiếu người. Khi trưởng bộ phận hỏi tôi lấp ca chiều vào ngày trả nợ, tôi xem lịch rồi nói chỉ làm thêm đến sáu giờ, không thể ở đến mười. Bà ấy tìm người khác cho bốn giờ còn lại. Không ai chết. Mẻ khăn vẫn xong, chỉ không phải một mình tôi gánh. Tôi bắt đầu hỏi Hoài Túc trước những khoản chung. “Tháng này mua kệ hay để tiền sửa vòi?” “Vòi.” “Chủ nhật em mời cha mẹ ăn, anh có ở nhà không?” “Anh đưa cha tập. Em mời phần em, đừng tính anh nấu.” “Được.” Anh cũng hỏi tôi. “Mẹ muốn gửi rau hai tuần một lần. Em có muốn nhận không?” “Có, nếu không kèm lịch.” “Anh sẽ nói.” Chúng tôi không biến thành hai người nói chuyện hoàn hảo. Có hôm tôi vẫn suýt bảo Chí Duy rằng Hoài Túc biết sửa bếp điện. Tôi dừng lại ở chữ Hoài. Có hôm mẹ anh gọi trực tiếp cho tôi nhờ ghé lấy thuốc, anh biết sau và im lặng quá lâu. Nhưng rồi anh hỏi tôi đã nhận chưa, thay vì tự quyết tôi không được giúp. Tôi nói tôi nhận đúng một lần vì tiện đường, không nhận mỗi tuần. Căn áp mái vẫn nóng. Tiền vẫn thiếu. Chiếc máy giặt cũ vẫn rung lệch dù đã có một miếng kê tạm. Một sáng, tôi về sau ca, đổ đồng phục vào máy. Hoài Túc vừa thức để chuẩn bị đi tuyến xa. Anh kiểm tra chân máy, nói miếng cao su mới sẽ đến chiều. Tôi nhìn giỏ đồ, tính nếu chờ thì tối không có áo sạch. “Chạy một mẻ nhé?” tôi hỏi. “Chạy. Đến lúc vắt phải giữ.” “Em giữ được.” Anh nhìn cổ tay tôi. “Hai người giữ.” Máy chạy đến phút thứ ba mươi bảy thì rung. Thân máy xê khỏi tường. Cả hai cùng áp tay lên nắp. Tôi ở bên trái, anh ở bên phải. Nền gác nghiêng khiến lực dồn về phía anh. Anh dùng chân chặn, tôi giữ cạnh máy. Chúng tôi không giành phần nhau; chỉ giữ cùng một vật chung. Điện thoại báo bốn giờ mười. Tôi phải ngủ để hai giờ chiều dậy đi ca bổ sung ngắn. Hoài Túc phải kê chân máy trước khi đi làm, vì tối anh về sau tôi. “Em ngủ đi,” anh nói. “Phần kê máy anh đã nhận.” Tôi nhìn lồng giặt còn quay. “Còn phơi đồ?” “Ca giặt của em. Em dậy phơi.” “Đúng.” Anh không bảo sẽ làm hết cho tôi. Tôi cũng không ở lại để chứng minh mình chịu được. Khi máy dừng, tôi lấy đồ ra giỏ, đặt cạnh cửa sổ rồi đi ngủ. Hoài Túc nghiêng máy, lắp miếng cao su mới. Tiếng dụng cụ chạm nền nhỏ dần sau cánh cửa. Tôi thức lúc một giờ bốn mươi. Máy giặt đứng thẳng, không còn cập kênh. Hoài Túc đã đi. Giỏ đồ ướt vẫn ở nơi tôi để, không có phép màu nào phơi hộ. Trên bàn là mảnh giấy: Chân phải đã kê. Đừng nhồi quá bảy cân. Tôi phơi đồng phục của mình. Ở đáy giỏ có đôi giày vải của anh, bám bụi trắng từ tuyến kho xa. Anh không nhờ. Giày không thuộc mẻ giặt, cũng không phải phần tôi đã nhận. Tôi rửa chúng bằng phần nước còn lại trong chậu, đặt lên bậu cửa có nắng. Không phải vì nếu tôi không làm, anh sẽ thất vọng. Không phải để đổi lấy buổi anh kê máy. Chỉ vì tôi biết bụi làm gót chân anh ngứa, và hôm nay tôi có mười phút. Trước khi rời nhà, tôi đổ nước ấm vào bình giữ nhiệt đỏ, để cạnh chìa khóa của anh. Rồi tôi mang chùm chìa khóa của mình đi làm. Tối đó, Hoài Túc về trước tôi. Anh thấy đôi giày đã khô. Khi tôi mở cửa căn áp mái, máy giặt đứng im, bình đỏ nằm trên bàn, đầy nước mới. Anh không nói cảm ơn. Tôi cũng không hỏi anh đã tha thứ hết chưa. Tôi tháo giày, anh dịch chân cho tôi ngồi xuống mép chiếu. Ngoài cửa sổ, khí nóng trên mái tôn tan chậm. Không có mưa. Không có căn nhà miễn phí, quỹ sáu tháng hay khoản thưởng quay lại. Nợ vẫn còn mười một kỳ. Sáng mai anh vẫn phải đưa cha đi tập. Chí Duy vẫn phải đến bếp trung tâm. Hai gia đình vẫn có lúc nhìn chúng tôi như hai người cố làm khó một phương án rất tiện. Nhưng trong căn nhà này, không ai đem thời gian của người kia đi hứa. Máy giặt đã được kê bằng phần việc Hoài Túc nhận. Đôi giày đã được hong bằng mười phút tôi tự có. Hai việc nối nhau, không thay ca cho nhau. Tám tháng sau lễ cưới, tôi mới hiểu chúng tôi không cưới vì cả hai đều chịu được nhiều việc. Chúng tôi cũng không cưới để trở thành người có thể bị điều đến mọi chỗ trống của hai gia đình. Chúng tôi cưới để có một căn nhà, dù nóng và chật, nơi mỗi người nói rõ phần mình, rồi đôi khi tự nguyện để lại cho người kia một bình nước ấm.