Tôi đập vỡ lọ nước hoa trước mặt ba mươi bảy phóng viên vào lúc người chủ trì vừa tuyên bố bản di chúc hoàn toàn hợp lệ. Tiếng thủy tinh nổ trên mặt bàn gỗ mun nghe sắc hơn tiếng máy ảnh. Chất lỏng màu hổ phách chảy qua tờ biên bản, nhỏ xuống tấm thảm xanh sẫm của hội trường Thịnh Hương. Một nhân viên pháp chế bật dậy. Hai thành viên hội đồng cùng gọi bảo vệ. Ở hàng ghế đầu, Tạ Minh Châu nhìn tôi như thể tôi vừa đập nát không phải một lọ hương, mà là giá cổ phiếu của cả tập đoàn. Chỉ có Cố Trạch Ngôn không cử động. Anh đứng bên cửa kính, bộ vest than chì gần như hòa vào nền trời mưa của Lâm Châu. Bàn tay trái đặt hờ trên chiếc đồng hồ cũ. Vết bỏng mờ ở cổ tay lộ ra dưới mép tay áo, nhưng ánh mắt anh chỉ dừng ở lớp hương đang lan trên mặt bàn. Tạ Minh Châu giật micro khỏi tay người chủ trì. “Cô Tống, cô vừa phá hủy vật chứng được niêm phong.” “Tôi vừa mở nó theo đúng điều khoản kiểm định công khai.” Tôi đặt mảnh thủy tinh còn dính sáp niêm phong xuống khay bạc. “Và tôi đề nghị mọi người đừng tin lời tôi ngay.” Câu nói ấy khiến cả hội trường im đi một nhịp. Tôi quay sang ba chuyên gia độc lập đang ngồi ở bàn đối chứng. Không ai trong số họ thuộc Thịnh Hương. Một người phụ trách phòng thí nghiệm nguyên liệu của Viện Hương Phổ, một người là giám định viên thương mại, người còn lại chuyên nghiên cứu chất định hương tổng hợp. Trước buổi công bố, họ chỉ được biết mình sẽ đánh giá một mẫu vô danh. “Tầng đầu là cam đắng và lá mộc tê,” tôi nói. “Tầng giữa có gỗ tuyết tùng đã ủ. Nhưng lớp lưu hương cuối cùng chứa một thứ không thể tồn tại trong bản di chúc này. Xin ba vị xác nhận độc lập.” Người của Viện Hương Phổ cúi xuống dải giấy thử. Giám định viên tháo kính, ngửi lại lần thứ hai. Chuyên gia chất định hương nhìn tôi rất lâu rồi mới bật micro. “Có dấu của Tinh Neo Bảy.” Một làn xôn xao chạy khắp hội trường. Tạ Minh Châu siết chặt thân micro. “Một tên thương mại không chứng minh điều gì.” “Đúng.” Tôi nhìn thẳng vào bà ta. “Ngày thương mại hóa mới chứng minh.” Tôi đưa bản chứng nhận lên màn hình lớn. Con số hiện ra trên nền trắng, rõ đến mức không ai có thể giả vờ không đọc thấy. Tinh Neo Bảy được bán ra lần đầu mười bốn tháng sau ngày Cố lão tiên sinh qua đời. Tôi nghe ai đó ở cuối phòng đánh rơi điện thoại. “Vì vậy,” tôi nói, “mùi hương trong két không thể do người đã mất tạo ra. Nó được pha sau khi ông qua đời.” Ba tuần trước, tôi còn nghĩ rắc rối lớn nhất đời mình là giữ cho xưởng Mộc Tê không bị chủ nợ mang mất chiếc máy chưng cất cuối cùng. Sáng hôm đó, trời Lâm Châu mưa bụi. Nước từ mái hiên rơi đúng vào chiếc xô nhôm đặt cạnh cửa, cứ bảy giây lại kêu một tiếng coong. Tôi ngồi giữa những kệ gỗ cũ, kiểm tra mười hai túi rễ diên vĩ vừa được giao đến. Trên giấy tờ, đó là lô nguyên liệu loại một từ vùng trồng Bạch Sa. Trong tay tôi, nó có mùi đất ẩm quá nặng, lớp phấn trên bề mặt lại mịn bất thường. Người giao hàng khoanh tay trước ngực. “Cô Tống, bên tôi đã cho cô chậm thanh toán hai tháng. Hôm nay hoặc nhận lô hàng và ký gia hạn, hoặc chúng tôi thu máy chưng cất.” Tôi bẻ một lát rễ, đưa lên dưới đèn. Phần ruột trắng bở, không có những vòng sợi mảnh đặc trưng của rễ ba năm tuổi. “Đây là rễ một năm đã xử lý bột khoáng để tăng trọng lượng.” “Cô đừng nói dựa vào cảm giác.” “Tôi không nói dựa vào cảm giác.” Tôi đặt lát rễ lên cân tiểu ly, nhỏ một giọt dung dịch thử vào phần bột vừa cạo. Màu trong suốt chuyển sang xám đục. “Canxi silicat. Lô này nặng hơn thực tế gần mười tám phần trăm. Mã vùng trồng cũng sai. Bạch Sa buộc dây kiện màu lam trong mùa mưa, không dùng dây vàng.” Người giao hàng nhìn cuộn dây trên bàn, vẻ mặt thay đổi. Tôi kéo hợp đồng cũ ra. Điều khoản chất lượng được đánh dấu bằng bút đỏ từ lần thương lượng đầu tiên. “Nếu nhà cung cấp giao hàng giả cấp độ, toàn bộ công nợ đang tranh chấp được tạm dừng cho đến khi có giám định. Anh có thể mang máy của tôi đi, nhưng trước hết hãy ký xác nhận rằng công ty anh dùng tài sản để ép bên mua nhận nguyên liệu không đúng hồ sơ.” Người đàn ông không ký. Anh ta gọi hai cuộc điện thoại, nói nhỏ ngoài cửa rồi quay vào kéo lô hàng lên xe. Trước khi đi, anh ta để lại một câu rằng Mộc Tê sớm muộn cũng đóng cửa. Tôi đóng cửa sau lưng anh ta, dựa trán lên lớp kính lạnh và thở ra. Tôi đã thắng được một buổi sáng. Tiền thuê xưởng vẫn chậm mười một ngày. Điện chỉ đủ trả đến cuối tuần. Trong tài khoản, số dư còn ít hơn giá của nửa cân tinh dầu hoa cam đạt chuẩn. Chiếc chuông gió bằng gỗ mộc tê trên cửa rung lên. Một người trẻ tuổi đeo kính tròn bước vào, gập ô rất cẩn thận để nước không bắn lên sàn. Cậu mặc áo sơ mi sáng màu, ôm một cặp hồ sơ có logo Thịnh Hương. “Tôi tìm chuyên gia Tống Vãn Chi.” “Tôi đây.” Cậu nhìn quanh xưởng, có lẽ đang cố đối chiếu nơi chật hẹp này với chức danh in trên danh thiếp của tôi. “Tôi là Cố Dư An, thực tập sinh pháp chế của Tập đoàn Thịnh Hương.” “Tập đoàn lớn đến mức phải cử thực tập sinh đi mời chuyên gia sao?” Cố Dư An đẩy kính. “Ban đầu họ định cử trợ lý cấp cao. Nhưng ba người trước đều bị cô từ chối qua điện thoại.” “Tôi từ chối vì họ không nói rõ công việc.” “Vì vậy tôi mang bản mô tả không bảo mật đến.” Cậu đặt tập hồ sơ xuống. “Thịnh Hương cần xác thực một di sản mùi hương.” Tôi không mở hồ sơ ngay. Trong giới phục dựng, cái tên Thịnh Hương giống một tòa nhà có quá nhiều cửa. Họ sở hữu vùng trồng, nhà máy, chuỗi bán lẻ và cả quỹ nghiên cứu. Người sáng lập, Cố lão tiên sinh, nổi tiếng vì có thể nhớ hàng nghìn công thức nhưng không tin hoàn toàn vào giấy tờ. Sau khi ông mất, tranh chấp thừa kế kéo dài gần hai năm. Báo chí nói trong két riêng còn một bản di chúc chưa được giải mã. “Tại sao là tôi?” “Vì cô từng phục dựng công thức Mưa Trên Ngói Cũ từ một mảnh sổ cháy và hai mẫu gỗ.” “Công trình đó không công khai tên khách hàng.” “Khách hàng đồng ý cho chúng tôi xác minh năng lực, không cung cấp công thức.” Cố Dư An nói nhanh, như thể đã học thuộc câu trả lời. “Ngoài ra, cô không có quan hệ tài chính với bất kỳ thành viên hội đồng nào.” “Tức là tôi đủ giỏi và đủ nghèo để chưa bị ai mua.” Mặt cậu đỏ lên. “Tôi không có ý đó.” “Nhưng người giao việc có.” Tôi mở hồ sơ. Trang đầu chỉ ghi phạm vi sơ bộ: kiểm tra tình trạng niêm phong, xác định cấu trúc tầng hương, đối chiếu nguyên liệu với sổ lưu trữ và lập kết luận độc lập. Mức phí đủ để trả toàn bộ nợ của Mộc Tê, thay mái dột và mua lại một tháng nguyên liệu. Chính vì quá đủ nên tôi càng không tin. “Điều khoản bảo mật đâu?” “Chỉ được xem tại trụ sở.” “Quyền lưu mẫu?” “Chưa có.” “Quyền báo cáo sai phạm?” Cố Dư An im lặng. Tôi đóng hồ sơ. “Không nhận.” Cậu không bất ngờ. Cậu lấy từ cặp ra một phong bì thứ hai. “Giám đốc Cố nói nếu cô từ chối, hãy đưa cô cái này.” Bên trong là một bản sao nhãn lô nguyên liệu cũ. Giấy đã ngả vàng, góc dưới in hình cành mộc tê và một dãy số viết tay. Tôi nhận ra nét ký hiệu của kho lưu trữ Hương Phổ. Điều khiến tôi khựng lại là dòng ghi chú ở mép giấy: mẫu đối chứng không được hủy dù hội đồng yêu cầu. Người ký là mẹ tôi. Tống Nhược Lam mất khi tôi mười bảy tuổi. Bà từng làm kỹ thuật viên lưu trữ theo hợp đồng ngắn hạn, nhưng chưa bao giờ kể rằng mình đã chạm vào di sản của Thịnh Hương. “Tờ này ở đâu?” “Trong hộp hồ sơ đi kèm két di chúc.” “Giám đốc Cố đã xem bản gốc?” “Anh ấy là người yêu cầu sao cho cô. Nhưng anh ấy nói quyền quyết định vẫn thuộc về cô.” Tôi nhìn khoản phí trên trang đầu, rồi nhìn chữ ký của mẹ. Hai lý do ấy kéo tôi theo hai hướng khác nhau. Một lý do có thể cứu xưởng. Lý do còn lại có thể phá hỏng phần ký ức tôi vẫn tưởng mình hiểu rõ. “Tôi sẽ đến nghe điều kiện,” tôi nói. “Chỉ nghe. Chưa nhận việc.” Trụ sở Thịnh Hương nằm bên bờ sông Miên, là một khối đá xám và kính xanh dựng trên nền nhà máy cũ. Sảnh không xịt hương như những thương hiệu phổ thông. Không khí gần như sạch mùi, để khách bước vào với khứu giác chưa bị dẫn dắt. Cố Dư An đưa tôi lên tầng ba mươi mốt. Cửa phòng họp mở ra trước khi cậu kịp gõ. Người đàn ông đứng bên bàn dài quay lại. Tôi nhận ra Cố Trạch Ngôn từ những bài báo tài chính: người thừa kế bị ghét nhất của Thịnh Hương, giám đốc vận hành tạm quyền, kẻ bị đồn đã làm cháy xưởng thử nghiệm của cha mình rồi dùng tai nạn để loại đối thủ khỏi chuỗi cung ứng. Ngoài đời, anh không có vẻ kiêu ngạo như ảnh. Anh có vẻ thiếu ngủ. Tóc đen cắt ngắn, suit than chì không gắn ghim thương hiệu, cổ tay trái có một vết bỏng mờ. Trên bàn trước mặt anh là ba bản hợp đồng và một chiếc đồng hồ cũ đã tháo khỏi tay. “Cô Tống.” Anh chỉ chiếc ghế đối diện. “Cảm ơn cô đã đến.” “Tôi chưa nhận việc.” “Tôi biết.” “Và tôi không thích việc anh dùng chữ ký của mẹ tôi làm mồi.” Cố Dư An đứng phía sau khẽ hít vào. Cố Trạch Ngôn chỉ nhìn tôi. “Nếu tôi giấu nó đến sau khi cô ký hợp đồng, đó mới là dùng làm mồi. Tôi đưa trước để cô biết mình có xung đột cá nhân và tự quyết định.” Câu trả lời hợp lý đến mức làm tôi khó chịu. “Tại sao anh cần bản di chúc?” “Vì hội đồng sẽ bỏ phiếu bán kho giống và sáp nhập bộ phận nghiên cứu trong mười tám ngày nữa. Bản di chúc có thể thay đổi quyền biểu quyết.” “Và giúp anh giữ ghế.” “Có thể.” “Anh không phủ nhận?” “Phủ nhận một lợi ích tồn tại không làm nó biến mất.” Anh đẩy hợp đồng về phía tôi. “Vì vậy cô không báo cáo cho tôi. Cô báo cáo cho tổ giám sát gồm ba bên, giữ bản sao dữ liệu và có quyền dừng kiểm định nếu chuỗi bảo quản bị can thiệp.” Tôi đọc từng trang. Điều khoản vẫn chưa đủ. “Tôi giữ một phần mẫu đối chứng sau mỗi lần mở niêm phong.” “Được, nếu lượng mẫu cho phép và có biên bản.” “Tôi tự chọn phòng thử nghiệm độc lập.” “Được.” “Nếu phát hiện dấu hiệu làm giả hoặc nguy cơ an toàn, bảo mật không ngăn tôi báo cơ quan có thẩm quyền.” Anh im lặng hai giây. “Pháp chế sẽ phản đối.” “Vậy tôi về.” Tôi đứng lên. Cố Trạch Ngôn không giữ tay, không chắn cửa, cũng không nhắc khoản tiền có thể cứu xưởng. Anh chỉ quay sang Cố Dư An. “Sửa điều khoản theo nguyên văn cô Tống vừa nói. Thêm quyền lưu mẫu và quyền từ chối mọi chỉ đạo làm thay đổi kết luận chuyên môn.” Cố Dư An mở máy tính. “Còn mức phí?” “Giữ nguyên.” Tôi chưa ngồi xuống. “Anh đồng ý quá nhanh.” Cố Trạch Ngôn đeo lại chiếc đồng hồ cũ. “Tôi thuê cô vì cô sẽ không ký thứ mình chưa kiểm tra. Nếu hợp đồng buộc cô làm ngược lại, tôi đang trả tiền để phá hỏng lý do duy nhất khiến cô có mặt ở đây.” Ngoài cửa kính, mưa phủ sông Miên thành một dải bạc. Tôi nhìn vết bỏng trên cổ tay anh, nhớ đến câu chuyện về vụ cháy và tự nhắc mình rằng người nói đúng một câu chưa chắc là người đáng tin. “Tôi còn một điều kiện,” tôi nói. “Không ai được gọi đây là di chúc hợp lệ trước khi tôi xác định nó thực sự do Cố lão tiên sinh tạo ra.” “Đồng ý.” “Ngay cả anh.” “Nhất là tôi.” Tôi ngồi lại, cầm bút nhưng chưa ký. “Ngày mai tôi xem két, phòng lưu trữ và toàn bộ nhật ký ra vào trước. Nếu có một dấu niêm phong không khớp, hợp đồng chấm dứt.” Cố Trạch Ngôn gật đầu. “Chín giờ. Cô Tống tự mang dụng cụ. Không ai của Thịnh Hương chạm vào mẫu trước khi cô đến.” Lúc tôi đặt bút xuống trang cuối, tôi nghĩ mình vừa nhận một công việc có thể cứu Mộc Tê. Tôi chưa biết chiếc két ấy sẽ mở ra ba hộp hương, một cuốn sổ bị xé mất trang và bí mật đủ sức thiêu cháy danh tiếng của hai gia đình lần thứ hai. Chín giờ kém mười sáng hôm sau, tôi có mặt tại khu lưu trữ cũ của Thịnh Hương với hai vali dụng cụ, một máy ảnh không nối mạng và ba cuộn băng niêm phong mang số riêng. Tòa nhà nằm sau trụ sở chính, thấp hơn và cũ hơn, tường xây bằng gạch xám đã ngấm mùi thời tiết. Lục Hoài Sinh chờ tôi ở cửa. Ông từng quản lý Viện Hương Phổ hơn ba mươi năm, nay đã nghỉ hưu nhưng vẫn giữ tư cách giám sát độc lập cho di sản của Cố lão tiên sinh. Tóc ông bạc gần hết, kính gọng mảnh, áo len nâu có một vệt phấn gỗ ở tay áo. “Cô giống Tống Nhược Lam ở cách nhìn ổ khóa trước khi nhìn người,” ông nói. “Ông biết mẹ tôi?” “Biết trong một mùa kiểm kê. Bà ấy không nói nhiều, nhưng đã cãi với hội đồng ba ngày để giữ lại một mẫu mà người khác muốn hủy.” Tôi định hỏi mẫu nào thì Cố Trạch Ngôn bước vào cùng hai luật sư và Tạ Minh Châu. Tạ Minh Châu mặc suit đỏ rượu, tóc bob ôm sát gương mặt. Bà ta nhìn vali của tôi rồi nhìn đồng hồ. “Chúng ta đang mở di chúc, không chuyển nhà.” “Tôi cũng hy vọng không phải chuyển két vì ai đó làm hỏng chuỗi bảo quản.” Khóe môi Cố Dư An giật nhẹ. Cậu đứng sau nhóm pháp chế, ôm máy tính bảng như ôm một tấm khiên. Căn phòng két không có cửa sổ. Trên tường là cảm biến nhiệt độ, độ ẩm và camera lưu hình cục bộ. Tôi kiểm tra nhật ký trước. Trong hai năm, cửa chính được mở sáu lần để bảo trì nhưng két chỉ ghi một lần tiếp xúc vào ngày niêm phong. Tất cả dấu sáp trên mép két đều mang cùng một con dấu hoa mộc tê, tuy nhiên góc dưới bên phải có một đường nứt mảnh. Tạ Minh Châu khoanh tay. “Sáp già thì nứt.” “Đúng. Nhưng bụi phải nằm trong vết nứt nếu nó hình thành tự nhiên.” Tôi soi kính phóng đại. “Vết này sạch. Có thể mới hơn bề mặt xung quanh.” Không khí trong phòng đổi khác. Cố Trạch Ngôn không hỏi tôi có chắc không. Anh yêu cầu camera chuyển sang chế độ lưu kép rồi giao một bản ghi cho Lục Hoài Sinh. Tôi chụp từng mặt két, lấy mẫu bụi ở bốn điểm và đánh số. Sau khi cả ba bên ký biên bản, Lục Hoài Sinh đọc mã cơ. Cố Trạch Ngôn tra chìa khóa. Tôi cắt lớp sáp tại đường đã định, giữ nguyên từng mảnh trong túi bằng chứng. Cửa két mở ra với tiếng kim loại nặng nề. Bên trong không có xấp cổ phiếu hay một tờ di chúc đóng dấu đỏ như người ta tưởng. Có ba hộp gỗ đen xếp thành hàng, một cuốn sổ bìa da, một chiếc vòng gỗ mộc tê và một phong bì giấy dó. Trên nắp mỗi hộp chỉ có một ký hiệu: lá, thân cây và rễ. Tôi đeo găng mới. Cuốn sổ có hai mươi chín trang được đánh số, nhưng từ trang mười bảy nhảy sang trang hai mươi. Mép gáy cho thấy ba tờ đã bị xé, không phải rơi tự nhiên. Chiếc vòng gỗ có tám hạt, một hạt sẫm màu hơn và mang vết xước hình chữ thập. Phong bì chứa một câu viết tay. “Người nhận được Thịnh Hương phải ngửi được điều ta không viết, giữ được điều không sinh lời và trả lại tên cho người đã tạo ra nó.” Tạ Minh Châu bật cười rất khẽ. “Một câu đố. Hai năm tranh chấp chỉ vì một câu đố.” “Không.” Tôi mở hộp mang ký hiệu lá sau khi kiểm tra niêm phong riêng. Bên trong là ba lọ nhỏ, mỗi lọ có nút thủy tinh mài. “Đây là một cấu trúc chỉ dẫn.” Tôi đặt một giọt từ lọ đầu lên giấy thử. Cam đắng bốc lên trước, sau đó là lá mộc tê còn xanh và chút mùi kim loại lạnh. Lọ thứ hai có gỗ tuyết tùng, trà hun rất nhẹ và một lớp nhựa thơm. Lọ thứ ba gần như không có mùi ở phút đầu, chỉ khi giấy ấm lên trong tay mới để lại một vệt hương khô, dài và dai. “Ba lọ không phải ba công thức tách biệt,” tôi nói. “Chúng là ba tầng hương của cùng một thông điệp. Tầng đầu chỉ đường. Tầng giữa xác nhận nơi chốn. Tầng cuối dùng để kiểm tra tính xác thực.” Lục Hoài Sinh gật đầu. “Cố lão tiên sinh từng gọi cách này là di chúc khứu giác.” Tạ Minh Châu quay sang ông. “Tại sao trước đây ông không nói?” “Vì trước đây chưa ai mở két đúng thủ tục.” Tôi bắt đầu với tầng đầu. Cam đắng và lá mộc tê không phải tổ hợp đặc biệt, nhưng tỷ lệ kim loại lạnh đến từ nước chưng qua ống đồng cũ. Thịnh Hương đã thay toàn bộ ống đồng bằng thép không gỉ mười năm trước. Chỉ còn một nơi giữ hệ thống cũ: kho giống cây phía bắc, nơi bảo tồn những gốc mộc tê đầu tiên của tập đoàn. Tạ Minh Châu lập tức phản đối việc rời mẫu khỏi phòng. Tôi không cần mang mẫu đi. Tôi niêm phong giấy thử, giữ phần đối chứng theo hợp đồng và yêu cầu kiểm tra kho giống. Khi chúng tôi ra hành lang, bà ta đưa tôi một tập giấy mới. “Thỏa thuận bảo mật bổ sung. Di sản có thể ảnh hưởng thị trường. Cô ký trước khi đến cơ sở khác.” Tôi đọc ba trang đầu. Điều khoản thứ bảy cấm tiết lộ mọi thông tin gây bất lợi cho Thịnh Hương, kể cả khi phát hiện sai phạm chưa có kết luận cuối cùng. Điều khoản thứ chín trao cho tập đoàn quyền giữ toàn bộ ghi chép của tôi khi hợp đồng kết thúc. “Tôi không ký.” “Đây là quy trình bắt buộc.” “Không có trong hợp đồng hôm qua.” “Vậy hôm qua pháp chế đã bỏ sót.” Tạ Minh Châu đặt bút lên giấy trước mặt tôi. Cử chỉ nhỏ, giọng nói mềm, nhưng ý nghĩa rất rõ: muốn đi tiếp thì phải giao quyền lên tiếng. Tôi đóng nắp bút của bà ta. “Nếu đây là điều kiện mới, tôi dừng kiểm định. Mẫu đối chứng và biên bản hiện tại sẽ được niêm phong tại bên thứ ba theo hợp đồng.” “Cô Tống, xưởng của cô đang nợ bao nhiêu?” Tôi nhìn bà ta. “Tôi chỉ muốn nhắc rằng một hợp đồng tốt không dễ có lần thứ hai.” Cố Trạch Ngôn bước đến. Anh không đứng chắn trước tôi mà cầm bản bổ sung lên đọc. Càng đọc, vẻ mặt anh càng lạnh. “Cố Dư An, hủy văn bản này.” Tạ Minh Châu nói: “Đây là yêu cầu của ban thương hiệu và hai thành viên hội đồng.” “Không phải yêu cầu của tổ giám sát.” Anh xé phần ký tên khỏi bản của mình, không chạm đến bản đang nằm trong tay tôi. “Soạn lại: bảo mật không giới hạn quyền tố giác, không thu hồi ghi chép chuyên môn, không cấm báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền.” “Anh đang trao cho một người ngoài quyền phá hủy tập đoàn.” Cố Trạch Ngôn nhìn tôi rồi nhìn bà ta. “Không. Tôi đang từ chối trao cho tập đoàn quyền sở hữu sự im lặng của cô ấy.” Đó là lần đầu tiên tôi tin anh thêm một chút. Không phải vì câu nói hay, mà vì anh sửa một văn bản có lợi cho mình trước mặt những người có thể dùng nó để hạ bệ anh. Kho giống nằm cách trung tâm Lâm Châu hơn một giờ xe. Mưa dừng khi chúng tôi đến, để lại mùi đất ướt và lá non trong không khí. Những cây mộc tê già mọc thành từng dãy trên triền thấp, thân cây sần sùi, cành được buộc thẻ kim loại. Nhà chưng cất cũ đứng cuối vườn, mái ngói phủ rêu. Người quản lý kho nói toàn bộ hồ sơ đã được số hóa. Tôi yêu cầu xem cả sổ giấy. Trong lọ hương tầng đầu có dấu sắt từ nước đi qua ống đồng vá bằng mối hàn đặc biệt. Trên mỗi thân cây ở kho giống, mã lô cũng dùng bốn nhóm số. Tôi ghép nồng độ của bốn thành phần chính với dãy số trên chiếc vòng gỗ. Hạt sẫm màu đánh dấu vị trí đảo thứ tự. Kết quả là mã lô MỘC TÊ SỐ MƯỜI BẢY, MÙA THU NĂM CŨ. Người quản lý dẫn chúng tôi đến cây số mười bảy. Dưới nhãn kim loại mới là một lớp nhãn cũ được gấp vào trong. Tôi tháo theo biên bản. Mặt sau có một dòng chữ cực nhỏ: “Không tìm hoa. Hãy tìm phần đã bị lấy khỏi rễ.” Cố Dư An ngồi xổm bên gốc cây. “Chẳng lẽ phải đào lên?” “Không ai bảo cậu đào cây của quỹ bảo tồn,” tôi nói. “Rễ có thể là ký hiệu cho tầng thấp nhất của hệ thống lưu trữ.” Nhà chưng cất có một kho ngầm. Trên sơ đồ, tầng hầm chỉ dùng chứa chai rỗng, nhưng bậc thang thứ mười bảy phát tiếng rỗng khi tôi gõ cán đèn. Bên dưới tấm gỗ là một ngăn hẹp, vừa đủ đặt hộp thiếc. Trong hộp có một cuộn nhãn lô, một chìa khóa nhỏ và lọ mẫu mang cùng số niêm phong với tầng hương thứ ba trong két. Lục Hoài Sinh tháo kính lau hai lần. “Mẫu đối chứng cá nhân.” Tôi không mở ngay. Số niêm phong đúng, nhưng lượng chất lỏng thấp hơn mức ghi trên nhãn. Nút chai có vết mài mới. Ai đó đã tìm thấy hộp trước chúng tôi và lấy đi một phần. Cố Trạch Ngôn gọi người khóa toàn bộ kho. Tôi ngăn anh. “Khóa bây giờ sẽ báo cho người đã chạm vào mẫu rằng chúng ta phát hiện. Tôi cần đối chiếu trước.” “Cô muốn mở tại đây?” “Trong phòng sạch tạm thời, có camera và ba bên chứng kiến.” Tôi dùng chìa khóa trong hộp mở ngăn dưới đáy bàn chưng cất. Bên trong có giấy lọc cũ, ống hút thủy tinh và một trang sổ bị xé. Trang mang số mười bảy, ghi công thức nền của lớp hương cuối. Không có tên chất định hương, chỉ có ký hiệu một chiếc neo với bảy vạch. Tôi mở lọ đối chứng. Mùi đầu giống hệt mẫu trong két. Nhưng sau mười hai phút, chúng tách ra. Mẫu trong két bám trên giấy thử bằng một độ khô lạnh, gần như vô cảm. Mẫu dưới kho ngầm dịu dần thành gỗ ấm và hạt mộc tê rang. Sự khác biệt nhỏ đến mức người không quen có thể nghĩ do bảo quản. Với tôi, đó là hai chữ ký khác nhau. “Tầng hương thứ ba đã bị thay,” tôi nói. Cố Trạch Ngôn đứng bên kia bàn. “Mẫu nào là thật?” “Chưa kết luận. Mẫu dưới này cũng đã bị rút bớt và có dấu mở. Tôi chỉ kết luận chúng không cùng một mẻ.” Tạ Minh Châu, vừa đến sau khi nghe báo, nhìn thẳng vào anh. “Người có quyền vào két là thành viên gia tộc. Người biết kho giống cũng là người trong gia tộc. Anh đang muốn chúng tôi nghi ai?” Cố Trạch Ngôn không đáp. Tôi nhớ lời đồn về vụ cháy. Nhớ chiếc đồng hồ cũ, vết bỏng và việc anh cần bản di chúc để giữ quyền lực. Anh đã cho tôi quyền độc lập, nhưng một người thông minh vẫn có thể trao cho giám định viên đủ tự do để cô ấy đi đúng con đường hắn chuẩn bị. “Tôi cần xem toàn bộ vật anh giữ riêng liên quan đến cuốn sổ,” tôi nói. Ánh mắt anh thay đổi rất nhẹ. Tôi biết mình đã đoán trúng. “Không có gì,” anh nói. “Cố Trạch Ngôn, ba trang bị xé. Trang mười bảy nằm dưới kho. Người đưa chữ ký của mẹ tôi cho tôi là anh. Anh đã biết cuốn sổ thiếu trang trước khi mở két.” Cố Dư An nhìn anh, bối rối thật sự. Lục Hoài Sinh lặng lẽ đóng cửa phòng. Tôi tháo găng, đặt lên bàn. “Nếu anh tiếp tục giấu, tôi dừng ở đây.” Cố Trạch Ngôn nhìn mẫu trong két rồi nhìn lọ đối chứng. Sau cùng, anh lấy chìa khóa xe đặt vào tay Cố Dư An. “Trong hộp an toàn dưới ghế sau có một túi chống cháy. Mang vào đây, không mở.” Mười phút sau, trên bàn có thêm hai mảnh giấy cháy sém. Một mảnh là phần cuối trang mười tám. Mảnh còn lại chỉ còn nửa dấu hoa mộc tê và vài chữ: “quyền tác giả không thuộc về người trả tiền.” “Anh lấy chúng ở đâu?” “Trong xưởng thử nghiệm sau vụ cháy tám năm trước.” “Vụ cháy mà người ta nói anh gây ra.” “Đúng.” “Anh giữ vật chứng tám năm và không giao?” “Hôm đó nếu tôi giao, bốn mươi ba công nhân hợp đồng sẽ bị quy tội đánh cắp công thức. Cha tôi đã ký một lệnh xuất nguyên liệu ngoài sổ để che khoản thử nghiệm. Hội đồng cần một người nhận trách nhiệm. Tôi nói mình tự ý vào xưởng.” “Anh nhận tội thay?” “Tôi nhận phần tôi có thể chịu.” “Và để mọi người nghĩ anh đốt xưởng?” “Không ai hỏi câu chuyện nào ít sai nhất.” Tôi giận anh vì đã giấu. Tôi cũng hiểu tại sao anh không đưa mảnh giấy cho một hội đồng đang tìm người tế. Hai cảm giác không loại trừ nhau. “Từ giờ mọi thứ anh giữ phải vào biên bản,” tôi nói. “Không còn hộp dưới ghế xe, không còn lý do chưa thể nói.” “Nếu việc công khai làm hại người không liên quan?” “Anh nói với tôi nguy cơ cụ thể. Chúng ta xin đồng ý của họ hoặc che thông tin cá nhân theo luật. Anh không được tự quyết rằng tôi nên biết bao nhiêu.” Cố Trạch Ngôn gật đầu. “Được.” Tạ Minh Châu cười nhạt. “Hai người lập liên minh nhanh thật.” “Tôi chưa liên minh với ai,” tôi nói. “Tôi chỉ đang buộc mọi bên chịu cùng một tiêu chuẩn.” Chiều đó, tôi lập bốn mẫu: mẫu trong két, mẫu kho ngầm, cặn trên trang sổ cháy và mẫu trắng. Mỗi mẫu được chia ba, niêm phong tại Mộc Tê, Viện Hương Phổ và phòng thí nghiệm độc lập. Tôi giữ bản ghi chuỗi bảo quản trên giấy, trên ổ cứng ngoại tuyến và trong két ngân hàng. Khi chúng tôi trở về thành phố, trời đã tối. Cố Trạch Ngôn dừng xe trước Mộc Tê nhưng không xuống. “Cô vẫn nghi tôi tráo mẫu?” “Có.” “Thẳng thắn thật.” “Anh thuê tôi vì điều đó.” Anh nhìn chiếc chuông gỗ trên cửa xưởng. “Cô có tin mảnh sổ tôi đưa là thật không?” “Giấy và mực đúng tuổi tương đối. Mép cháy khớp ảnh hiện trường. Nhưng tin vật không đồng nghĩa tin người giữ vật.” “Vậy tôi còn phải làm gì?” “Ngày mai, công khai mảnh sổ với tổ giám sát. Chấp nhận rằng nó có thể không minh oan cho anh.” Cố Trạch Ngôn tháo đồng hồ, xoay mặt kính xước dưới ánh đèn đường. “Đồng hồ này dừng lúc xưởng cháy. Cha tôi đưa lại sau khi tôi ra viện, bảo đừng bao giờ sửa. Tôi từng nghĩ ông muốn tôi nhớ lỗi của mình.” “Bây giờ?” “Bây giờ tôi nghĩ ông sợ tôi nhớ lỗi của người khác.” Tôi không biết phải an ủi thế nào mà không biến một giả thuyết thành sự thật. Vì vậy tôi chỉ nói điều mình chắc chắn. “Ngày mai anh công khai. Sau đó chúng ta để bằng chứng tự nói.” Anh đeo đồng hồ lại. “Tôi sẽ làm.” Khi xe anh rời đi, tôi mở cửa xưởng. Trên sàn có một phong bì không đề tên. Bên trong là ảnh chụp tôi nhận hợp đồng từ Cố Dư An, bản kê nợ của Mộc Tê và một dòng chữ in bằng máy. Nếu cô kết luận mẫu bị tráo, chủ nợ sẽ đến trước khi báo cáo của cô kịp được đọc. Tôi nhìn chiếc máy chưng cất trong bóng tối. Lần đầu tiên kể từ khi nhận việc, mối đe dọa không còn nằm trong một lọ hương hay trang giấy cũ. Nó đã biết địa chỉ nhà tôi. Tôi không gọi Cố Trạch Ngôn ngay. Việc đầu tiên tôi làm là chụp phong bì trong trạng thái nguyên vẹn, đeo găng, đặt nó vào túi bằng chứng rồi gọi cảnh sát khu vực lập biên bản. Việc thứ hai là chuyển bản kê nợ trên tường xưởng sang ngăn khóa. Việc thứ ba mới là gọi cho anh. Cố Trạch Ngôn đến sau mười chín phút, nhanh hơn quãng đường từ nhà anh đến Mộc Tê ít nhất mười phút. Anh bước vào với tóc còn ướt mưa, nhìn phong bì trên bàn rồi nhìn cửa sau. “Cô có thấy người để lại không?” “Không.” “Tối nay cô không nên ở đây.” “Tôi sẽ quyết định mình ở đâu.” Anh dừng lại. Sự lo lắng trên mặt không biến mất, nhưng giọng nói hạ xuống. “Đúng. Cô muốn tôi làm gì?” “Kiểm tra camera công cộng quanh phố bằng yêu cầu hợp pháp. Không cho người của Thịnh Hương tự lấy dữ liệu. Và sáng mai vẫn công khai mảnh sổ.” “Họ đã biết chúng ta tìm thấy nó.” “Càng phải công khai. Bí mật chỉ có giá để đe dọa khi nó còn nằm trong tay một người.” Anh nhìn tôi rất lâu rồi gật đầu. “Tôi sẽ đề nghị tổ giám sát phát trực tiếp nội bộ và lưu bản sao bên thứ ba.” “Còn tối nay, anh về đi.” “Cô định ở lại?” “Tôi có khóa, cảm biến cửa và hàng xóm bán mì thức đến hai giờ sáng.” “Đó không phải hệ thống an ninh.” “Nhưng là lựa chọn của tôi.” Cố Trạch Ngôn kéo một chiếc ghế, ngồi xuống cách bàn làm việc của tôi một khoảng vừa đủ. “Vậy tôi có thể ngồi đây với tư cách khách hàng cho đến khi cô khóa mẫu vào két ngân hàng không?” “Tôi chưa mời.” “Tôi đang hỏi.” Tôi nhìn đôi giày dính nước của anh, rồi nhìn vết bỏng ở cổ tay trái. Anh có thể điều người đến canh cửa, có thể dùng chức vụ ra lệnh, nhưng anh ngồi đó chờ câu trả lời. “Anh được ở lại đến khi xe ngân hàng tới,” tôi nói. “Không đụng vào mẫu. Và lau nước dưới chân.” Cố Trạch Ngôn lấy khăn giấy, cúi xuống lau thật. Sáng hôm sau, anh công khai hai mảnh sổ trước tổ giám sát. Không né tránh việc đã giữ chúng tám năm, không tô mình thành người hy sinh. Anh trình bày vụ cháy, quyết định nhận trách nhiệm và danh sách bốn mươi ba công nhân hợp đồng có thể bị ảnh hưởng. Sau đó anh giao vật chứng cho Lục Hoài Sinh niêm phong. Một thành viên hội đồng hỏi tại sao họ phải tin người từng nói dối. Cố Trạch Ngôn đáp: “Không cần tin tôi. Hãy kiểm tra giấy, mực, mép cháy và hồ sơ hiện trường. Tôi chấp nhận mọi kết luận.” Câu ấy không xóa việc anh đã giấu tôi, nhưng nó đặt anh vào cùng tiêu chuẩn anh từng hứa. Tạ Minh Châu ngồi bên kia bàn, nét mặt bình thản. Khi cuộc họp kết thúc, bà ta chặn tôi ở hành lang. “Cô nghĩ anh ta đang bảo vệ công nhân sao? Cố Trạch Ngôn chỉ biết chọn câu chuyện khiến mình có vẻ cao thượng nhất.” “Tôi không đánh giá mùi hương bằng câu chuyện của người mang chai đến.” “Nhưng cô đang để anh ta mang mình đến đúng nơi.” “Vậy bà hãy đưa bằng chứng về nơi khác.” Tạ Minh Châu mỉm cười. “Sớm thôi.” Buổi chiều, ba trang tin tài chính đồng loạt đăng ảnh tôi bước lên xe Cố Trạch Ngôn. Tiêu đề gọi tôi là “chuyên gia đang nợ nần được phe quyền lực thuê để tạo di chúc giả”. Một bài khác công bố số công nợ chính xác của Mộc Tê và ám chỉ mẹ tôi từng đánh cắp mẫu khỏi Thịnh Hương. Đến bốn giờ, chủ nhà gửi thông báo chấm dứt hợp đồng xưởng vì “rủi ro danh tiếng”. Năm giờ, đơn vị cung cấp điện yêu cầu thanh toán toàn bộ nợ trong hai mươi bốn giờ. Sáu giờ, hai người mặc đồng phục niêm phong đứng trước cửa, mang theo lệnh tạm giữ nguyên liệu do ban pháp chế Thịnh Hương ký với lý do điều tra rò rỉ bí mật thương mại. Tạ Minh Châu không cần đập máy chưng cất. Bà ta chỉ cần biến mọi cánh cửa hợp pháp thành tường. Tôi đọc lệnh. Mã hồ sơ dẫn đến một phụ lục mà tôi chưa từng ký. Chữ ký điện tử mang tên Cố Trạch Ngôn. Anh đến khi người của ban pháp chế đang dán niêm phong lên tủ nguyên liệu. “Tôi không ký văn bản này,” anh nói. Người phụ trách đưa máy tính bảng. “Chứng thư số của giám đốc Cố.” “Khóa quyền truy cập ngay,” anh nói với Cố Dư An. “Yêu cầu kiểm toán đăng nhập.” Tôi giơ tay ngăn anh xé niêm phong. “Để họ làm.” “Nếu niêm phong xưởng, mẫu của cô—” “Không ở đây.” Tôi chỉ chiếc camera trên trần. Từ lúc nhận phong bì đe dọa, tôi đã chuyển mẫu chính đến ngân hàng và để lại ba lọ trắng có đánh số. Người của pháp chế vừa tự ghi hình quá trình thu giữ mẫu không chứa gì. Tạ Minh Châu xuất hiện ngoài cửa như thể chỉ tình cờ đi ngang. “Cô chuyển tài sản đang tranh chấp khỏi địa điểm đăng ký?” “Tôi chuyển mẫu đối chứng theo điều khoản lưu mẫu và biên bản có chữ ký ba bên. Đây là bản sao.” Tôi đưa hồ sơ cho người phụ trách. Mỗi lần mở két ngân hàng đều có thời gian, nhận dạng và chữ ký Lục Hoài Sinh. Chuỗi bảo quản không đứt một phút nào. “Còn những lọ các anh vừa niêm phong,” tôi nói, “là mẫu trắng được ghi rõ trong sổ phòng thử. Nếu báo cáo thu giữ gọi chúng là di sản, người ký sẽ phải giải thích vì sao không đọc nhãn.” Hai nhân viên nhìn nhau. Người phụ trách gỡ băng niêm phong, lập biên bản hủy lệnh tại chỗ vì đối tượng không tồn tại. Tạ Minh Châu vẫn cười, nhưng mắt không còn cười. “Cô chuẩn bị khá kỹ.” “Mẹ tôi từng dạy không bao giờ giữ một bằng chứng ở nơi người muốn xóa nó biết trước.” Tôi nói câu ấy dù ký ức về mẹ chỉ còn những mẩu nhỏ. Có lẽ bà chưa từng nói nguyên văn. Nhưng chữ ký trên nhãn mẫu và quyết định giữ lại thứ hội đồng muốn hủy đã nói thay bà. Cố Trạch Ngôn không trả nợ giúp tôi. Anh làm điều hữu ích hơn. Anh yêu cầu pháp chế độc lập xác nhận lệnh thu giữ giả, gửi văn bản đến chủ nhà rằng Thịnh Hương chịu trách nhiệm cho mọi thiệt hại do lạm quyền và công bố việc chứng thư số của anh bị dùng trái phép. Nhờ vậy, chủ nhà rút thông báo chấm dứt trước khi nó có hiệu lực. Tôi bán chiếc máy đóng chai dự phòng để trả điện. Khi người mua chở máy đi, Cố Trạch Ngôn đứng ngoài cửa. “Cô có thể nhận tạm ứng theo hợp đồng,” anh nói. “Tạm ứng sau khi bên anh gây ra áp lực sẽ bị xem là tiền đổi kết luận.” “Vậy tôi mua dịch vụ phục dựng riêng cho một sản phẩm không liên quan?” “Cũng là tiền của anh.” Anh im lặng, rồi chỉ chiếc kệ trống. “Tôi ghét việc cô phải bán công cụ vì một cuộc chiến của gia đình tôi.” “Đây cũng là cuộc chiến của tôi từ lúc tên mẹ tôi nằm trong hộp.” “Tôi biết. Nhưng biết không làm tôi bớt ghét.” Tôi đưa anh một chổi nhỏ. “Nếu muốn có ích, quét chỗ máy vừa chuyển đi.” Anh cởi áo vest, cầm chổi. Cố Dư An bước vào đúng lúc ấy, đứng sững mất ba giây rồi lặng lẽ lấy điện thoại ra. “Cậu chụp thử xem,” Cố Trạch Ngôn nói. Cố Dư An cất máy ngay. “Em chỉ xem giờ.” “Điện thoại cậu cầm ngang.” “Đồng hồ của em thiết kế sáng tạo.” Tôi bật cười. Đó là tiếng cười đầu tiên trong hai ngày, nhỏ nhưng đủ khiến căn xưởng bớt giống hiện trường. Kết quả sơ bộ từ phòng thí nghiệm đến vào sáng kế tiếp. Hai mẫu có cùng nền gỗ và mộc tê, nhưng mẫu trong két chứa một polymer giữ hương không xuất hiện trong mẫu kho ngầm. Phổ khối cho thấy nó thuộc nhóm sản phẩm mới. Chúng tôi chưa có tên thương mại vì dữ liệu công khai bị giới hạn. Trang mười bảy của sổ ghi mã một nhà cung cấp cũ: Thất Lâm. Công ty Thất Lâm giải thể sáu năm trước, nhưng địa chỉ đăng ký trùng với kho hàng của Công ty Tư vấn Lam Kính, một doanh nghiệp chỉ có hai nhân viên và doanh thu bất thường từ Thịnh Hương. Người đại diện pháp luật của Lam Kính là em rể một trợ lý thuộc ban thương hiệu. “Tạ Minh Châu?” Cố Dư An hỏi. “Quan hệ chưa phải bằng chứng,” tôi nói. “Chúng ta cần dòng nguyên liệu.” Cố Trạch Ngôn mở quyền truy xuất mua hàng cho tổ giám sát. Trong tám năm, Lam Kính cung cấp “dịch vụ định vị thương hiệu”, không ghi nguyên liệu. Nhưng mỗi quý, khoản thanh toán tăng đúng vào những tháng phòng thử nghiệm nhận các lô chất giữ hương không nhãn. Chúng tôi tìm được một hóa đơn vận chuyển bị đính nhầm vào hồ sơ thiết kế. Hàng xuất từ nhà máy Tân Lộ, mã sản phẩm TN-7, giao đến xưởng thử nghiệm hai ngày trước vụ cháy. Cố Trạch Ngôn nhìn ngày tháng rất lâu. “Tôi đã thấy thùng của Tân Lộ hôm đó.” “Anh từng nói chỉ nhớ khói.” “Tôi nhớ một công nhân bảo thùng không nằm trong kế hoạch. Cha tôi yêu cầu chuyển xuống kho. Sau đó chuông báo cháy vang.” “Anh có nhớ ai ký nhận?” “Không.” Tôi không ép ký ức phải chính xác hơn khả năng của nó. Chúng tôi yêu cầu hồ sơ từ nhà máy Tân Lộ qua tổ giám sát. Phản hồi đầu tiên nói dữ liệu đã hết thời hạn lưu. Phản hồi thứ hai, sau khi Lục Hoài Sinh viện dẫn nghĩa vụ liên quan di sản, thừa nhận còn sổ vận chuyển giấy trong kho ngoại vi. Chúng tôi đến kho vào sáng sớm hôm sau. Sổ nhận hàng có một trang bị thay. Màu giấy mới hơn, lỗ ghim không trùng. Tuy nhiên, lớp giấy than phía dưới còn giữ nét ấn của chữ ký cũ. Tôi dùng ánh sáng xiên chụp lại. Các đường lõm hiện lên: Tạ Minh Châu. Cố Dư An nuốt khan. “Đủ chưa?” “Đủ để hỏi. Chưa đủ để kết luận bà ấy tráo mẫu.” Ở cuối kho, tôi tìm thấy một thùng Tân Lộ chưa dùng hết. Mã TN-7, ngày sản xuất sau vụ cháy ba tháng. Chất bên trong có mùi khô lạnh giống lớp cuối mẫu trong két, nhưng phiên bản này vẫn chưa hoàn thiện. Tôi lấy mẫu theo lệnh giám sát. Trên đường về, Cố Trạch Ngôn ngồi bên cạnh tôi ở hàng ghế sau. Xe đi qua cầu sông Miên, ánh nước chớp trên gương mặt anh. “Nếu vụ cháy bắt đầu từ lô thử nghiệm trái phép,” anh nói, “cha tôi đã biết.” “Có thể.” “Ông để tôi nhận trách nhiệm.” “Cũng có thể ông nghĩ mình đang giữ công ty sống sót để bảo vệ công nhân. Người ta thường gọi lựa chọn của mình là bảo vệ khi người khác phải trả giá.” “Cô đang nói tôi giống ông?” “Tôi đang nói anh từng quyết định thay bốn mươi ba người rằng họ cần anh nói dối. Có thể anh đúng về hậu quả lúc đó. Nhưng vẫn là quyết định thay.” Anh nhìn vết bỏng trên tay. “Tôi không biết làm thế nào để sửa tám năm.” “Đừng cố sửa tám năm bằng một hành động lớn. Bắt đầu từ việc không quyết định thay người khác hôm nay.” Anh quay sang tôi. Khoảng cách giữa hai chúng tôi đủ gần để tôi thấy một vệt mỏi dưới mắt anh. “Tôi muốn nắm tay cô,” anh nói. “Nhưng tôi không biết lúc này có phải vì tôi đang sợ hay không.” Sự thẳng thắn làm tim tôi chậm một nhịp. “Có thể là cả hai.” “Vậy cô có đồng ý không?” Tôi đặt tay mình lên ghế giữa, lòng bàn tay ngửa lên. “Một đoạn qua cầu.” Cố Trạch Ngôn nắm lấy. Tay anh ấm, lực rất nhẹ, như thể bất kỳ lúc nào tôi rút lại, anh sẽ buông ngay. Khi xe xuống hết dốc cầu, tôi thu tay về. Anh không hỏi thêm. Buổi chiều, Tạ Minh Châu đến Mộc Tê một mình. Bà ta không mang luật sư. Bà đặt lên bàn một hợp đồng mua lại xưởng, giá cao gấp bốn lần định giá thị trường, kèm vị trí trưởng phòng phục dựng tại Thịnh Hương trong năm năm. “Cô Tống không cần đóng vai người hùng nghèo khó,” bà ta nói. “Bán xưởng, giao mẫu và kết luận rằng khác biệt do lão hóa tự nhiên. Cô sẽ có phòng thí nghiệm tốt hơn nơi này.” “Tôi chưa kết luận polymer đến từ đâu.” “Nhưng cô biết một kết luận có thể làm hàng nghìn người mất việc.” “Bà dùng họ làm lá chắn giống cách bà dùng khoản nợ của tôi.” Tạ Minh Châu tự rót trà từ ấm trên bàn. “Cô còn trẻ. Cô tưởng sự thật là một lọ nguyên chất. Thực tế nó luôn phải pha loãng để người ta chịu được.” Tôi bật máy ghi âm trên bàn, đèn báo đã sáng từ lúc bà bước vào. “Bà muốn nói lại đề nghị giao mẫu đổi lấy hợp đồng không?” Bà ta nhìn đèn đỏ, không hề hoảng. “Cô có thể ghi. Tôi chỉ đề nghị một thương vụ.” “Điều khoản yêu cầu kết luận trước khi đủ dữ liệu là mua kết quả.” “Vậy từ chối đi.” “Tôi từ chối.” Tôi đẩy hợp đồng lại. Tạ Minh Châu đứng lên, vuốt phẳng cổ tay áo. “Khi mẫu đối chứng cuối cùng biến mất, cô sẽ ước mình đã chọn một thứ còn giữ được.” Cửa đóng sau lưng bà ta. Tôi gọi ngay cho Lục Hoài Sinh để kiểm tra két ngân hàng. Không ai bắt máy. Cùng lúc, chuông báo cháy của khu phố rú lên. Khói không bốc lên từ Mộc Tê. Nó dựng thành một cột xám phía bên kia sông Miên, đúng hướng Viện Hương Phổ. Tôi gọi Cố Trạch Ngôn khi đã chạy ra đường. Anh chỉ nói một câu: “Tôi đến đón cô.” “Tôi tự đi nhanh hơn.” “Vậy gặp ở cổng viện. Không vào một mình.” Lần này tôi đồng ý, không phải vì anh có quyền cấm, mà vì kho lưu trữ đang cháy và đi một mình không chứng minh được điều gì ngoài sự hấp tấp. Khi tôi đến, xe cứu hỏa đã chắn nửa con phố. Đám cháy nhỏ hơn tôi tưởng, tập trung ở phòng tiếp nhận mẫu phía đông. Nhân viên được sơ tán ra sân. Tôi tìm Lục Hoài Sinh giữa những chiếc chăn giữ nhiệt và thấy ông đang ngồi trên bậc đá, mặt ám khói nhưng vẫn tỉnh. “Ông có bị thương không?” “Chỉ hít một ít khói. Đừng nhìn ta như nhìn lọ sắp vỡ.” Ông ho hai tiếng. “Mẫu trong két ngân hàng an toàn. Nhưng bản chia gửi đến viện đã được chuyển về đây sáng nay để kiểm tra phổ lần hai.” “Ở trong phòng cháy?” Ông gật đầu. Một nhân viên phòng thí nghiệm báo tủ chống cháy bị cạy trước khi chuông vang. Lọ đối chứng của chúng tôi vỡ trong bồn rửa. Máy ghi hình mất dữ liệu mười bảy phút vì cầu dao nhánh bị ngắt bằng tay. Tạ Minh Châu đã nói mẫu cuối cùng sẽ biến mất. Bà ta có thể đang dọa, hoặc biết trước. Nhưng tôi chưa thể dùng một câu nói để kết luận ai châm lửa. Cố Trạch Ngôn đến cùng Cố Dư An và một luật sư độc lập. Anh đi thẳng đến chỗ Lục Hoài Sinh, hỏi ông có đồng ý để bác sĩ kiểm tra không. Chỉ sau khi ông gật đầu, anh mới gọi người đưa cáng đến. “Ngân hàng báo không có truy cập trái phép,” Cố Dư An nói với tôi. “Mẫu chính còn nguyên.” “Không mở nó nữa nếu chưa cần. Chúng ta còn dữ liệu phổ của ba lần đo.” “Nhưng phòng thử nói dữ liệu gốc trên máy bị cháy.” “Tôi giữ bản in đường phổ và file ngoại tuyến.” Tôi đã làm điều mẹ từng làm: không để một bằng chứng ở nơi người muốn xóa nó biết trước. Tuy vậy, bản dữ liệu chỉ cho biết mẫu két và mẫu kho khác nhau. Nó chưa chứng minh chất giữ hương được tạo sau ngày niêm phong. Cố Trạch Ngôn nhìn cửa sổ đen khói. “Tân Lộ.” “Thùng TN-7 chúng ta lấy từ kho là phiên bản ba tháng sau vụ cháy. Tôi cần hồ sơ phát triển để xác định thế hệ polymer.” “Nhà máy từ chối.” “Vì chúng ta hỏi với tư cách nội bộ Thịnh Hương.” Tôi quay sang luật sư. “Hãy gửi yêu cầu bảo toàn chứng cứ từ tổ giám sát và cơ quan điều tra vụ cháy hôm nay. Không yêu cầu giao bí mật công thức. Chỉ yêu cầu ngày đăng ký, ngày bán thương mại và dấu phổ định danh của các phiên bản TN-7.” Tạ Minh Châu xuất hiện sau hàng rào cứu hỏa, áo khoác đỏ rượu nổi bật giữa khói. Bà ta đến gần nhưng bị cảnh sát chặn. “Cô hài lòng chưa?” bà ta gọi. “Một cuộc săn phù thủy đã khiến viện lưu trữ cháy.” Tôi không đáp qua hàng rào. Tôi bước đến đủ gần để bà ta nghe rõ mà không cần hét. “Bà nói mẫu cuối cùng sẽ biến mất trước khi chuông báo cháy vang.” “Tôi nói một khả năng.” “Vậy bà sẽ không phản đối giao điện thoại và lịch di chuyển cho điều tra viên.” Nét mặt bà ta cứng lại trong một khoảnh khắc. “Cô không có quyền yêu cầu.” “Đúng. Tôi chỉ muốn biết bà sẽ chọn gì.” Tạ Minh Châu quay đi. Lựa chọn ấy chưa phải bằng chứng, nhưng nó là một cánh cửa bà ta tự đóng trước mặt nhiều người. Đêm đó, Lục Hoài Sinh được xác nhận chỉ kích ứng hô hấp nhẹ. Tôi ngồi ngoài hành lang bệnh viện cùng Cố Trạch Ngôn. Cố Dư An ngủ gục trên ghế, kính trượt xuống gần chóp mũi. “Anh có thể về,” tôi nói. “Cô cũng có thể.” “Tôi đang chờ ông Hoài Sinh tỉnh hẳn.” “Tôi cũng vậy.” Chúng tôi im lặng. Máy bán nước kêu rè rè ở cuối hành lang. Sau nhiều ngày sống giữa những lớp hương phức tạp, mùi cồn sát trùng đơn giản đến dễ chịu. Cố Trạch Ngôn đưa tôi một cốc nước ấm. “Lúc nhìn thấy khói, tôi đã nghĩ cô ở trong đó.” “Tôi không ở đó.” “Tôi biết sau khi gọi.” Anh nhìn hai bàn tay mình. “Nhưng trong vài giây, tôi muốn điều người khóa cửa Mộc Tê, đưa cô đến nơi khác và không cho cô tiếp tục.” “Anh đã không làm.” “Vì cô sẽ ghét tôi.” “Không chỉ vì thế.” Tôi đặt cốc xuống. “Anh không làm vì nỗi sợ của anh không tạo ra quyền quyết định đời tôi.” Anh ngẩng lên. “Tôi vẫn sợ,” anh nói. “Tôi cũng vậy.” “Cô có muốn dừng không?” Tôi nghĩ đến mảnh sổ của mẹ, mẫu bị phá, xưởng suýt bị niêm phong và lời đe dọa của Tạ Minh Châu. Dừng lại là một lựa chọn hợp lệ. Chính vì hợp lệ, câu trả lời của tôi mới có ý nghĩa. “Không. Tôi muốn hoàn tất.” “Vậy tôi đi cùng theo điều kiện của cô.” Tôi tựa đầu ra sau ghế. “Điều kiện hiện tại là im lặng năm phút.” Anh gật đầu. Bốn phút sau, Cố Dư An ngáy một tiếng rất nhỏ. Tôi và Cố Trạch Ngôn cùng quay sang rồi cùng bật cười. Khoảnh khắc ấy không xóa khói ngoài viện, nhưng giữ cho nỗi sợ không chiếm toàn bộ căn phòng. Sáng hôm sau, nhà máy Tân Lộ gửi dữ liệu dưới lệnh bảo toàn chứng cứ. TN-7 không phải tên một sản phẩm duy nhất. Đó là mã dự án qua chín phiên bản. Phiên bản đầu có độ ổn định thấp, từng được chuyển đến Thịnh Hương trước vụ cháy để thử kín. Phiên bản thứ bảy, tên thương mại Tinh Neo Bảy, chỉ được hoàn thiện và bán ra mười bốn tháng sau khi Cố lão tiên sinh mất. Dấu phổ của mẫu trong két khớp phiên bản thứ bảy ở ba đỉnh đặc trưng. Tôi kiểm tra lại bằng bản in, file ngoại tuyến và một mẫu mới mua ẩn danh trên thị trường. Kết quả không thay đổi. Người đã pha lớp hương thứ ba dùng một chất chưa tồn tại vào ngày di chúc được niêm phong. Bằng chứng hóa học đã rõ. Chuỗi người thực hiện vẫn cần khép lại. Kiểm toán chứng thư số của Cố Trạch Ngôn cho thấy lệnh thu giữ giả được gửi từ máy tính phòng họp ban thương hiệu. Camera hành lang ghi trợ lý của Tạ Minh Châu vào phòng ngoài giờ. Hồ sơ Lam Kính dẫn đến tài khoản do cùng trợ lý quản lý. Quan trọng nhất, dữ liệu định vị hợp pháp từ xe công vụ cho thấy xe của trợ lý dừng sau Viện Hương Phổ mười ba phút trước khi cầu dao bị ngắt. Trợ lý xin luật sư và khai rằng mình làm theo lệnh tiêu hủy “mẫu rò rỉ”, không biết phòng sẽ cháy khi dung môi bén tia lửa. Anh ta giao các tin nhắn đã xóa được khôi phục từ bản sao doanh nghiệp. Người gửi dùng tài khoản phụ gắn với số của Tạ Minh Châu. Tôi đọc bản trích xuất trong phòng tổ giám sát. Không có câu “hãy đốt viện”. Chỉ có những chỉ đạo đủ mơ hồ để người ra lệnh giữ khoảng cách: lấy mẫu về, xóa bản đo, đừng để ngày công bố còn thứ gì ngoài lọ trong két. Lục Hoài Sinh, đã xuất viện, đặt kính xuống bàn. “Đủ để chuyển cơ quan điều tra.” Cố Trạch Ngôn nhìn tôi. “Còn công bố di chúc?” “Vẫn diễn ra. Nhưng chúng ta không được công bố danh tính người tráo mẫu trước khi điều tra chính thức. Tôi sẽ chứng minh mẫu giả và giải lớp chỉ dẫn còn lại.” Trang sổ cháy ghi quyền tác giả không thuộc người trả tiền. Câu trong phong bì nói giữ điều không sinh lời và trả lại tên cho người tạo ra nó. Tầng đầu dẫn đến kho giống. Tầng giữa chứa trà hun, gỗ tuyết tùng và nhựa thơm từ xưởng cũ, tượng trưng cho sản xuất. Tầng cuối là phép thử xem người đọc có bảo vệ sự thật hay chỉ chọn mùi thuận lợi cho quyền lực. Chiếc vòng gỗ còn một bí mật. Tám hạt mang vết mòn khác nhau. Khi đặt lên bản đồ kho giống theo thứ tự mã lô, chúng tạo thành ký hiệu của quỹ ủy thác Hương Phổ. Điều khoản trong hồ sơ quỹ quy định quyền biểu quyết đặc biệt không thuộc người thừa kế trực hệ. Nó được trao tạm thời cho người đồng thời bảo vệ kho giống, công nhận quyền tác giả của người pha chế và duy trì phòng lưu trữ độc lập. Tên người đầu tiên đủ điều kiện không được viết sẵn. Đó không phải ngai vàng dành cho một người. Đó là bài kiểm tra hành vi. Cố Trạch Ngôn có thể dùng việc mình mở kho và bảo vệ kiểm định để nhận quyền. Nhưng anh đọc điều khoản rồi đề nghị chuyển quyền biểu quyết vào một ủy thác độc lập gồm đại diện vùng trồng, người lao động, nhà pha chế và chuyên gia lưu trữ. “Tại sao?” tôi hỏi khi chỉ có hai chúng tôi trong phòng. “Nếu tôi nhận quyền vì đã giúp giải câu đố, người tiếp theo sẽ lại tìm cách sở hữu câu trả lời.” Anh đẩy bản đề xuất cho tôi. “Kho giống và tên người tạo công thức không nên phụ thuộc một người tốt hay xấu.” “Anh có thể mất ghế.” “Có thể.” “Anh đã cần bản di chúc để giữ nó.” “Lúc đầu.” Anh tháo chiếc đồng hồ cũ, đặt cạnh hồ sơ. “Bây giờ tôi muốn giữ một thứ khác.” “Thứ gì?” “Khả năng nhìn cô mà không biết mình đã dùng sự thật của cô để mua quyền lực.” Tôi không trả lời ngay. Tôi ký tên với tư cách người chứng kiến đề xuất, không phải vì tình cảm, mà vì cấu trúc ấy đúng với điều di chúc yêu cầu. Buổi công bố diễn ra sau đó hai ngày. Khi người chủ trì tuyên bố lọ trong két hợp lệ theo niêm phong bề mặt, tôi yêu cầu mở kiểm định công khai. Tạ Minh Châu phản đối, nhưng ba bên đã ký quyền kiểm tra từ ngày đầu. Tôi đập lọ trên khay đã chuẩn bị. Mùi cam đắng, mộc tê, gỗ và lớp khô lạnh lan ra. Mọi thứ diễn ra đúng như khoảnh khắc tôi đã sống đi sống lại trong đầu. Ba chuyên gia độc lập xác nhận Tinh Neo Bảy. Chứng nhận ngày thương mại hóa hiện lên màn hình. Hội trường hiểu rằng người chết không thể sử dụng một chất ra đời sau mình. Tạ Minh Châu nói niêm phong chứng minh mẫu chưa bị thay. Tôi trình ảnh vết nứt sạch bụi, kết quả tuổi sáp không đồng nhất và nhật ký chứng thư số. Sau đó tôi dừng lại ở ranh giới của mình. “Các bằng chứng về người thực hiện đã được chuyển cho cơ quan điều tra. Tôi không kết tội cá nhân tại đây. Kết luận chuyên môn của tôi chỉ có ba điểm: lớp hương thứ ba trong két không cùng mẻ với mẫu đối chứng; nó chứa chất thương mại hóa sau ngày người lập di chúc qua đời; vì vậy nó không thể được dùng làm căn cứ xác định ý chí của ông.” Một phóng viên hỏi ai sẽ thừa kế Thịnh Hương. Tôi mở hồ sơ ủy thác. “Câu hỏi của bản di chúc không phải ai có cùng huyết thống. Nó hỏi ai bảo vệ được kho giống, quyền tác giả và bằng chứng ngay cả khi những thứ ấy không sinh lời trước mắt.” Cố Trạch Ngôn bước lên, công bố từ bỏ quyền nhận biểu quyết cá nhân và chuyển cơ chế sang ủy thác độc lập. Đại diện người lao động sẽ có ghế. Tên các nhà pha chế bị xóa khỏi công thức cũ sẽ được phục hồi sau kiểm tra hồ sơ. Kho giống không được bán trong thời hạn bảo tồn. Ở hàng ghế bên, một phụ nữ lớn tuổi bật khóc khi tên chồng bà xuất hiện trong danh sách tác giả được trả lại. Tôi nhìn nét mực của mẹ trên màn hình, lần đầu hiểu rằng bà giữ mẫu không phải để chống một tập đoàn. Bà giữ nó để một người tạo ra thứ đẹp đẽ không bị biến mất khỏi chính tác phẩm của mình. Tạ Minh Châu rời hội trường cùng luật sư. Một tuần sau, bà bị tạm đình chỉ và điều tra về hành vi làm giả chứng cứ, xâm nhập hệ thống cùng chỉ đạo thu hồi mẫu trái phép. Trợ lý của bà được xem xét trách nhiệm riêng. Tôi không thấy hả hê như mình từng tưởng. Công lý không có mùi chiến thắng. Nó giống một căn phòng vừa mở cửa sau cháy: lạnh, bừa bộn và cần rất nhiều người sửa lại. Cố Trạch Ngôn mất chức giám đốc tạm quyền trong cuộc tái cấu trúc, nhưng ở lại phụ trách vận hành kho giống theo hợp đồng có giám sát. Anh công khai toàn bộ hồ sơ vụ cháy. Bốn mươi ba công nhân cũ được mời tự quyết định có nêu tên hay giữ riêng tư. Không ai bị dùng làm lý do cho lời nói dối mới. Mộc Tê đóng cửa mười hai ngày để sửa mái và hoàn thiện giấy phép phòng thử. Tôi không nhận tiền mua xưởng từ Thịnh Hương. Tôi dùng phí kiểm định đã được trả theo hợp đồng, khoản bồi thường cho lệnh niêm phong giả và tiền bán chiếc máy dự phòng để bắt đầu lại. Xưởng nhỏ hơn kế hoạch, nhưng mọi thiết bị đều thuộc quyền của tôi. Ngày treo lại biển, Cố Dư An mang đến một chậu mộc tê cao gần bằng người. “Tặng khai trương,” cậu nói. “Không lấy từ kho giống. Em có hóa đơn.” “Cậu tiến bộ rồi.” “Em còn chụp ảnh hóa đơn ở ba nơi.” Cố Trạch Ngôn đến sau, không mang hoa. Anh đặt lên bàn một phiếu đặt hàng có đóng dấu của ủy thác Hương Phổ. “Tôi muốn thuê Mộc Tê tạo một mùi hương mới cho phòng trưng bày quyền tác giả.” Tôi đọc phạm vi công việc. Không có điều khoản sở hữu tên người pha chế. Quyền tác giả thuộc xưởng, quyền sử dụng được cấp có thời hạn, toàn bộ mẫu đối chứng do bên thứ ba lưu. “Khách hàng đầu tiên của phiên bản Mộc Tê mới,” tôi nói. “Anh đã đọc kỹ điều khoản chưa?” “Ba lần.” “Không mặc cả?” “Tôi có một đề nghị.” “Tôi đang nghe.” “Sau khi bàn xong công việc, cô có muốn ăn tối với tôi không? Không phải cuộc họp, không liên quan hợp đồng. Cô có thể từ chối và đơn hàng vẫn giữ nguyên.” Cố Dư An lập tức quay lưng giả vờ nghiên cứu chậu cây. Tôi nhìn Cố Trạch Ngôn. Anh không còn chiếc ghế quyền lực từng muốn giữ. Tôi cũng không còn là chuyên gia cần tiền của anh để cứu xưởng. Giữa chúng tôi vẫn có một hợp đồng, nhưng anh đã tách câu hỏi khỏi nó rõ ràng. “Tôi đồng ý,” tôi nói. “Sau khi anh ký đủ ba bản.” “Ba bản?” “Một bản cho anh, một cho tôi, một cho Cố Dư An chụp ảnh bằng chiếc đồng hồ sáng tạo.” Cố Dư An quay lại, mặt đỏ bừng. “Em đã giải thích chuyện đó rồi.” Tiếng cười lấp đầy căn xưởng. Hai tháng sau, mùi hương mới hoàn thành. Tôi dùng lá mộc tê xanh ở tầng đầu, gỗ tuyết tùng phục dựng từ xưởng cũ ở tầng giữa và một lớp hạt rang ấm ở cuối. Không có Tinh Neo Bảy. Độ lưu hương ngắn hơn sản phẩm thị trường, nhưng đó là chủ ý. Ký ức không cần bám mãi trên da để chứng minh nó từng tồn tại. Tôi đặt tên công thức là Trả Lại Tên. Trong phòng trưng bày, dưới tên tôi còn có tên hai kỹ thuật viên hỗ trợ, người trồng nguyên liệu và Lục Hoài Sinh với vai trò giám sát lưu trữ. Tên mẹ tôi nằm ở phần lịch sử mẫu đối chứng, không lớn hơn ai, cũng không bị xóa đi. Tối khai trương, Cố Trạch Ngôn đứng cạnh cửa, cổ tay áo xắn lên để lộ vết bỏng. Chiếc đồng hồ cũ đã chạy lại. “Anh sửa nó rồi?” tôi hỏi. “Không. Tôi thay bộ máy bên trong, giữ nguyên mặt kính.” “Cố lão tiên sinh từng bảo anh đừng sửa.” “Ông ấy cũng từng để quá nhiều người sống theo nỗi sợ của mình.” Anh nhìn tôi. “Tôi muốn nhớ thời điểm cũ mà vẫn để thời gian đi tiếp.” Tôi đưa anh chiếc vòng gỗ mộc tê đã được ủy thác cho phép phục chế. Bản gốc nằm trong tủ lưu trữ; đây là bản sao đánh dấu ngày công bố sự thật. Anh không nhận ngay. “Cô muốn tặng tôi?” “Tôi muốn anh giữ đến khi phòng trưng bày đóng cửa tối nay. Sau đó trả lại đúng biên bản.” “Lãng mạn thật.” “Tôi là người làm lưu trữ.” “Vậy tôi ký ở đâu?” Tôi cười, đặt vòng vào tay anh. Ngoài cửa kính, mưa Lâm Châu rơi mỏng trên phố. Mùi lá mộc tê từ chậu cây cạnh cửa hòa với hương gỗ ấm trong phòng. Cố Trạch Ngôn đứng bên tôi, không che trước, không kéo lùi, chỉ chạm nhẹ ngón tay vào mu bàn tay tôi như một câu hỏi. Tôi lật tay lại và đan các ngón tay với anh. Lần này không giới hạn một đoạn qua cầu. Chiếc vòng gỗ nằm giữa hai lòng bàn tay, ấm dần lên. Mùi hương mới không kể rằng chúng tôi đã quên vụ cháy, những lời nói dối hay cái giá của sự thật. Nó chỉ chứng minh những điều từng bị giấu có thể được gọi đúng tên, đặt đúng chỗ và trao lại cho người có quyền lựa chọn. Còn thời gian, cuối cùng, đã chịu đi tiếp.