Chín giờ kém mười sáng hôm sau, tôi có mặt tại khu lưu trữ cũ của Thịnh Hương với hai vali dụng cụ, một máy ảnh không nối mạng và ba cuộn băng niêm phong mang số riêng. Tòa nhà nằm sau trụ sở chính, thấp hơn và cũ hơn, tường xây bằng gạch xám đã ngấm mùi thời tiết. Lục Hoài Sinh chờ tôi ở cửa. Ông từng quản lý Viện Hương Phổ hơn ba mươi năm, nay đã nghỉ hưu nhưng vẫn giữ tư cách giám sát độc lập cho di sản của Cố lão tiên sinh. Tóc ông bạc gần hết, kính gọng mảnh, áo len nâu có một vệt phấn gỗ ở tay áo. “Cô giống Tống Nhược Lam ở cách nhìn ổ khóa trước khi nhìn người,” ông nói. “Ông biết mẹ tôi?” “Biết trong một mùa kiểm kê. Bà ấy không nói nhiều, nhưng đã cãi với hội đồng ba ngày để giữ lại một mẫu mà người khác muốn hủy.” Tôi định hỏi mẫu nào thì Cố Trạch Ngôn bước vào cùng hai luật sư và Tạ Minh Châu. Tạ Minh Châu mặc suit đỏ rượu, tóc bob ôm sát gương mặt. Bà ta nhìn vali của tôi rồi nhìn đồng hồ. “Chúng ta đang mở di chúc, không chuyển nhà.” “Tôi cũng hy vọng không phải chuyển két vì ai đó làm hỏng chuỗi bảo quản.” Khóe môi Cố Dư An giật nhẹ. Cậu đứng sau nhóm pháp chế, ôm máy tính bảng như ôm một tấm khiên. Căn phòng két không có cửa sổ. Trên tường là cảm biến nhiệt độ, độ ẩm và camera lưu hình cục bộ. Tôi kiểm tra nhật ký trước. Trong hai năm, cửa chính được mở sáu lần để bảo trì nhưng két chỉ ghi một lần tiếp xúc vào ngày niêm phong. Tất cả dấu sáp trên mép két đều mang cùng một con dấu hoa mộc tê, tuy nhiên góc dưới bên phải có một đường nứt mảnh. Tạ Minh Châu khoanh tay. “Sáp già thì nứt.” “Đúng. Nhưng bụi phải nằm trong vết nứt nếu nó hình thành tự nhiên.” Tôi soi kính phóng đại. “Vết này sạch. Có thể mới hơn bề mặt xung quanh.” Không khí trong phòng đổi khác. Cố Trạch Ngôn không hỏi tôi có chắc không. Anh yêu cầu camera chuyển sang chế độ lưu kép rồi giao một bản ghi cho Lục Hoài Sinh. Tôi chụp từng mặt két, lấy mẫu bụi ở bốn điểm và đánh số. Sau khi cả ba bên ký biên bản, Lục Hoài Sinh đọc mã cơ. Cố Trạch Ngôn tra chìa khóa. Tôi cắt lớp sáp tại đường đã định, giữ nguyên từng mảnh trong túi bằng chứng. Cửa két mở ra với tiếng kim loại nặng nề. Bên trong không có xấp cổ phiếu hay một tờ di chúc đóng dấu đỏ như người ta tưởng. Có ba hộp gỗ đen xếp thành hàng, một cuốn sổ bìa da, một chiếc vòng gỗ mộc tê và một phong bì giấy dó. Trên nắp mỗi hộp chỉ có một ký hiệu: lá, thân cây và rễ. Tôi đeo găng mới. Cuốn sổ có hai mươi chín trang được đánh số, nhưng từ trang mười bảy nhảy sang trang hai mươi. Mép gáy cho thấy ba tờ đã bị xé, không phải rơi tự nhiên. Chiếc vòng gỗ có tám hạt, một hạt sẫm màu hơn và mang vết xước hình chữ thập. Phong bì chứa một câu viết tay. “Người nhận được Thịnh Hương phải ngửi được điều ta không viết, giữ được điều không sinh lời và trả lại tên cho người đã tạo ra nó.” Tạ Minh Châu bật cười rất khẽ. “Một câu đố. Hai năm tranh chấp chỉ vì một câu đố.” “Không.” Tôi mở hộp mang ký hiệu lá sau khi kiểm tra niêm phong riêng. Bên trong là ba lọ nhỏ, mỗi lọ có nút thủy tinh mài. “Đây là một cấu trúc chỉ dẫn.” Tôi đặt một giọt từ lọ đầu lên giấy thử. Cam đắng bốc lên trước, sau đó là lá mộc tê còn xanh và chút mùi kim loại lạnh. Lọ thứ hai có gỗ tuyết tùng, trà hun rất nhẹ và một lớp nhựa thơm. Lọ thứ ba gần như không có mùi ở phút đầu, chỉ khi giấy ấm lên trong tay mới để lại một vệt hương khô, dài và dai. “Ba lọ không phải ba công thức tách biệt,” tôi nói. “Chúng là ba tầng hương của cùng một thông điệp. Tầng đầu chỉ đường. Tầng giữa xác nhận nơi chốn. Tầng cuối dùng để kiểm tra tính xác thực.” Lục Hoài Sinh gật đầu. “Cố lão tiên sinh từng gọi cách này là di chúc khứu giác.” Tạ Minh Châu quay sang ông. “Tại sao trước đây ông không nói?” “Vì trước đây chưa ai mở két đúng thủ tục.” Tôi bắt đầu với tầng đầu. Cam đắng và lá mộc tê không phải tổ hợp đặc biệt, nhưng tỷ lệ kim loại lạnh đến từ nước chưng qua ống đồng cũ. Thịnh Hương đã thay toàn bộ ống đồng bằng thép không gỉ mười năm trước. Chỉ còn một nơi giữ hệ thống cũ: kho giống cây phía bắc, nơi bảo tồn những gốc mộc tê đầu tiên của tập đoàn. Tạ Minh Châu lập tức phản đối việc rời mẫu khỏi phòng. Tôi không cần mang mẫu đi. Tôi niêm phong giấy thử, giữ phần đối chứng theo hợp đồng và yêu cầu kiểm tra kho giống. Khi chúng tôi ra hành lang, bà ta đưa tôi một tập giấy mới. “Thỏa thuận bảo mật bổ sung. Di sản có thể ảnh hưởng thị trường. Cô ký trước khi đến cơ sở khác.” Tôi đọc ba trang đầu. Điều khoản thứ bảy cấm tiết lộ mọi thông tin gây bất lợi cho Thịnh Hương, kể cả khi phát hiện sai phạm chưa có kết luận cuối cùng. Điều khoản thứ chín trao cho tập đoàn quyền giữ toàn bộ ghi chép của tôi khi hợp đồng kết thúc. “Tôi không ký.” “Đây là quy trình bắt buộc.” “Không có trong hợp đồng hôm qua.” “Vậy hôm qua pháp chế đã bỏ sót.” Tạ Minh Châu đặt bút lên giấy trước mặt tôi. Cử chỉ nhỏ, giọng nói mềm, nhưng ý nghĩa rất rõ: muốn đi tiếp thì phải giao quyền lên tiếng. Tôi đóng nắp bút của bà ta. “Nếu đây là điều kiện mới, tôi dừng kiểm định. Mẫu đối chứng và biên bản hiện tại sẽ được niêm phong tại bên thứ ba theo hợp đồng.” “Cô Tống, xưởng của cô đang nợ bao nhiêu?” Tôi nhìn bà ta. “Tôi chỉ muốn nhắc rằng một hợp đồng tốt không dễ có lần thứ hai.” Cố Trạch Ngôn bước đến. Anh không đứng chắn trước tôi mà cầm bản bổ sung lên đọc. Càng đọc, vẻ mặt anh càng lạnh. “Cố Dư An, hủy văn bản này.” Tạ Minh Châu nói: “Đây là yêu cầu của ban thương hiệu và hai thành viên hội đồng.” “Không phải yêu cầu của tổ giám sát.” Anh xé phần ký tên khỏi bản của mình, không chạm đến bản đang nằm trong tay tôi. “Soạn lại: bảo mật không giới hạn quyền tố giác, không thu hồi ghi chép chuyên môn, không cấm báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền.” “Anh đang trao cho một người ngoài quyền phá hủy tập đoàn.” Cố Trạch Ngôn nhìn tôi rồi nhìn bà ta. “Không. Tôi đang từ chối trao cho tập đoàn quyền sở hữu sự im lặng của cô ấy.” Đó là lần đầu tiên tôi tin anh thêm một chút. Không phải vì câu nói hay, mà vì anh sửa một văn bản có lợi cho mình trước mặt những người có thể dùng nó để hạ bệ anh. Kho giống nằm cách trung tâm Lâm Châu hơn một giờ xe. Mưa dừng khi chúng tôi đến, để lại mùi đất ướt và lá non trong không khí. Những cây mộc tê già mọc thành từng dãy trên triền thấp, thân cây sần sùi, cành được buộc thẻ kim loại. Nhà chưng cất cũ đứng cuối vườn, mái ngói phủ rêu. Người quản lý kho nói toàn bộ hồ sơ đã được số hóa. Tôi yêu cầu xem cả sổ giấy. Trong lọ hương tầng đầu có dấu sắt từ nước đi qua ống đồng vá bằng mối hàn đặc biệt. Trên mỗi thân cây ở kho giống, mã lô cũng dùng bốn nhóm số. Tôi ghép nồng độ của bốn thành phần chính với dãy số trên chiếc vòng gỗ. Hạt sẫm màu đánh dấu vị trí đảo thứ tự. Kết quả là mã lô MỘC TÊ SỐ MƯỜI BẢY, MÙA THU NĂM CŨ. Người quản lý dẫn chúng tôi đến cây số mười bảy. Dưới nhãn kim loại mới là một lớp nhãn cũ được gấp vào trong. Tôi tháo theo biên bản. Mặt sau có một dòng chữ cực nhỏ: “Không tìm hoa. Hãy tìm phần đã bị lấy khỏi rễ.” Cố Dư An ngồi xổm bên gốc cây. “Chẳng lẽ phải đào lên?” “Không ai bảo cậu đào cây của quỹ bảo tồn,” tôi nói. “Rễ có thể là ký hiệu cho tầng thấp nhất của hệ thống lưu trữ.” Nhà chưng cất có một kho ngầm. Trên sơ đồ, tầng hầm chỉ dùng chứa chai rỗng, nhưng bậc thang thứ mười bảy phát tiếng rỗng khi tôi gõ cán đèn. Bên dưới tấm gỗ là một ngăn hẹp, vừa đủ đặt hộp thiếc. Trong hộp có một cuộn nhãn lô, một chìa khóa nhỏ và lọ mẫu mang cùng số niêm phong với tầng hương thứ ba trong két. Lục Hoài Sinh tháo kính lau hai lần. “Mẫu đối chứng cá nhân.” Tôi không mở ngay. Số niêm phong đúng, nhưng lượng chất lỏng thấp hơn mức ghi trên nhãn. Nút chai có vết mài mới. Ai đó đã tìm thấy hộp trước chúng tôi và lấy đi một phần. Cố Trạch Ngôn gọi người khóa toàn bộ kho. Tôi ngăn anh. “Khóa bây giờ sẽ báo cho người đã chạm vào mẫu rằng chúng ta phát hiện. Tôi cần đối chiếu trước.” “Cô muốn mở tại đây?” “Trong phòng sạch tạm thời, có camera và ba bên chứng kiến.” Tôi dùng chìa khóa trong hộp mở ngăn dưới đáy bàn chưng cất. Bên trong có giấy lọc cũ, ống hút thủy tinh và một trang sổ bị xé. Trang mang số mười bảy, ghi công thức nền của lớp hương cuối. Không có tên chất định hương, chỉ có ký hiệu một chiếc neo với bảy vạch. Tôi mở lọ đối chứng. Mùi đầu giống hệt mẫu trong két. Nhưng sau mười hai phút, chúng tách ra. Mẫu trong két bám trên giấy thử bằng một độ khô lạnh, gần như vô cảm. Mẫu dưới kho ngầm dịu dần thành gỗ ấm và hạt mộc tê rang. Sự khác biệt nhỏ đến mức người không quen có thể nghĩ do bảo quản. Với tôi, đó là hai chữ ký khác nhau. “Tầng hương thứ ba đã bị thay,” tôi nói. Cố Trạch Ngôn đứng bên kia bàn. “Mẫu nào là thật?” “Chưa kết luận. Mẫu dưới này cũng đã bị rút bớt và có dấu mở. Tôi chỉ kết luận chúng không cùng một mẻ.” Tạ Minh Châu, vừa đến sau khi nghe báo, nhìn thẳng vào anh. “Người có quyền vào két là thành viên gia tộc. Người biết kho giống cũng là người trong gia tộc. Anh đang muốn chúng tôi nghi ai?” Cố Trạch Ngôn không đáp. Tôi nhớ lời đồn về vụ cháy. Nhớ chiếc đồng hồ cũ, vết bỏng và việc anh cần bản di chúc để giữ quyền lực. Anh đã cho tôi quyền độc lập, nhưng một người thông minh vẫn có thể trao cho giám định viên đủ tự do để cô ấy đi đúng con đường hắn chuẩn bị. “Tôi cần xem toàn bộ vật anh giữ riêng liên quan đến cuốn sổ,” tôi nói. Ánh mắt anh thay đổi rất nhẹ. Tôi biết mình đã đoán trúng. “Không có gì,” anh nói. “Cố Trạch Ngôn, ba trang bị xé. Trang mười bảy nằm dưới kho. Người đưa chữ ký của mẹ tôi cho tôi là anh. Anh đã biết cuốn sổ thiếu trang trước khi mở két.” Cố Dư An nhìn anh, bối rối thật sự. Lục Hoài Sinh lặng lẽ đóng cửa phòng. Tôi tháo găng, đặt lên bàn. “Nếu anh tiếp tục giấu, tôi dừng ở đây.” Cố Trạch Ngôn nhìn mẫu trong két rồi nhìn lọ đối chứng. Sau cùng, anh lấy chìa khóa xe đặt vào tay Cố Dư An. “Trong hộp an toàn dưới ghế sau có một túi chống cháy. Mang vào đây, không mở.” Mười phút sau, trên bàn có thêm hai mảnh giấy cháy sém. Một mảnh là phần cuối trang mười tám. Mảnh còn lại chỉ còn nửa dấu hoa mộc tê và vài chữ: “quyền tác giả không thuộc về người trả tiền.” “Anh lấy chúng ở đâu?” “Trong xưởng thử nghiệm sau vụ cháy tám năm trước.” “Vụ cháy mà người ta nói anh gây ra.” “Đúng.” “Anh giữ vật chứng tám năm và không giao?” “Hôm đó nếu tôi giao, bốn mươi ba công nhân hợp đồng sẽ bị quy tội đánh cắp công thức. Cha tôi đã ký một lệnh xuất nguyên liệu ngoài sổ để che khoản thử nghiệm. Hội đồng cần một người nhận trách nhiệm. Tôi nói mình tự ý vào xưởng.” “Anh nhận tội thay?” “Tôi nhận phần tôi có thể chịu.” “Và để mọi người nghĩ anh đốt xưởng?” “Không ai hỏi câu chuyện nào ít sai nhất.” Tôi giận anh vì đã giấu. Tôi cũng hiểu tại sao anh không đưa mảnh giấy cho một hội đồng đang tìm người tế. Hai cảm giác không loại trừ nhau. “Từ giờ mọi thứ anh giữ phải vào biên bản,” tôi nói. “Không còn hộp dưới ghế xe, không còn lý do chưa thể nói.” “Nếu việc công khai làm hại người không liên quan?” “Anh nói với tôi nguy cơ cụ thể. Chúng ta xin đồng ý của họ hoặc che thông tin cá nhân theo luật. Anh không được tự quyết rằng tôi nên biết bao nhiêu.” Cố Trạch Ngôn gật đầu. “Được.” Tạ Minh Châu cười nhạt. “Hai người lập liên minh nhanh thật.” “Tôi chưa liên minh với ai,” tôi nói. “Tôi chỉ đang buộc mọi bên chịu cùng một tiêu chuẩn.” Chiều đó, tôi lập bốn mẫu: mẫu trong két, mẫu kho ngầm, cặn trên trang sổ cháy và mẫu trắng. Mỗi mẫu được chia ba, niêm phong tại Mộc Tê, Viện Hương Phổ và phòng thí nghiệm độc lập. Tôi giữ bản ghi chuỗi bảo quản trên giấy, trên ổ cứng ngoại tuyến và trong két ngân hàng. Khi chúng tôi trở về thành phố, trời đã tối. Cố Trạch Ngôn dừng xe trước Mộc Tê nhưng không xuống. “Cô vẫn nghi tôi tráo mẫu?” “Có.” “Thẳng thắn thật.” “Anh thuê tôi vì điều đó.” Anh nhìn chiếc chuông gỗ trên cửa xưởng. “Cô có tin mảnh sổ tôi đưa là thật không?” “Giấy và mực đúng tuổi tương đối. Mép cháy khớp ảnh hiện trường. Nhưng tin vật không đồng nghĩa tin người giữ vật.” “Vậy tôi còn phải làm gì?” “Ngày mai, công khai mảnh sổ với tổ giám sát. Chấp nhận rằng nó có thể không minh oan cho anh.” Cố Trạch Ngôn tháo đồng hồ, xoay mặt kính xước dưới ánh đèn đường. “Đồng hồ này dừng lúc xưởng cháy. Cha tôi đưa lại sau khi tôi ra viện, bảo đừng bao giờ sửa. Tôi từng nghĩ ông muốn tôi nhớ lỗi của mình.” “Bây giờ?” “Bây giờ tôi nghĩ ông sợ tôi nhớ lỗi của người khác.” Tôi không biết phải an ủi thế nào mà không biến một giả thuyết thành sự thật. Vì vậy tôi chỉ nói điều mình chắc chắn. “Ngày mai anh công khai. Sau đó chúng ta để bằng chứng tự nói.” Anh đeo đồng hồ lại. “Tôi sẽ làm.” Khi xe anh rời đi, tôi mở cửa xưởng. Trên sàn có một phong bì không đề tên. Bên trong là ảnh chụp tôi nhận hợp đồng từ Cố Dư An, bản kê nợ của Mộc Tê và một dòng chữ in bằng máy. Nếu cô kết luận mẫu bị tráo, chủ nợ sẽ đến trước khi báo cáo của cô kịp được đọc. Tôi nhìn chiếc máy chưng cất trong bóng tối. Lần đầu tiên kể từ khi nhận việc, mối đe dọa không còn nằm trong một lọ hương hay trang giấy cũ. Nó đã biết địa chỉ nhà tôi.