Tôi không gọi Cố Trạch Ngôn ngay. Việc đầu tiên tôi làm là chụp phong bì trong trạng thái nguyên vẹn, đeo găng, đặt nó vào túi bằng chứng rồi gọi cảnh sát khu vực lập biên bản. Việc thứ hai là chuyển bản kê nợ trên tường xưởng sang ngăn khóa. Việc thứ ba mới là gọi cho anh. Cố Trạch Ngôn đến sau mười chín phút, nhanh hơn quãng đường từ nhà anh đến Mộc Tê ít nhất mười phút. Anh bước vào với tóc còn ướt mưa, nhìn phong bì trên bàn rồi nhìn cửa sau. “Cô có thấy người để lại không?” “Không.” “Tối nay cô không nên ở đây.” “Tôi sẽ quyết định mình ở đâu.” Anh dừng lại. Sự lo lắng trên mặt không biến mất, nhưng giọng nói hạ xuống. “Đúng. Cô muốn tôi làm gì?” “Kiểm tra camera công cộng quanh phố bằng yêu cầu hợp pháp. Không cho người của Thịnh Hương tự lấy dữ liệu. Và sáng mai vẫn công khai mảnh sổ.” “Họ đã biết chúng ta tìm thấy nó.” “Càng phải công khai. Bí mật chỉ có giá để đe dọa khi nó còn nằm trong tay một người.” Anh nhìn tôi rất lâu rồi gật đầu. “Tôi sẽ đề nghị tổ giám sát phát trực tiếp nội bộ và lưu bản sao bên thứ ba.” “Còn tối nay, anh về đi.” “Cô định ở lại?” “Tôi có khóa, cảm biến cửa và hàng xóm bán mì thức đến hai giờ sáng.” “Đó không phải hệ thống an ninh.” “Nhưng là lựa chọn của tôi.” Cố Trạch Ngôn kéo một chiếc ghế, ngồi xuống cách bàn làm việc của tôi một khoảng vừa đủ. “Vậy tôi có thể ngồi đây với tư cách khách hàng cho đến khi cô khóa mẫu vào két ngân hàng không?” “Tôi chưa mời.” “Tôi đang hỏi.” Tôi nhìn đôi giày dính nước của anh, rồi nhìn vết bỏng ở cổ tay trái. Anh có thể điều người đến canh cửa, có thể dùng chức vụ ra lệnh, nhưng anh ngồi đó chờ câu trả lời. “Anh được ở lại đến khi xe ngân hàng tới,” tôi nói. “Không đụng vào mẫu. Và lau nước dưới chân.” Cố Trạch Ngôn lấy khăn giấy, cúi xuống lau thật. Sáng hôm sau, anh công khai hai mảnh sổ trước tổ giám sát. Không né tránh việc đã giữ chúng tám năm, không tô mình thành người hy sinh. Anh trình bày vụ cháy, quyết định nhận trách nhiệm và danh sách bốn mươi ba công nhân hợp đồng có thể bị ảnh hưởng. Sau đó anh giao vật chứng cho Lục Hoài Sinh niêm phong. Một thành viên hội đồng hỏi tại sao họ phải tin người từng nói dối. Cố Trạch Ngôn đáp: “Không cần tin tôi. Hãy kiểm tra giấy, mực, mép cháy và hồ sơ hiện trường. Tôi chấp nhận mọi kết luận.” Câu ấy không xóa việc anh đã giấu tôi, nhưng nó đặt anh vào cùng tiêu chuẩn anh từng hứa. Tạ Minh Châu ngồi bên kia bàn, nét mặt bình thản. Khi cuộc họp kết thúc, bà ta chặn tôi ở hành lang. “Cô nghĩ anh ta đang bảo vệ công nhân sao? Cố Trạch Ngôn chỉ biết chọn câu chuyện khiến mình có vẻ cao thượng nhất.” “Tôi không đánh giá mùi hương bằng câu chuyện của người mang chai đến.” “Nhưng cô đang để anh ta mang mình đến đúng nơi.” “Vậy bà hãy đưa bằng chứng về nơi khác.” Tạ Minh Châu mỉm cười. “Sớm thôi.” Buổi chiều, ba trang tin tài chính đồng loạt đăng ảnh tôi bước lên xe Cố Trạch Ngôn. Tiêu đề gọi tôi là “chuyên gia đang nợ nần được phe quyền lực thuê để tạo di chúc giả”. Một bài khác công bố số công nợ chính xác của Mộc Tê và ám chỉ mẹ tôi từng đánh cắp mẫu khỏi Thịnh Hương. Đến bốn giờ, chủ nhà gửi thông báo chấm dứt hợp đồng xưởng vì “rủi ro danh tiếng”. Năm giờ, đơn vị cung cấp điện yêu cầu thanh toán toàn bộ nợ trong hai mươi bốn giờ. Sáu giờ, hai người mặc đồng phục niêm phong đứng trước cửa, mang theo lệnh tạm giữ nguyên liệu do ban pháp chế Thịnh Hương ký với lý do điều tra rò rỉ bí mật thương mại. Tạ Minh Châu không cần đập máy chưng cất. Bà ta chỉ cần biến mọi cánh cửa hợp pháp thành tường. Tôi đọc lệnh. Mã hồ sơ dẫn đến một phụ lục mà tôi chưa từng ký. Chữ ký điện tử mang tên Cố Trạch Ngôn. Anh đến khi người của ban pháp chế đang dán niêm phong lên tủ nguyên liệu. “Tôi không ký văn bản này,” anh nói. Người phụ trách đưa máy tính bảng. “Chứng thư số của giám đốc Cố.” “Khóa quyền truy cập ngay,” anh nói với Cố Dư An. “Yêu cầu kiểm toán đăng nhập.” Tôi giơ tay ngăn anh xé niêm phong. “Để họ làm.” “Nếu niêm phong xưởng, mẫu của cô—” “Không ở đây.” Tôi chỉ chiếc camera trên trần. Từ lúc nhận phong bì đe dọa, tôi đã chuyển mẫu chính đến ngân hàng và để lại ba lọ trắng có đánh số. Người của pháp chế vừa tự ghi hình quá trình thu giữ mẫu không chứa gì. Tạ Minh Châu xuất hiện ngoài cửa như thể chỉ tình cờ đi ngang. “Cô chuyển tài sản đang tranh chấp khỏi địa điểm đăng ký?” “Tôi chuyển mẫu đối chứng theo điều khoản lưu mẫu và biên bản có chữ ký ba bên. Đây là bản sao.” Tôi đưa hồ sơ cho người phụ trách. Mỗi lần mở két ngân hàng đều có thời gian, nhận dạng và chữ ký Lục Hoài Sinh. Chuỗi bảo quản không đứt một phút nào. “Còn những lọ các anh vừa niêm phong,” tôi nói, “là mẫu trắng được ghi rõ trong sổ phòng thử. Nếu báo cáo thu giữ gọi chúng là di sản, người ký sẽ phải giải thích vì sao không đọc nhãn.” Hai nhân viên nhìn nhau. Người phụ trách gỡ băng niêm phong, lập biên bản hủy lệnh tại chỗ vì đối tượng không tồn tại. Tạ Minh Châu vẫn cười, nhưng mắt không còn cười. “Cô chuẩn bị khá kỹ.” “Mẹ tôi từng dạy không bao giờ giữ một bằng chứng ở nơi người muốn xóa nó biết trước.” Tôi nói câu ấy dù ký ức về mẹ chỉ còn những mẩu nhỏ. Có lẽ bà chưa từng nói nguyên văn. Nhưng chữ ký trên nhãn mẫu và quyết định giữ lại thứ hội đồng muốn hủy đã nói thay bà. Cố Trạch Ngôn không trả nợ giúp tôi. Anh làm điều hữu ích hơn. Anh yêu cầu pháp chế độc lập xác nhận lệnh thu giữ giả, gửi văn bản đến chủ nhà rằng Thịnh Hương chịu trách nhiệm cho mọi thiệt hại do lạm quyền và công bố việc chứng thư số của anh bị dùng trái phép. Nhờ vậy, chủ nhà rút thông báo chấm dứt trước khi nó có hiệu lực. Tôi bán chiếc máy đóng chai dự phòng để trả điện. Khi người mua chở máy đi, Cố Trạch Ngôn đứng ngoài cửa. “Cô có thể nhận tạm ứng theo hợp đồng,” anh nói. “Tạm ứng sau khi bên anh gây ra áp lực sẽ bị xem là tiền đổi kết luận.” “Vậy tôi mua dịch vụ phục dựng riêng cho một sản phẩm không liên quan?” “Cũng là tiền của anh.” Anh im lặng, rồi chỉ chiếc kệ trống. “Tôi ghét việc cô phải bán công cụ vì một cuộc chiến của gia đình tôi.” “Đây cũng là cuộc chiến của tôi từ lúc tên mẹ tôi nằm trong hộp.” “Tôi biết. Nhưng biết không làm tôi bớt ghét.” Tôi đưa anh một chổi nhỏ. “Nếu muốn có ích, quét chỗ máy vừa chuyển đi.” Anh cởi áo vest, cầm chổi. Cố Dư An bước vào đúng lúc ấy, đứng sững mất ba giây rồi lặng lẽ lấy điện thoại ra. “Cậu chụp thử xem,” Cố Trạch Ngôn nói. Cố Dư An cất máy ngay. “Em chỉ xem giờ.” “Điện thoại cậu cầm ngang.” “Đồng hồ của em thiết kế sáng tạo.” Tôi bật cười. Đó là tiếng cười đầu tiên trong hai ngày, nhỏ nhưng đủ khiến căn xưởng bớt giống hiện trường. Kết quả sơ bộ từ phòng thí nghiệm đến vào sáng kế tiếp. Hai mẫu có cùng nền gỗ và mộc tê, nhưng mẫu trong két chứa một polymer giữ hương không xuất hiện trong mẫu kho ngầm. Phổ khối cho thấy nó thuộc nhóm sản phẩm mới. Chúng tôi chưa có tên thương mại vì dữ liệu công khai bị giới hạn. Trang mười bảy của sổ ghi mã một nhà cung cấp cũ: Thất Lâm. Công ty Thất Lâm giải thể sáu năm trước, nhưng địa chỉ đăng ký trùng với kho hàng của Công ty Tư vấn Lam Kính, một doanh nghiệp chỉ có hai nhân viên và doanh thu bất thường từ Thịnh Hương. Người đại diện pháp luật của Lam Kính là em rể một trợ lý thuộc ban thương hiệu. “Tạ Minh Châu?” Cố Dư An hỏi. “Quan hệ chưa phải bằng chứng,” tôi nói. “Chúng ta cần dòng nguyên liệu.” Cố Trạch Ngôn mở quyền truy xuất mua hàng cho tổ giám sát. Trong tám năm, Lam Kính cung cấp “dịch vụ định vị thương hiệu”, không ghi nguyên liệu. Nhưng mỗi quý, khoản thanh toán tăng đúng vào những tháng phòng thử nghiệm nhận các lô chất giữ hương không nhãn. Chúng tôi tìm được một hóa đơn vận chuyển bị đính nhầm vào hồ sơ thiết kế. Hàng xuất từ nhà máy Tân Lộ, mã sản phẩm TN-7, giao đến xưởng thử nghiệm hai ngày trước vụ cháy. Cố Trạch Ngôn nhìn ngày tháng rất lâu. “Tôi đã thấy thùng của Tân Lộ hôm đó.” “Anh từng nói chỉ nhớ khói.” “Tôi nhớ một công nhân bảo thùng không nằm trong kế hoạch. Cha tôi yêu cầu chuyển xuống kho. Sau đó chuông báo cháy vang.” “Anh có nhớ ai ký nhận?” “Không.” Tôi không ép ký ức phải chính xác hơn khả năng của nó. Chúng tôi yêu cầu hồ sơ từ nhà máy Tân Lộ qua tổ giám sát. Phản hồi đầu tiên nói dữ liệu đã hết thời hạn lưu. Phản hồi thứ hai, sau khi Lục Hoài Sinh viện dẫn nghĩa vụ liên quan di sản, thừa nhận còn sổ vận chuyển giấy trong kho ngoại vi. Chúng tôi đến kho vào sáng sớm hôm sau. Sổ nhận hàng có một trang bị thay. Màu giấy mới hơn, lỗ ghim không trùng. Tuy nhiên, lớp giấy than phía dưới còn giữ nét ấn của chữ ký cũ. Tôi dùng ánh sáng xiên chụp lại. Các đường lõm hiện lên: Tạ Minh Châu. Cố Dư An nuốt khan. “Đủ chưa?” “Đủ để hỏi. Chưa đủ để kết luận bà ấy tráo mẫu.” Ở cuối kho, tôi tìm thấy một thùng Tân Lộ chưa dùng hết. Mã TN-7, ngày sản xuất sau vụ cháy ba tháng. Chất bên trong có mùi khô lạnh giống lớp cuối mẫu trong két, nhưng phiên bản này vẫn chưa hoàn thiện. Tôi lấy mẫu theo lệnh giám sát. Trên đường về, Cố Trạch Ngôn ngồi bên cạnh tôi ở hàng ghế sau. Xe đi qua cầu sông Miên, ánh nước chớp trên gương mặt anh. “Nếu vụ cháy bắt đầu từ lô thử nghiệm trái phép,” anh nói, “cha tôi đã biết.” “Có thể.” “Ông để tôi nhận trách nhiệm.” “Cũng có thể ông nghĩ mình đang giữ công ty sống sót để bảo vệ công nhân. Người ta thường gọi lựa chọn của mình là bảo vệ khi người khác phải trả giá.” “Cô đang nói tôi giống ông?” “Tôi đang nói anh từng quyết định thay bốn mươi ba người rằng họ cần anh nói dối. Có thể anh đúng về hậu quả lúc đó. Nhưng vẫn là quyết định thay.” Anh nhìn vết bỏng trên tay. “Tôi không biết làm thế nào để sửa tám năm.” “Đừng cố sửa tám năm bằng một hành động lớn. Bắt đầu từ việc không quyết định thay người khác hôm nay.” Anh quay sang tôi. Khoảng cách giữa hai chúng tôi đủ gần để tôi thấy một vệt mỏi dưới mắt anh. “Tôi muốn nắm tay cô,” anh nói. “Nhưng tôi không biết lúc này có phải vì tôi đang sợ hay không.” Sự thẳng thắn làm tim tôi chậm một nhịp. “Có thể là cả hai.” “Vậy cô có đồng ý không?” Tôi đặt tay mình lên ghế giữa, lòng bàn tay ngửa lên. “Một đoạn qua cầu.” Cố Trạch Ngôn nắm lấy. Tay anh ấm, lực rất nhẹ, như thể bất kỳ lúc nào tôi rút lại, anh sẽ buông ngay. Khi xe xuống hết dốc cầu, tôi thu tay về. Anh không hỏi thêm. Buổi chiều, Tạ Minh Châu đến Mộc Tê một mình. Bà ta không mang luật sư. Bà đặt lên bàn một hợp đồng mua lại xưởng, giá cao gấp bốn lần định giá thị trường, kèm vị trí trưởng phòng phục dựng tại Thịnh Hương trong năm năm. “Cô Tống không cần đóng vai người hùng nghèo khó,” bà ta nói. “Bán xưởng, giao mẫu và kết luận rằng khác biệt do lão hóa tự nhiên. Cô sẽ có phòng thí nghiệm tốt hơn nơi này.” “Tôi chưa kết luận polymer đến từ đâu.” “Nhưng cô biết một kết luận có thể làm hàng nghìn người mất việc.” “Bà dùng họ làm lá chắn giống cách bà dùng khoản nợ của tôi.” Tạ Minh Châu tự rót trà từ ấm trên bàn. “Cô còn trẻ. Cô tưởng sự thật là một lọ nguyên chất. Thực tế nó luôn phải pha loãng để người ta chịu được.” Tôi bật máy ghi âm trên bàn, đèn báo đã sáng từ lúc bà bước vào. “Bà muốn nói lại đề nghị giao mẫu đổi lấy hợp đồng không?” Bà ta nhìn đèn đỏ, không hề hoảng. “Cô có thể ghi. Tôi chỉ đề nghị một thương vụ.” “Điều khoản yêu cầu kết luận trước khi đủ dữ liệu là mua kết quả.” “Vậy từ chối đi.” “Tôi từ chối.” Tôi đẩy hợp đồng lại. Tạ Minh Châu đứng lên, vuốt phẳng cổ tay áo. “Khi mẫu đối chứng cuối cùng biến mất, cô sẽ ước mình đã chọn một thứ còn giữ được.” Cửa đóng sau lưng bà ta. Tôi gọi ngay cho Lục Hoài Sinh để kiểm tra két ngân hàng. Không ai bắt máy. Cùng lúc, chuông báo cháy của khu phố rú lên.