Tôi đứng sau một vệt sáng mỏng như đường phấn, nghe tiếng khán giả nín thở ở phía bên kia màn tối. Chỉ còn tám nhịp nữa. Kỷ Thanh Lam đang chờ giữa sân khấu, những người còn lại đã vào đúng vị trí, còn Lục Cảnh Thâm im lặng trong buồng điều khiển. Không ai giục tôi. Không ai nói tôi phải chứng minh điều gì. Qua tai nghe, giọng Cảnh Thâm vang lên rất khẽ. “Vãn Nghi, em muốn anh giữ vệt sáng hay tắt đi?” Tôi nhìn đầu mũi giày của mình, rồi nhìn khoảng sân khấu chỉ cách một bước chân. Đầu gối trái căng lên, không hẳn đau, nhưng đủ để nhắc tôi rằng cơ thể luôn nói trước lòng kiêu hãnh. Tôi có thể bước vào. Tôi cũng có thể lùi lại. Điều kỳ lạ là lần đầu tiên trong nhiều năm, cả hai lựa chọn đều thuộc về tôi. Ba tháng trước, tôi đến Nhà hát Kính Vũ với mục đích đơn giản hơn nhiều. Tôi chỉ định bàn giao mười hai thùng giấy, ký một biên bản, rồi trở về căn phòng làm việc nhỏ nhìn xuống con kênh phía đông Lam Giang. Mười hai thùng ấy là kho ký phổ chuyển động của Tống Nhược Vân. Sau khi Tống Nhược Vân qua đời, người thân duy nhất của bà ở nước ngoài gửi thư nhờ tôi phân loại tài liệu. Tôi từng là học trò, từng là vũ công trong Đoàn Vũ Lưu Quang, và sau chấn thương, tôi trở thành người duy nhất vẫn có thể đọc những dấu bút kỳ quặc của bà mà không cần chú giải. Với người khác, một vòng cung có ba vạch xiên chỉ là nét vẽ. Với tôi, nó là một bả vai mở chậm, một khuỷu tay chần chừ, một ý định chưa chịu thành hình. Chiếc xe chở hàng dừng trước cửa hậu nhà hát vào một sáng mưa. Tôi mặc áo len xanh xám, quần rộng, buộc tóc thấp, giấu nẹp gối dưới lớp vải không phải vì xấu hổ mà vì không muốn nghe câu hỏi. Cậu phụ kho đặt thùng cuối cùng xuống rồi hỏi tôi có cần xe đẩy không. “Tôi cần,” tôi đáp. Ngày trước, tôi sẽ nói không. Ngày trước, tôi coi việc nhờ giúp đỡ là một lời thú nhận. Sau hai năm vật lý trị liệu, tôi hiểu xe đẩy chỉ là xe đẩy. Bi kịch thường nằm trong cách người ta nhìn một vật, không nằm trong cái vật ấy. Nhà hát Kính Vũ đang sửa mặt tiền. Mùi bụi gỗ lẫn với mùi rèm nhung cũ. Tôi đẩy xe qua hành lang, bánh trước mắc vào khe sàn, suýt làm thùng trên cùng trượt xuống. Một bàn tay giữ lấy mép thùng trước khi tôi kịp phản ứng. “Xin lỗi,” người đàn ông bên cạnh nói. “Tôi chỉ giữ thùng. Không chạm vào cô.” Tôi ngẩng lên. Anh cao, mặc sơ mi màu than, đeo kính gọng mảnh. Một cây bút đo sáng cài ở túi ngực, đôi găng tay kỹ thuật vắt qua thắt lưng. Anh vẫn giữ mép bìa bằng hai ngón tay, như thể sợ sự giúp đỡ của mình vượt quá phạm vi cho phép. “Cảm ơn. Anh có thể nhấc thùng xuống giúp tôi.” Anh làm đúng câu tôi nói, không hơn. Sau đó anh chỉ vào cuốn sổ trên tay tôi. “Cô là Tạ Vãn Nghi?” “Tôi tưởng nhà hát chỉ thuê người biết đo sáng, không thuê người đoán tên.” Anh hơi cười. “Tôi không đoán. Tống Nhược Vân có một bản ký phổ ghi chú rằng chỉ Vãn Nghi mới gõ bút bốn nhịp rồi bỏ nhịp thứ năm.” Tôi nhìn xuống. Đầu bút trong tay tôi vừa chạm bìa sổ bốn lần. Thói quen ấy có từ thời tôi tập một đoạn xoay năm nhịp. Tôi luôn bỏ nhịp cuối để hít vào. Tống Nhược Vân từng dùng đầu đũa gõ lên trán tôi và bảo, em không được nợ âm nhạc một nhịp chỉ vì phổi em chậm. Tôi đã nghĩ bà quên từ lâu. “Anh là ai?” “Lục Cảnh Thâm. Thiết kế ánh sáng.” Anh nhìn về sân khấu đang mở cửa. “Tôi đến đo lại góc chiếu cho một vở phục dựng.” “Tôi chỉ giao tài liệu.” “Tôi cũng chỉ đo ánh sáng.” Chúng tôi nói hai chữ “chỉ” với vẻ nghiêm túc của hai người chưa biết mình sắp nói dối. Cảnh Thâm giúp tôi đẩy xe đến phòng lưu trữ rồi quay lại sân khấu. Tôi mở từng thùng, kiểm tra số niêm phong và ký vào danh sách. Công việc đáng lẽ mất bốn mươi phút. Nhưng ở thùng thứ chín, tôi thấy một bìa hồ sơ màu lam đã bạc, trên gáy viết tên Mùa Tuyết Không Rơi. Tay tôi dừng lại. Đó là vở cuối cùng Tống Nhược Vân biên đạo trước khi bệnh. Cũng là vở chúng tôi từng tập dở dang trước ngày đầu gối tôi gập xuống trong một cú tiếp đất. Không có tiếng xương gãy như phim ảnh. Chỉ có một âm bục kín, một cơn nóng rát, rồi cả thế giới nghiêng đi khi tôi cố đứng lên lần nữa. Vở bị xếp kho. Tôi phẫu thuật hai lần. Tống Nhược Vân đến thăm, mang theo một túi quýt chua và tuyệt nhiên không nói câu “rồi em sẽ nhảy lại”. Khi ấy tôi giận bà vì sự im lặng. Về sau tôi mới hiểu đó là người duy nhất không đem tương lai của tôi ra hứa thay. Tôi vừa đặt hồ sơ sang bên thì Từ Khải Luân bước vào. Nhà sản xuất của Nhà hát Kính Vũ vẫn giữ thói quen mặc vest ngay cả khi sàn đầy mạt cưa. Ông nhìn tập hồ sơ, nhìn tôi, rồi thở ra như người vừa thấy một con số trong bảng ngân sách tự biến thành tiền. “Đúng lúc quá,” Khải Luân nói. “Chúng tôi định phục dựng vở này cho mùa diễn cuối năm.” “Tôi nghe nhà thiết kế ánh sáng nói rồi.” “Vậy cô cũng biết chúng tôi cần một người đọc ký phổ. Không ai hiểu bản thảo bằng cô.” “Tôi đến bàn giao kho.” “Và tôi đang đề nghị một hợp đồng.” Khải Luân kéo ghế ngồi đối diện. “Cố vấn phục dựng, quyền duyệt chuyên môn. Nếu cô sẵn lòng xuất hiện trong buổi giới thiệu, chúng ta có thể dùng câu chuyện trở lại sân khấu sau đổ vỡ. Công chúng rất cần một hy vọng thật.” Tôi khép bìa hồ sơ. “Ông đang đề nghị tôi phục dựng vở hay bán đầu gối của tôi?” Khải Luân không nổi giận. Điều ấy khiến ông nguy hiểm hơn một người thô lỗ. Ông mở bảng lịch diễn, chỉ cho tôi ba tuần trống, số ghế phải bán, khoản sửa mái vòm đang nợ và cam kết với Quỹ Nghệ thuật Tinh Tuyền. “Nhà hát không sống bằng ý định tốt,” ông nói. “Tôi cần khán giả. Cô cần tác phẩm của cô Tống được nhìn thấy. Hai việc ấy không nhất thiết đối lập.” “Tôi không phải tác phẩm của Tống Nhược Vân.” “Nhưng cô là người cuối cùng từng được bà chọn cho vai trung tâm.” Câu nói chạm đúng nơi tôi vẫn tưởng đã thành sẹo. Tôi ghét Khải Luân vì biết điều đó. Tôi còn ghét bản thân hơn vì trong một giây, tôi đã hình dung tên mình trên áp phích. Tôi không trả lời. Tôi mang hồ sơ ra một bàn dài bên cánh gà, nơi ánh sáng đủ rõ để đọc giấy cũ. Từ sân khấu, Cảnh Thâm đang gọi kỹ thuật viên xoay một đèn chiếu. Giọng anh bình tĩnh, từng yêu cầu đều có lý do. Đến khi nhận ra tôi mở bản ký phổ, anh tắt bộ đàm và đi xuống, nhưng dừng cách bàn hai mét. “Tôi có được xem không?” anh hỏi. “Anh đang thiết kế vở mà chưa xem ký phổ?” “Tôi có bản sao mười sáu trang đầu. Bản đầy đủ nằm trong kho của Tống Nhược Vân.” Tôi gật đầu. Cảnh Thâm mới tiến lại. Chúng tôi trải các tờ giấy theo thứ tự. Những nét bút đầu tiên quen thuộc đến mức tôi nghe được tiếng đếm của Tống Nhược Vân trong đầu. Phần mở là đường chéo dài qua sân khấu. Tiếp đó, nhóm vũ công tách ra như tuyết bị gió xé. Vai trung tâm không chống lại dòng chuyển động mà học cách đổi hướng cùng nó. Tôi dùng bút chì đi theo từng ký hiệu. Cảnh Thâm dùng thước trong đo vị trí tương đối của các cụm. Chúng tôi gần như không nói chuyện suốt nửa giờ. Sự im lặng giữa hai người xa lạ thường khó chịu. Với chúng tôi, nó giống một căn phòng có cửa mở. Đến trang cuối, nhịp bút của tôi dừng. Có một khoảng trắng ở phần kết. Tám ô nhịp cuối không có ký hiệu chuyển động. Tôi kiểm tra số trang, mép gáy, mặt sau. Giấy liền nguyên, không rách, không có dấu bị bóc. Khoảng trống nằm gọn trong bố cục, sau một đường mực dẫn thẳng đến giữa trang rồi dừng lại. Cảnh Thâm cúi gần hơn. “Có thể mực phai không?” “Không. Mực của Tống Nhược Vân ăn giấy. Nếu từng viết, vẫn sẽ có vết hằn.” “Bà chưa hoàn thành?” Tôi nhìn tám ô trắng. “Có thể.” Nhưng cách đường mực dừng lại quá dứt khoát. Tống Nhược Vân không bao giờ bỏ một câu giữa dấu phẩy. Nếu bà chưa biết phải viết gì, bà sẽ vẽ hàng chục phương án lên mép giấy, cãi nhau với chính mình bằng ba màu bút. Ở đây không có gì ngoài khoảng trống sạch sẽ. Khải Luân theo chúng tôi ra bàn. Khi thấy phần thiếu, ông nhíu mày đúng hai giây rồi nói có thể dùng lại đoạn kết từ bản diễn thử cũ. “Tôi chưa từng diễn đến đoạn kết,” tôi nói. “Có một bản dựng sơ bộ trong kho hình ảnh. Chúng ta có thể tái tạo tinh thần.” “Không ai được lấy một đoạn động tác cũ, gắn vào chỗ này rồi gọi đó là ý của Tống Nhược Vân.” Khải Luân khoanh tay. “Vậy cô có giải pháp nào khác?” Tôi biết mình nên nói không. Tôi đã xây một cuộc sống tương đối yên ổn bằng cách tránh mọi căn phòng có gương cao và sàn đàn hồi. Tôi ký phổ cho người khác, dạy lịch sử chuyển động, thỉnh thoảng viết phê bình dưới tên viết tắt. Tôi có thể đọc một cú nhảy mà không cần thực hiện nó. Tôi vẫn là người làm nghệ thuật, dù một phần trong tôi chưa chịu tin. Từ trên giàn đèn, một tia sáng thử quét qua sân khấu rồi dừng ở chiếc ghế gỗ bỏ quên giữa sàn. Trong vùng sáng ấy, chiếc ghế không giống đạo cụ. Nó giống một lời mời không đòi tôi phải đứng. Tôi quay sang Khải Luân. “Tôi nhận việc với ba điều kiện. Thứ nhất, tôi có quyền phủ quyết mọi động tác đi ngược logic ký phổ. Thứ hai, mọi hình ảnh có tên và cơ thể tôi phải được tôi duyệt. Thứ ba, không ai được hứa tôi sẽ biểu diễn.” Khải Luân nhìn chiếc nẹp lộ ra khi tôi ngồi xuống, rồi nhìn thẳng vào tôi. “Nếu khán giả hỏi liệu cô có trở lại sân khấu thì sao?” “Ông nói tôi phục dựng. Chỉ thế thôi.” “Còn tám nhịp cuối?” “Tôi sẽ tìm câu trả lời trong công việc, không tìm trong một khẩu hiệu.” Cảnh Thâm đặt thước xuống. “Tôi muốn thêm một điều kiện.” Tôi liếc anh. “Đây là hợp đồng của tôi.” “Điều kiện cho phần ánh sáng. Không dùng tối để che những gì cơ thể người diễn không làm. Nếu chuyển động thay đổi, ánh sáng thay đổi cùng nó.” Khải Luân day sống mũi. “Hai người mới gặp nhau chưa đầy một giờ mà đã biết cách làm ngân sách của tôi đau đầu.” “Tôi tưởng nhà hát sống bằng ý định tốt,” tôi nói. Khải Luân bật cười bất đắc dĩ. “Nhà hát sống sót bất chấp ý định tốt. Tôi sẽ sửa hợp đồng.” Buổi thử đầu tiên diễn ra hai ngày sau. Tôi đến sớm, mang theo sổ ký phổ, băng dán sàn và một chiếc ghế tựa lưng thấp. Kỷ Thanh Lam đã khởi động ở giữa phòng. Thanh Lam là vũ công chính mới của Đoàn Vũ Lưu Quang, nhỏ hơn tôi bốn tuổi, có đôi chân mạnh và khả năng dừng một cú xoay chính xác đến mức khó chịu. Khi thấy tôi, Thanh Lam lập tức đứng thẳng. “Em đã xem bản ghi cũ của chị,” Thanh Lam nói. “Em không định bắt chước.” “May quá. Tôi cũng không định bắt cô làm bản sao.” Thanh Lam cắn môi, rồi hỏi điều mà cả đoàn đều muốn hỏi. “Chị có khó chịu khi em diễn vị trí của chị không?” “Tôi khó chịu khi người ta gọi đó là vị trí của tôi.” Tôi đặt ghế giữa sàn. “Vai diễn không phải ghế có khắc tên. Cô làm tốt thì nó thuộc về cô trong khoảnh khắc cô diễn.” Cảnh Thâm đứng bên bàn điều khiển tạm, nghe vậy liền quay mặt đi. Tôi vẫn thấy khóe miệng anh cong lên. Tôi yêu cầu Thanh Lam thực hiện đoạn mở. Thanh Lam chạy đường chéo, hạ trọng tâm, cuộn vai rồi vươn lên. Kỹ thuật đẹp, nhưng ý định sai. Thanh Lam đang chiến thắng cơn gió, trong khi ký phổ yêu cầu người diễn để cơn gió đổi mình. “Lại từ đầu,” tôi nói. Chúng tôi thử sáu lần. Lần thứ bảy, Thanh Lam bực đến đỏ mắt. “Chị cứ nói đừng chống lại, nhưng cơ thể em phải làm gì?” Câu hỏi công bằng. Tôi đã dùng ngôn ngữ của người đứng ngoài để yêu cầu một cơ thể bên trong hiểu mình. Tôi kéo ghế đến cạnh Thanh Lam và ngồi xuống. “Đưa tay cho tôi. Không cần kéo.” Thanh Lam đặt bàn tay vào tay tôi. Tôi giữ khuỷu tay sát thân, để lực từ vai truyền qua cổ tay. Khi Thanh Lam tiến một bước, tôi không đứng. Tôi chỉ xoay xương ức, đổi hướng bàn tay và thả một phần trọng lượng vào lưng ghế. Chuyển động rất nhỏ, nhưng nó khiến cánh tay Thanh Lam bị dẫn lệch sang đường cong mới. Thanh Lam lập tức hiểu, xoay theo lực ấy rồi mở người về phía sau. Cảnh Thâm bật một vệt sáng xiên. Bóng hai chúng tôi gặp nhau trên sàn. “Đúng rồi,” tôi nói, hơi thở nhanh hơn mức cần thiết. “Không thắng lực kéo. Cho nó một nơi khác để đi.” Thanh Lam lặp lại mà không cần tay tôi. Lần này, cả đoạn chuyển mở ra. Những người trong đoàn đang nói chuyện đều im bặt. Khải Luân đứng ở cửa phòng thử. Ông nhìn Thanh Lam, nhìn tôi trên ghế, rồi chậm rãi gập bảng lịch diễn lại. Tôi chờ cảm giác xấu hổ vì mình không đứng. Nó không đến. Thay vào đó là thứ cảm giác cũ mà tôi đã tưởng chỉ tồn tại khi cơ thể bay khỏi sàn: khoảnh khắc một ý niệm vô hình tìm được hình dạng. Thanh Lam quỳ xuống cạnh ghế, mắt sáng lên. “Đoạn này là của chị.” Tôi lắc đầu. “Là của chúng ta. Cô cho nó quãng đường. Tôi chỉ đổi hướng.” Nhưng khi ghi ký hiệu đầu tiên vào bản phục dựng, tôi vẫn viết tên mình bên lề. Không phải tên của một người từng nhảy. Là tên của người vừa tạo ra chuyển động ngay trên chiếc ghế này. Niềm vui của buổi thử đầu kéo dài đúng mười bảy phút. Sau khi đoàn nghỉ, tôi đứng dậy khỏi ghế để sang bàn ký phổ. Đầu gối trái cứng vì ngồi lâu, khiến bước đầu tiên ngắn hơn bình thường. Cảnh Thâm đang chỉnh đèn phía đối diện lập tức hạ góc chiếu. Vệt sáng vốn nằm trên sàn chuyển lên ngang hông tôi, làm đoạn đường đến bàn tối đi và che khuất dáng bước không đều. Anh làm rất nhanh, có lẽ hoàn toàn theo bản năng nghề nghiệp. Nhưng tôi nhìn thấy. “Đưa đèn về vị trí cũ,” tôi nói. Cảnh Thâm ngẩng lên. “Ánh trực diện đang gắt. Anh chỉ muốn đường đi dễ chịu hơn.” “Dễ chịu cho ai?” Cả phòng yên xuống. Cảnh Thâm nhìn bảng điều khiển rồi nhìn tôi. Anh hiểu trước khi tôi phải giải thích, nhưng hiểu ra không xóa được việc đã làm. “Cho em,” anh đáp. “Anh không hỏi tôi. Anh thấy tôi bước khó, rồi tự quyết rằng bóng tối sẽ giúp.” “Anh không định che em.” “Ý định không đổi kết quả.” Tôi chống tay lên bàn, đợi cơn căng qua đi. “Nếu tôi cần ánh sáng trên đường, tôi sẽ nói. Nếu tôi cần ghế, tôi sẽ lấy ghế. Đừng biến cơ thể tôi thành một lỗi kỹ thuật anh âm thầm sửa.” Thanh Lam nhìn sang chỗ khác. Những người còn lại giả vờ uống nước. Tôi không thích dạy ai một bài học trước đám đông, nhưng càng không muốn cả đoàn học rằng giúp đỡ có thể đi trước đồng thuận. Cảnh Thâm tắt bộ đàm, rời bàn điều khiển và đứng ở khoảng cách vừa đủ. “Anh xin lỗi vì đã tự đổi ánh sáng để che bước chân của em mà không hỏi,” anh nói. “Anh đã đặt cảm giác mình đang giúp lên trên quyền quyết định của em. Từ giờ, mọi thay đổi liên quan đường đi, vị trí nghỉ hoặc cách cơ thể em xuất hiện, anh sẽ hỏi trước. Bây giờ em muốn anh làm gì?” Lời xin lỗi cụ thể đến mức cơn giận của tôi không có chỗ bấu víu. Tôi chỉ vào dấu băng ban đầu. “Trả vệt sáng lại đó. Và thêm một vùng sáng cạnh bàn. Không phải vì tôi cần giấu bước đi, mà vì tôi cần đọc chữ.” “Được.” Anh làm đúng như vậy. Không thêm, không bớt. Cuối buổi, Cảnh Thâm đưa tôi một tờ giấy có ba cột. Cột thứ nhất ghi việc cần hỏi. Cột thứ hai là người có quyền trả lời. Cột thứ ba là tín hiệu dừng. Anh gọi nó là bản đồ quyền kiểm soát. “Tên nghe như tài liệu vận hành máy nâng,” tôi nói. “Máy nâng còn có quy trình rõ hơn con người.” “Anh đang xin tôi phê duyệt cả cách xin phép à?” “Anh đang hỏi xem cách này có làm em phải giải thích quá nhiều không.” Tôi đọc tờ giấy. Ở mục ánh sáng đường đi, anh ghi Tạ Vãn Nghi. Ở mục thay đổi động tác, anh ghi Tạ Vãn Nghi và Kỷ Thanh Lam. Ở mục chạm hỗ trợ, anh để trống, chờ từng lần hỏi. “Tạm được,” tôi nói. “Nhưng đừng biến đồng thuận thành biểu mẫu. Có những ngày câu trả lời thay đổi.” Cảnh Thâm gật đầu. “Vậy câu hỏi cũng phải được hỏi lại.” Tôi gấp tờ giấy bỏ vào sổ. Khi ấy tôi chưa biết câu nói đó sẽ ở lại trong tôi lâu hơn nhiều bản thiết kế đẹp. Phòng thử thứ hai bắt đầu bằng ba dải lụa treo từ thanh ngang thấp. Trong ký phổ, đoạn giữa yêu cầu vai trung tâm được nâng khỏi sàn, xoay trên trục chéo rồi rơi qua vòng tay của bốn vũ công. Đó từng là đoạn tôi thích nhất. Tôi đã tập cú rơi hàng trăm lần, tin tưởng tuyệt đối vào những bàn tay sẽ đón mình. Bây giờ, chỉ nhìn Thanh Lam thử lực nâng, đầu gối tôi đã nhớ lại cú ngã cũ bằng một cơn nóng âm ỉ. Khải Luân muốn giữ nguyên đoạn kỹ thuật vì nó đẹp và đã có trong hồ sơ tài trợ. Tôi không phản đối vẻ đẹp. Tôi phản đối việc cả đoàn phải giả rằng chỉ một cơ thể bay lên mới tạo được cảm giác mất trọng lực. Tôi buộc dải lụa đầu tiên quanh cổ tay Thanh Lam, không thắt nút, chỉ để vải nằm trên da. “Đừng nghĩ lụa nâng cô,” tôi nói. “Nó chuyển lực của cô qua người khác.” Bốn vũ công giữ các đầu vải. Khi Thanh Lam hạ trọng tâm, họ lùi ra, kéo dải lụa thành những đường chéo căng. Thanh Lam không rời sàn nhưng thân trên nghiêng xa khỏi trục. Cả nhóm trở thành một cấu trúc cùng chịu lực, không ai chỉ làm bệ đỡ. Lần đầu, vải siết cổ tay Thanh Lam. Lần thứ hai, một người lùi chậm khiến đường chéo sụp. Lần thứ ba, Cảnh Thâm đặt ánh sáng quá cao, bóng dây lụa biến mất và cảnh trông như một bài tập thể lực. Tôi yêu cầu hạ đèn ngang thắt lưng. Cảnh Thâm hỏi lại liệu vùng sáng có được đi qua nẹp gối của tôi khi tôi vào chỉnh khoảng cách không. “Được,” tôi nói. “Không cần né.” Vệt sáng đi thẳng qua lớp quần rộng, làm đường viền mảnh của nẹp hiện rõ. Không ai nhìn chằm chằm. Cái nẹp chỉ ở đó, như dây buộc tóc của Thanh Lam hay găng tay của Cảnh Thâm. Sự bình thường ấy khiến cổ họng tôi nghèn nghẹn hơn mọi lời động viên. Tôi ngồi ở đầu một dải lụa, giữ lực đối trọng bằng hai tay. Thanh Lam nghiêng người. Bốn vũ công đổi vị trí quanh Thanh Lam, vải trượt qua tay họ, tạo cảm giác cả không gian đang nâng cô lên dù bàn chân cô chưa rời sàn. Đến nhịp cuối, tôi buông đầu lụa theo tín hiệu. Những dải vải rơi mềm, còn Thanh Lam đứng thẳng bằng chính sức mình. Khải Luân xem lại video, im lặng khá lâu. “Không có cú bay,” ông nói. “Có năm người cùng tạo cảm giác bay,” tôi đáp. “Nhà tài trợ sẽ hỏi thiết bị treo họ đã cấp tiền đi đâu.” “Dùng cho đoạn khác. Hoặc trả lại.” Khải Luân thở dài. “Cô có biết trả lại một khoản tiền còn khó hơn xin nó không?” “Tôi biết biến một cơ thể thành lý do giữ thiết bị là việc còn khó chịu hơn.” Thanh Lam lau mồ hôi, chen vào. “Em thích bản này. Cú nâng cũ khiến em thành vật được chuyền. Bản này buộc em phải nghe bốn người còn lại.” Khải Luân nhìn từng người. Ông không phải kẻ xấu; ông chỉ quen tin vào những thứ có thể in trong tờ giới thiệu. Cuối cùng ông gạch một dòng trên bảng chi phí. “Cho tôi một bản quay sạch trước thứ sáu.” Đó là cách Khải Luân nói đồng ý. Sau buổi thử, tôi và Cảnh Thâm xuống kho phụ tìm sơ đồ treo lụa cũ. Kho không có cửa sổ, chỉ có bóng đèn vàng và mùi giấy ẩm. Cảnh Thâm đọc nhãn trên các hộp, còn tôi ngồi trên ghế thấp lật từng tập tài liệu. Anh không hỏi tại sao tôi ngồi. Tôi cũng không phải giải thích. Trong hộp ghi Nghiên cứu ngoại biên, tôi tìm thấy sáu cuốn băng hình, ba bài phỏng vấn và một tập bản vẽ của Tống Nhược Vân. Ngày tháng trên bìa sớm hơn chấn thương của tôi gần bốn năm. Trang đầu vẽ một nghệ sĩ nam tóc bạc tựa tay lên khung gỗ. Trang sau là nhóm phụ nữ lớn tuổi chuyển động quanh bàn dài. Có ghi chú về biên độ khớp, sức bền, thính giác giảm và cách rung sàn giúp cảm nhịp. Ở mép một bản phác, Tống Nhược Vân viết rằng chuyển động không mất đi khi cơ thể đổi khác; chỉ có người quan sát lười thay ngôn ngữ. Tôi đọc câu ấy ba lần. Bấy lâu nay, một phần trong tôi vẫn tin Mùa Tuyết Không Rơi được Tống Nhược Vân cất lại vì bà thương hại tôi. Rằng sau cú ngã, mọi thay đổi trong bản thảo đều là miếng đệm đặt quanh một người đã vỡ. Nhưng các nghiên cứu này có trước tôi, trước ca phẫu thuật, trước cả ngày bà chọn tôi vào vai. Cảnh Thâm ngồi xuống sàn, đối diện nhưng không chạm vào tập giấy. “Em ổn không?” “Tôi không biết.” Tôi nuốt khan. “Tôi đã giận Tống Nhược Vân vì không nói sẽ chờ tôi khỏe. Tôi nghĩ bà nhìn thấy tôi hỏng rồi đổi vở để cứu tôi.” “Có vẻ bà đã đặt câu hỏi này từ trước.” “Vậy tôi không đặc biệt.” Cảnh Thâm nghiêng đầu. “Em muốn mình đặc biệt vì được thương hại à?” Tôi ném một miếng bìa lót về phía anh. Anh đỡ được, bật cười. “Anh nói rất giỏi để người khác muốn đánh.” “Anh đang cố nói em không phải cái cớ. Em là một phần trong câu hỏi lớn hơn của bà.” Tôi biết. Chính vì biết nên tôi mới muốn khóc. Nếu vở không sinh ra từ tai nạn của tôi, tôi có thể bước vào nó bằng tư cách một nghệ sĩ, không phải bệnh án. Chúng tôi mang tài liệu lên phòng thử. Thanh Lam xem đoạn băng về các nghệ sĩ lớn tuổi rồi đề nghị cả đoàn tập một vòng với giới hạn ngẫu nhiên. Người không được nhấc tay quá vai. Người chỉ di chuyển lùi. Người phải giữ một điểm tựa. Không phải để giả làm người khuyết tật, mà để nhận ra mỗi giới hạn làm phát sinh một chiến lược. Một vũ công trẻ nói đùa rằng giới hạn của mình là không thể tập trước bữa trưa. Thanh Lam ném khăn vào cậu ta. Tiếng cười làm căn phòng bớt thiêng liêng. Tôi thích thế. Cơ thể khác biệt không cần lúc nào cũng được đối xử như bài diễn văn. Đến cuối tuần, chúng tôi có một đoạn lụa hoàn chỉnh. Thanh Lam nghiêng giữa mạng vải, bốn người truyền lực qua nhau, còn tôi giữ nhịp bằng đầu bút gõ lên thành ghế. Cảnh Thâm để ánh sáng lướt qua từng bàn tay đang làm việc. Không ai biến mất. Chiều hôm ấy, điện thoại của tôi rung liên tục khi đang trên xe về nhà. Một đường liên kết từ trang chính thức Nhà hát Kính Vũ đã được chia sẻ hàng nghìn lượt. Khung hình đầu là đoạn video cũ tôi nhảy trước chấn thương. Khung hình sau là bóng lưng hiện tại của tôi trong phòng thử, nẹp gối lộ dưới vệt sáng. Dòng chữ chạy giữa hai hình ảnh viết: Nữ vũ công trở lại từ đổ vỡ. Phía dưới, giọng Khải Luân được cắt từ một cuộc phỏng vấn khác, nói rằng khán giả sẽ chứng kiến hành trình không đầu hàng số phận. Tôi xem hết mười chín giây. Không có cảnh nào nói tôi sẽ biểu diễn, nhưng cách dựng khiến lời hứa ấy treo lơ lửng rõ hơn chữ viết. Bình luận đã bắt đầu đoán tôi sẽ thực hiện cú nhảy nào. Có người gọi tôi là phép màu. Có người bảo nhà hát đang lợi dụng một phụ nữ tàn tật. Cả hai phía đều nói về tôi như thể tôi không có mặt. Tôi gọi Khải Luân. “Gỡ video xuống.” “Vãn Nghi, đây chỉ là bản thử phản ứng. Con số rất tốt.” “Tôi không cho phép dùng video cũ ghép với hình cơ thể hiện tại.” “Cô đã duyệt việc quay phòng thử.” “Tôi duyệt tài liệu quá trình, không duyệt câu chuyện tái xuất.” “Chúng tôi không hề viết cô sẽ biểu diễn.” “Ông biết chính xác người xem sẽ hiểu gì.” Tôi nhìn hình mình đứng im trong vệt sáng, bị dựng thành khoảnh khắc chuẩn bị bay. “Gỡ trong một giờ. Đăng lời đính chính rằng tôi là người phục dựng và chưa cam kết xuất hiện trên sân khấu.” “Quỹ Tinh Tuyền đang xem số liệu. Nếu gỡ lúc này, chúng ta mất đà truyền thông.” “Nếu không gỡ, ông mất tôi.” Đầu dây bên kia im lặng. Khải Luân nói chậm hơn. “Cô sẽ bỏ tác phẩm của Tống Nhược Vân vì một câu chữ chưa hoàn hảo sao?” “Đừng dùng người đã mất để ép tôi ở lại.” Tôi cúp máy. Tay run không phải vì sợ bỏ dự án. Tôi sợ mình sẽ không bỏ. Tôi đã yêu những gì chúng tôi làm trong phòng thử, và chính tình yêu ấy có thể bị biến thành dây buộc đẹp nhất. Năm phút sau, Cảnh Thâm gọi. “Anh vừa xem video,” anh nói. “Anh không hỏi em có đang phản ứng quá mức. Anh muốn biết em cần gì.” “Tôi cần họ gỡ xuống.” “Anh sẽ gửi văn bản xác nhận phần ánh sáng bị dùng sai phạm vi duyệt. Nhưng nếu anh lên tiếng, Khải Luân có thể cắt ngân sách của anh.” “Tôi không yêu cầu anh hy sinh thiết kế.” “Anh biết. Vì thế đây là quyết định của anh.” Tôi nhắm mắt. Người ta thường khiến sự hy sinh của họ thành món nợ trước khi trao. Cảnh Thâm chỉ nói rõ cái giá để tôi không nhầm đó là phép màu. “Anh chắc chứ?” “Chắc. Và anh sẽ không nói thay em. Anh chỉ xác nhận phần thuộc quyền của anh.” Một giờ sau, video biến mất. Trên trang nhà hát xuất hiện thông báo rằng Tạ Vãn Nghi giữ vai trò phục dựng, mọi quyết định biểu diễn thuộc về cá nhân cô, và tư liệu tập luyện đã được dùng ngoài ngữ cảnh được duyệt. Dưới thông báo có tên Cảnh Thâm trong tư cách người phụ trách hình ảnh sân khấu. Sáng hôm sau, Khải Luân đặt lên bàn chúng tôi một bảng ngân sách mới. Hệ thống đèn chuyển động bị gạch bỏ, hai máy chiếu bị thu hồi, số giờ kỹ thuật giảm một phần ba. “Quỹ Tinh Tuyền không rút,” ông nói, “nhưng khoản truyền thông bổ sung không còn. Chúng ta phải bù từ thiết kế.” Cảnh Thâm nhìn những dòng đỏ. “Tôi hiểu.” “Tôi hy vọng hai người thấy quyền kiểm soát có giá.” Tôi kéo bảng về phía mình. “Giá ấy không chỉ do chúng tôi tạo ra. Ông đã vi phạm thỏa thuận trước.” Khải Luân gật đầu, vẻ mệt mỏi làm ông già đi. “Đúng. Tôi đã quá tay. Tôi xin lỗi vì dùng câu chuyện của cô để lấp một lỗ ngân sách. Nhưng lời xin lỗi không trả tiền điện. Bây giờ chúng ta làm gì?” Cảnh Thâm lấy bút, khoanh ba đèn cố định còn lại. “Chúng ta thôi làm ánh sáng chạy theo người,” anh nói. “Cho người và bóng tự tạo chuyển động.” Tôi nhìn sân khấu trống, nhìn ba nguồn sáng ít ỏi, rồi nhớ đến những dải lụa chỉ bay khi nhiều người chia lực. “Phòng thử tiếp theo,” tôi nói, “chúng ta dùng bóng đổ.” Phòng thử bóng đổ không bắt đầu bằng ánh sáng. Nó bắt đầu bằng một cuộc tranh cãi về tấm màn. Cảnh Thâm muốn dùng màn xám mỏng để bóng giữ được đường viền. Khải Luân chỉ còn một tấm màn trắng từng dùng cho kịch thiếu nhi, trên góc vẫn dính một ngôi sao bạc. Thanh Lam nói nếu không gỡ được ngôi sao thì cứ coi đó là tuyết. Tôi nói tuyết không rơi thì ngôi sao cũng không được rơi. Cuối cùng, cả đoàn mất hai mươi phút bóc keo và thêm một câu chuyện để cười trong giờ nghỉ. Cảnh Thâm đặt một đèn cố định thấp sát sàn. Khi Thanh Lam đứng trước nguồn sáng, bóng cô phóng lớn lên màn. Tôi ngồi phía sau, lệch nửa mét. Bóng của tôi hiện nhỏ hơn, đường vai và cánh tay sắc nét, phần chân bị lưng ghế cắt ngang. “Anh muốn giấu ghế không?” tôi hỏi. “Không,” Cảnh Thâm đáp. “Anh muốn ghế có mặt như một phần hình học.” “Câu trả lời tốt.” “Anh đã tập.” Chúng tôi thử để bóng tôi đi trước Thanh Lam. Tôi nghiêng vai, Thanh Lam theo đường bóng bằng cả thân người. Tôi khép khuỷu tay, Thanh Lam xoay vào trong. Hai cơ thể không bắt chước nhau; một chuyển động nhỏ của tôi được phóng đại qua ánh sáng, rồi Thanh Lam trả lại bằng lực và quãng đường. Lần thứ tư, Thanh Lam tự thêm một cú xoay. Bóng của tôi dừng, còn cơ thể Thanh Lam tiếp tục qua vùng sáng, khiến hai hình tách nhau rồi gặp lại ở mép màn. Tôi đập bút xuống bàn. “Giữ đoạn đó.” Thanh Lam thở dốc. “Em tưởng chị sẽ mắng vì em phá ký phổ.” “Ký phổ ghi quan hệ, không ghi nhà tù. Cô tách ra đúng lúc.” Cảnh Thâm giảm độ sáng một nấc. Bóng không còn đen đặc mà lộ lớp xám ở nơi hai hình chồng lên nhau. Khoảnh khắc ấy trông như một song vũ giữa người thật và một ký ức không chịu đứng yên. Khải Luân xem từ hàng ghế đầu, lần đầu không hỏi cảnh này bán vé thế nào. Ông chỉ nói: “Đẹp.” Tôi cũng thấy đẹp. Nhưng vẻ đẹp lần này không đòi tôi phải quên cái ghế, cái nẹp hay khoảng cách giữa tôi với Thanh Lam. Nó sinh ra chính từ những thứ ấy. Sau buổi thử, Cảnh Thâm bảo có thứ muốn đưa tôi xem. Anh lấy từ túi thiết bị một cuốn sổ bìa đen đã sờn góc. Tên Tống Nhược Vân viết ở trang đầu, bên dưới là chữ của Cảnh Thâm ghi ngày nhận cách đây hơn hai năm. “Bà gửi cho anh trước khi mất?” tôi hỏi. “Gửi khi anh thiết kế một triển lãm ở phía bắc Lam Giang. Bà nói nếu Mùa Tuyết Không Rơi được dựng lại, anh phải đọc nó cùng người phục dựng. Anh đã đưa bản sao mười sáu trang cho nhà hát, nhưng giữ cuốn gốc vì trong thư bà dặn không giao cho bộ phận truyền thông.” “Anh biết trong này có gì?” “Có cue ánh sáng thử nghiệm. Có vài ghi chú anh không hiểu. Anh không biết tám nhịp cuối ra sao.” Tôi mở sổ. Các trang đầu là sơ đồ góc chiếu, độ cao và nhịp chuyển. Ở đoạn bóng đổ, Tống Nhược Vân khoanh một câu hai lần: Ánh sáng không được giả vờ xóa giới hạn của người diễn. Giới hạn phải được nhìn thấy đủ rõ để khán giả hiểu chuyển động đã lựa chọn nó như thế nào. Bên dưới, Cảnh Thâm từng ghi bằng bút chì: Nếu thấy cả giới hạn lẫn lựa chọn, khán giả sẽ nhìn cái nào trước? Tôi hỏi: “Bây giờ anh có câu trả lời chưa?” “Có lẽ nhiệm vụ của anh không phải quyết định họ nhìn cái nào.” Anh chạm ngón tay lên mép bàn, không chạm vào tay tôi. “Anh chỉ phải trung thực với cả hai.” Tôi lật tiếp. Một trang có sơ đồ vệt sáng mỏng chạy từ cánh gà vào giữa sân khấu. Tôi nhận ra nó giống hệt vệt sáng Cảnh Thâm đã đặt trong buổi đầu. “Anh dùng ý của bà từ đầu.” “Anh thử xem nó có còn đúng không.” “Và nếu tôi không nhận việc?” “Anh vẫn sẽ dùng cho Thanh Lam. Vở không được phép phụ thuộc vào việc em có đứng trong ánh sáng hay không.” Câu ấy làm tôi nhẹ nhõm, đồng thời đau một cách khó gọi tên. Tôi muốn mình được cần đến, nhưng không muốn cả tác phẩm dùng sự cần thiết ấy để giữ tôi. Cảnh Thâm dường như hiểu sự mâu thuẫn, nên không nói thêm. Tối hôm đó, một trận mưa lớn làm trạm điện phía sau nhà hát chập chờn. Đoàn đã về gần hết, chỉ còn tôi, Cảnh Thâm và hai kỹ thuật viên lưu dữ liệu. Khi đèn trần tắt phụt, hệ thống khẩn cấp bật lên màu hổ phách. Phòng thử bỗng nhỏ lại, tiếng mưa trên mái nghe như hàng nghìn hạt cườm rơi. Cảnh Thâm bật đèn pin nhưng không chiếu về phía tôi. “Vãn Nghi, em đang ở đâu?” “Cạnh ghế, cách bàn ba bước.” “Em muốn anh đưa đèn hay đến gần?” “Đưa đèn trước.” Một quầng sáng trượt trên sàn, dừng cách chân tôi nửa mét. Tôi bước theo nó đến bàn điều khiển. Cảnh Thâm đứng bên cạnh, mùi mưa còn trên vai áo. Chúng tôi chờ máy lưu điện hoàn tất sao chép. Không có việc gì để làm ngoài nghe tiếng quạt chạy chậm và hơi thở của nhau. “Tôi từng ghét bóng tối sau chấn thương,” tôi nói. “Trong bệnh viện, mỗi lần tắt đèn, tôi không biết chân mình đang ở đâu. Cảm giác như một phần cơ thể biến mất.” “Bây giờ thì sao?” “Bây giờ tôi ghét người khác dùng bóng tối để làm nó biến mất.” Cảnh Thâm khẽ nói: “Anh nhớ.” Tôi xoay vai vì ngồi lâu. Một điểm đau kéo từ xương bả vai lên cổ. Cảnh Thâm nhìn thấy nhưng không đưa tay. “Anh có cách chỉnh vị trí vai để bớt kéo,” anh nói. “Em có muốn anh chỉ bằng lời, làm mẫu trên người anh, hay chạm vào vai em?” Câu hỏi khiến tôi bật cười. “Anh luôn đưa ba lựa chọn à?” “Anh có thể đưa hai nếu ba làm em mệt.” “Tôi cho phép anh chạm. Vai phải. Qua lớp áo. Dùng cả bàn tay, đừng chỉ đầu ngón.” “Được. Anh sẽ chạm vào vai phải, qua áo. Nếu em nói dừng hoặc lùi người, anh bỏ tay ngay.” Tôi gật đầu. Bàn tay anh đặt lên vai tôi ấm và chắc. Anh không kéo ngay, chỉ chờ tôi thở ra rồi hướng xương vai xuống một chút. Cơn căng giảm. Khoảng cách giữa chúng tôi gần đến mức tôi nhìn thấy giọt nước đọng trên gọng kính anh. “Thế này được không?” “Được.” Anh điều chỉnh thêm rất nhẹ. Tôi bỗng nhận ra sự thân mật không nằm ở bàn tay trên vai. Nó nằm trong việc tôi có thể đổi ý mà không làm anh thất vọng. Một cơn nhói chạy qua đầu gối khi tôi dịch chân. Tôi nói “dừng” ngay lập tức. Cảnh Thâm bỏ tay và lùi nửa bước. “Đau ở đâu?” “Đầu gối. Không liên quan vai. Tôi cần ngồi.” Anh kéo ghế đến vị trí tôi chỉ, rồi quay mặt sang màn hình để tôi tự sắp chân. Không hoảng hốt, không hỏi dồn, không biến việc dừng lại thành thất bại. Khi cơn đau hạ, tôi nhìn anh. “Cảm ơn vì không nói chỉ thêm một chút nữa.” “Anh từng làm vậy với người khác,” anh thú nhận. “Không phải về đau. Về thiết kế. Anh nghĩ nếu mình thấy kết quả tốt thì có quyền đẩy cộng sự qua sự khó chịu. Tống Nhược Vân đã viết cho anh rằng ánh sáng không cứu được một cảnh nếu người trong cảnh không còn quyền nói không.” “Tống Nhược Vân thích gửi những câu khiến người ta mất ngủ.” “Anh đã mất khá nhiều.” Điện sáng trở lại. Ánh trắng tràn xuống quá đột ngột, chúng tôi cùng nheo mắt. Khoảnh khắc kín đáo vừa rồi không biến thành một nụ hôn như những vở kịch rẻ tiền vẫn làm. Nó chỉ để lại một nhận thức bình tĩnh rằng tôi muốn ở gần người đàn ông này, và muốn sự gần gũi ấy diễn ra trong cùng ngôn ngữ chúng tôi đang học: hỏi, nghe, tin câu trả lời. Sáng hôm sau, Bạch An Dương đến nhà hát với một bảng theo dõi tải và vẻ mặt không ấn tượng trước bất kỳ danh tiếng nghệ thuật nào. An Dương là chuyên gia phục hồi biểu diễn từng theo dõi tôi sau ca phẫu thuật thứ hai. Ngày ấy, tôi ghét anh vì anh từ chối hứa thời điểm tôi có thể nhảy lại. Bây giờ, chính điều đó khiến tôi mời anh. An Dương đặt lên bảng năm thẻ màu. “Chúng ta dùng thang đau từ không đến mười,” anh nói. “Không là không đau. Ba là có thể làm việc nếu không tăng. Bốn là phải điều chỉnh. Năm trở lên dừng hoạt động đang làm. Nhưng con số không đứng một mình. Vãn Nghi có quyền dừng ở hai. Thanh Lam có quyền dừng khi chóng mặt dù không đau. Bất kỳ ai cũng có thể dùng tín hiệu thoát.” Anh giơ bàn tay nắm rồi mở hai lần. “Tín hiệu này nghĩa là dừng ngay, không cần giải thích tại chỗ. Người điều khiển nhạc cắt âm. Ánh sáng chuyển sang vùng an toàn. Người hỗ trợ lùi ra trừ khi được yêu cầu. Sau đó mới hỏi.” Một vũ công hỏi: “Nếu đang giữa cú nâng thì sao?” “Hoàn tất phần hạ an toàn gần nhất, không tiếp tục tổ hợp. Dừng cũng là một phần biên đạo. Các bạn phải tập nó như tập cú nâng.” Chúng tôi dành cả buổi sáng chỉ để tập dừng. Thanh Lam dùng tín hiệu giữa vòng xoay. Nhóm lụa thả lực theo thứ tự. Tôi nói “bốn” khi đầu gối nóng lên, và cả đoàn chuyển ngay sang phương án ngồi mà không ai thở dài. Lần đầu, tôi thấy mình có lỗi vì làm gián đoạn. Lần thứ hai, cảm giác ấy nhỏ hơn. Đến lần thứ ba, chính một vũ công trẻ giơ tín hiệu vì cổ tay căng. Cả đoàn dừng trơn tru, điều chỉnh vị trí cầm lụa rồi làm lại. An Dương ghi số liệu, không khen chúng tôi dũng cảm. Trong giờ nghỉ, anh ngồi cạnh tôi, để một ghế trống ở giữa. “Cô đang ở mức nào?” “Hai khi ngồi. Ba lúc đứng lâu.” “Và cảm xúc?” “Từ bao giờ anh đo cả cảm xúc?” “Từ khi nghệ sĩ nói dối bằng số rất giỏi.” Tôi nhìn Thanh Lam đang dạy cả đoàn một trò thở ngớ ngẩn. “Tôi sợ họ thấy tôi là lý do mọi thứ chậm đi.” An Dương khép bảng. “Giao thức này không dành riêng cho cô. Cơ thể nào cũng có ngưỡng. Cô chỉ là người có đủ quyền lực trong phòng để nói ra trước.” “Nghe như lời khen.” “Không. Là trách nhiệm. Đừng anh hùng hóa việc chịu đau, nhưng cũng đừng anh hùng hóa việc dừng. Cả hai chỉ là dữ liệu cho lựa chọn.” Tôi ghét cách An Dương luôn khiến những câu quan trọng nghe như hướng dẫn sử dụng. Có lẽ nhờ thế chúng mới dùng được. Buổi chiều, chúng tôi chạy lại đoạn bóng. Ở nhịp mười hai, bắp chân tôi căng và mức đau tăng từ hai lên bốn. Tôi giơ tay nắm rồi mở hai lần. Nhạc tắt. Ánh sáng chuyển vùng. Thanh Lam dừng trong tư thế thấp, chờ tôi tự quyết. “Tôi đổi sang ghế cao hơn,” tôi nói. “Giữ toàn bộ cấu trúc.” Không ai hỏi liệu tôi có cố thêm được không. Mười phút sau, với chiếc ghế cao, bóng vai tôi dài hơn. Thanh Lam phải hạ thấp người để gặp nó. Đoạn mới thậm chí đẹp hơn bản trước. Cảnh Thâm nhìn qua buồng điều khiển, chờ tôi giơ ngón cái rồi mới lưu cue. Tôi nhận ra chúng tôi không còn dùng giao thức chỉ để ngăn tổn thương. Chúng tôi đang dùng nó như một công cụ sáng tác. Cơ thể nói không với một đường cũ, và cả căn phòng trả lời bằng một đường mới. Điều ấy không làm tôi khỏe lại. Nó làm tôi có mặt. Một tuần trước buổi duyệt kỹ thuật, đoạn chuyển cảnh thứ tư vẫn không hoạt động. Theo ký phổ, sau phần bóng đổ, cả đoàn phải đi từ tĩnh lặng sang một chuỗi nhịp dồn như tuyết lở. Thanh Lam cần nhận tín hiệu bằng âm trầm, nhưng hệ loa sàn cũ của Nhà hát Kính Vũ nuốt mất nửa tần số. Khi nghe rõ, Thanh Lam vào chậm. Khi tăng âm lượng, tiếng trầm làm rè toàn bộ bản nhạc. Cảnh Thâm đã mất hai đèn chuyển động, kỹ thuật âm thanh mất một loa, còn Khải Luân mất gần hết kiên nhẫn. “Cắt đoạn chuyển,” ông đề nghị. “Cho màn tối ba giây.” “Ba giây tối là một cái hố,” tôi nói. “Khán giả sẽ tưởng cảnh trước kết thúc.” “Vậy cô có cách nào khiến họ không tưởng không?” Tôi chưa có. Điều đáng ghét nhất ở Khải Luân là đôi khi ông hỏi đúng. Đoàn nghỉ ăn, tôi vẫn ngồi lại trên sàn gỗ cạnh chiếc ghế. Một kỹ thuật viên thử loa lần nữa. Âm trầm đi qua không khí rất yếu, nhưng dưới lòng bàn chân tôi có một rung động rõ ràng. Tôi tháo giày, đặt bàn chân phải xuống sàn. Nhịp thứ hai mạnh hơn nhịp đầu. Nhịp thứ ba bị kéo dài. Tôi gọi Cảnh Thâm. “Anh có thể đặt ánh sáng theo rung sàn thay vì theo âm nghe được không?” “Có, nếu chúng ta xác định được độ trễ.” Tôi bảo kỹ thuật viên phát lại. Tôi ngồi, hai bàn chân tiếp xúc sàn, đếm rung bằng ngón tay trên đầu gối. Cảnh Thâm đứng ở bàn đèn, nhìn tay tôi chứ không nhìn sóng âm. Mỗi khi tôi chạm ngón cái vào ngón trỏ, anh bật một dải sáng. Sau bốn lần, chúng tôi tìm được nhịp ổn định. Thanh Lam trở lại với hộp cơm còn trên tay. Tôi bảo cô đứng giữa sàn, không nghe nhạc, chỉ nhìn vùng sáng dưới chân. Khi rung động đầu tiên đến, tôi gõ tay. Ánh sáng mở. Thanh Lam chuyển trọng tâm. Đến rung thứ ba, cả đoàn nhập vào theo bóng của Thanh Lam. Đoạn chuyển không còn phụ thuộc vào một tín hiệu duy nhất. Người cảm sàn, người nhìn ánh sáng, người nghe nhạc. Ba cách nhận nhịp gặp nhau ở cùng một chuyển động. Khải Luân xem xong, chậm rãi đặt đồng hồ bấm giờ xuống. “Cô vừa cứu ba giây tối của tôi.” “Tôi cứu một đoạn chuyển của Tống Nhược Vân.” “Ba giây của tôi rẻ hơn.” “Tôi sẽ ghi câu đó lên áp phích.” Thanh Lam bật cười đến suýt sặc cơm. Ngay cả Khải Luân cũng phải quay đi giấu nụ cười. Chúng tôi gọi đó là phòng thử rung sàn. An Dương kiểm tra mức tải khi tôi ngồi cảm nhịp, thêm miếng đệm dưới bàn chân trái và giới hạn mỗi lượt không quá bốn phút. Tôi không phản đối. Sau ba lượt, lòng bàn chân tê nhẹ nhưng đầu gối vẫn ở mức hai. Dữ liệu rõ ràng cho phép tôi làm việc lâu hơn lòng kiêu hãnh từng cho phép. Tối ấy, tôi ở lại một mình để chép lại cue. Cuốn sổ của Tống Nhược Vân mở bên cạnh bản ký phổ. Khi tìm số trang tương ứng với đoạn rung sàn, tôi thấy một nét bút rất nhỏ ở mép trong, gần như bị đường chỉ đóng gáy che mất. Tôi dùng đèn bàn soi nghiêng. Dòng chữ chạy dọc mép giấy, phải tháo kẹp mới đọc được hết. Đừng viết thay tám nhịp cuối. Hãy để cơ thể có mặt trong đêm diễn tự trả lời. Tôi ngồi bất động. Không phải trang bị mất. Không phải bệnh tật khiến Tống Nhược Vân bỏ dở. Bà đã cố ý để tám ô nhịp trống cho cơ thể của người diễn ở đúng thời điểm công diễn. Tôi lật lại mọi trang, tìm thêm chú thích. Ở một mép khác có câu: Bản kết không phải bí mật để giải; nó là quyền chưa được trao trước. Cửa phòng mở. Cảnh Thâm bước vào với hai cốc trà nóng, thấy mặt tôi liền đặt cốc xuống. “Anh có được đến gần không?” “Có.” Anh kéo ghế ngồi bên cạnh. Tôi chỉ cho anh dòng chữ. Cảnh Thâm đọc xong, tháo kính lau dù tròng kính không hề bẩn. “Vậy khoảng trống là chủ ý,” anh nói. “Tống Nhược Vân không muốn chúng ta hoàn thành nó trên giấy.” “Em thấy thế nào?” “Tức giận.” Cảnh Thâm có vẻ ngạc nhiên nhưng không sửa cảm xúc của tôi. “Tống Nhược Vân lại để tôi đứng trước một câu hỏi mà không cho đáp án. Bà luôn làm thế rồi gọi đó là tin tưởng.” Tôi chạm lên dòng mực. “Nếu cơ thể có mặt đêm diễn là Thanh Lam, tám nhịp thuộc về Thanh Lam. Nếu là cả đoàn, thuộc về cả đoàn. Nếu tôi ở đó...” Tôi không nói tiếp. Cảnh Thâm đẩy cốc trà về phía tôi. “Em không phải quyết định tối nay.” “Nhưng ngày mai chúng ta phải nộp bản kết cho duyệt kỹ thuật.” “Chúng ta có thể nộp cấu trúc mở. Tám nhịp có vùng sáng, exit cue và các phương án tải. Quyết định người thực hiện có thể chốt sau lần chạy cuối.” “Từ Khải Luân sẽ phát điên.” “Khải Luân đã luyện tập nhiều tuần. Sức chịu đựng tốt hơn rồi.” Tôi cười, nhưng mắt cay. Cảnh Thâm ngồi cạnh mà không chạm. Một lúc sau, tôi chủ động đặt bàn tay lên mu bàn tay anh. “Anh có muốn nắm tay tôi không?” tôi hỏi. “Có.” “Anh có thể.” Các ngón tay anh khép lại vừa đủ. Không kéo tôi gần hơn, không biến lời cho phép thành quyền vô hạn. Tôi dựa vai vào ghế, để sự ấm áp ấy tồn tại bên cạnh nỗi giận và lòng biết ơn. “Cảnh Thâm,” tôi nói, “nếu tôi không bước vào tám nhịp đó, anh có thất vọng không?” “Anh sẽ thất vọng nếu em chọn vì sợ làm anh thất vọng.” “Câu trả lời khôn quá.” “Anh có câu kém khôn hơn.” “Nói đi.” “Anh muốn thấy em ở bất cứ nơi nào em tự chọn. Nếu là sau bàn ký phổ, anh sẽ đặt ánh sáng ở đó. Nếu là trong cánh gà, anh sẽ để cánh gà đủ sáng. Nếu là giữa sân khấu...” Anh ngừng một nhịp. “Anh vẫn sẽ hỏi em muốn vệt sáng ở đâu.” Tôi siết tay anh. Lần đầu tiên, ý nghĩ hôn Cảnh Thâm không làm tôi sợ mất thăng bằng. Tôi hỏi anh có muốn không. Anh nói có, rồi chờ tôi nghiêng người trước. Nụ hôn ngắn, dịu và có vị trà còn chưa uống. Khi tôi lùi lại, anh không đuổi theo. Chúng tôi nhìn nhau, cùng cười vì cả hai đều vụng về hơn tưởng tượng. “Tôi vẫn đang tức Tống Nhược Vân,” tôi nói. “Anh không cạnh tranh với người đã mất về khả năng khiến em tức.” “Anh có tiềm năng.” Ngày hôm sau, tiềm năng gây tức giận của người sống được chứng minh bởi Khải Luân. Ông triệu tập chúng tôi vào phòng họp, đóng cửa rồi đặt một email in sẵn lên bàn. Quỹ Nghệ thuật Tinh Tuyền rút khoản tài trợ chính. Sau vụ teaser, họ yêu cầu một cam kết truyền thông rõ về màn tái xuất. Bản đề xuất mới của chúng tôi nhấn mạnh thiết kế tập thể, không hứa sự trở lại của tôi, nên hội đồng quỹ cho rằng dự án không còn phù hợp chiến dịch năm nay. Khoản thiếu đủ lớn để hủy hai đêm diễn và gần như toàn bộ tuần kỹ thuật. Khải Luân không vòng vo. “Tôi có một phương án. Đổi tên người phục dựng trên quảng bá thành nhóm nghệ thuật Nhà hát Kính Vũ. Dùng bản kết cũ từ video diễn thử, để Thanh Lam thực hiện. Chúng ta bán vở như di sản cuối cùng của Tống Nhược Vân. Không nhắc Vãn Nghi tái xuất, cũng không cần giữ cấu trúc mở.” “Tức là xóa tên tôi và làm giả đoạn kết,” tôi nói. “Không phải làm giả. Là tái dựng từ tư liệu.” “Tư liệu đó có trước bản ký phổ cuối. Tống Nhược Vân đã loại nó.” “Chúng ta đang đối diện việc cả dự án biến mất.” Khải Luân đập ngón tay lên bảng chi phí. “Tôi có bốn mươi ba nhân viên cần lương. Đạo đức nghệ thuật rất đẹp khi chưa đến ngày thanh toán.” Thanh Lam ngồi cạnh tôi, hai bàn tay nắm chặt. “Nếu dùng bản kết cũ, em không diễn.” Khải Luân quay sang. “Cô có hợp đồng.” “Trong hợp đồng ghi em thực hiện bản phục dựng được duyệt. Không ghi em giả chữ ký của người chết.” Không khí đặc lại. Cảnh Thâm định lên tiếng, nhưng tôi đặt tay lên bàn. Tôi không cần ai cứu lượt nói của mình. “Tôi không xin ông giữ vai trò cho tôi,” tôi nói. “Tôi cũng không dùng việc rời dự án để ép ông lần nữa. Tôi đưa một lựa chọn. Trả lại tên tác giả phục dựng cho những người thực sự làm. Giữ đoạn kết mở. Cắt quy mô xuống mức chúng tôi tự dựng được. Nếu nhà hát không thể sản xuất, hãy cho đoàn dùng phòng thử và sân khấu một đêm theo thỏa thuận chia doanh thu.” Khải Luân cười khô. “Cô nghĩ một nhóm vũ công tự lo được kỹ thuật, bảo hiểm, bán vé và truyền thông trong một tuần?” “Không. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ phải học.” “Và nếu thất bại?” “Thì thất bại bằng tác phẩm thật của mình.” Khải Luân đứng dậy đi đến cửa sổ. Bên ngoài, mặt sông Lam Giang xám như kim loại. Ông không phải người duy nhất có thứ để mất. Tôi biết điều đó, nhưng hiểu áp lực của ông không buộc tôi giao quyền tác giả. “Cho tôi đến sáng mai,” ông nói. “Được. Trong lúc đó, chúng tôi tiếp tục tập.” Chúng tôi không chờ quyết định. Thanh Lam gọi cả đoàn. Tôi trải bảng chi phí lên sàn. Cảnh Thâm liệt kê những gì có thể thay bằng thiết bị cố định. An Dương tính số giờ tập tối đa để không tăng chấn thương. Một vũ công có chị làm in ấn nhận lo vé điện tử. Một kỹ thuật viên đồng ý làm đêm diễn với phần trăm doanh thu. Chúng tôi bỏ màn lớn, dùng chính tường hậu sân khấu. Bỏ hệ treo lụa trên cao, chuyển sang lụa cầm tay. Giữ ba đèn, một bộ rung sàn và ghế. Những thứ từng bị coi là phương án nghèo bỗng trở thành ngôn ngữ nhất quán. Tôi soạn một thỏa thuận quyền tác giả tập thể. Tên Tống Nhược Vân đứng ở biên đạo gốc. Tạ Vãn Nghi ở phục dựng và ký phổ. Kỷ Thanh Lam cùng ensemble ở phát triển chuyển động. Lục Cảnh Thâm ở thiết kế ánh sáng và không gian. Mỗi người có quyền từ chối việc dùng hình ảnh ngoài ngữ cảnh. Mọi thay đổi lớn cần sự đồng thuận của nhóm đại diện. Khi tôi đọc xong, một vũ công hỏi ensemble có được ghi từng tên không. “Có,” tôi nói. “Không ai núp sau một danh từ số nhiều nếu họ muốn được gọi tên.” Chúng tôi ký từng người. Không có nhạc hùng tráng. Chỉ có tiếng bút sột soạt, hộp cơm nguội và Thanh Lam phải mượn bút ba lần vì cứ làm mất. Sáng hôm sau, Khải Luân trở lại phòng thử. Ông đọc thỏa thuận rất lâu. “Nhà hát sẽ cho sân khấu một đêm,” ông nói. “Tôi giữ tư cách đơn vị địa điểm, không sở hữu bản phục dựng. Doanh thu sau chi phí chia theo tỷ lệ này.” Ông sửa một con số. “Và tên tôi không cần nằm ở vị trí nhà sản xuất chính.” Tôi nhìn ông. “Ông chắc chứ?” “Không. Nhưng cô đúng về bản kết. Tôi đã xem lại video cũ. Tống Nhược Vân gạch bỏ nó trong bản dựng sau.” Khải Luân đặt bảng lịch diễn xuống. “Tôi xin lỗi vì định xóa tên cô để cứu một sản phẩm dễ bán hơn. Tôi vẫn nghĩ các cô đang điên.” Thanh Lam chìa bút. “Vậy ông ký làm đối tác địa điểm đi.” Khải Luân ký. Chúng tôi có sân khấu. Có ít tiền hơn, ít giờ hơn, và nhiều quyền hơn. Còn tám nhịp cuối vẫn trắng. Nhưng lần đầu tiên, khoảng trắng ấy không giống một lỗ hổng. Nó giống một cánh cửa chưa ai được phép mở thay. Phòng thử thứ năm diễn ra trong một nhà hát gần như trống túi và hoàn toàn hết chỗ để giả vờ. Chúng tôi chỉ còn một ngày kỹ thuật. Ba đèn cố định tạo ba vùng sáng. Bộ rung sàn phải mượn dây nguồn từ phòng hòa nhạc. Dải lụa đã được vá ở hai đầu. Chiếc ghế gỗ từ buổi đầu có thêm miếng đệm An Dương buộc vào chân để nó không trượt. Vấn đề cuối cùng nằm ở nhịp. Bản nhạc kết thúc bằng một quãng lặng dài. Sau quãng lặng ấy là tám nhịp không có động tác cố định. Nếu dùng đồng hồ, cảnh sẽ chính xác nhưng chết. Nếu để Thanh Lam tự đếm, ensemble phía sau khó bắt cùng một hơi. Cảnh Thâm có thể điều khiển ánh sáng theo mắt, nhưng từ buồng máy anh không thấy rõ lồng ngực người diễn. Tôi bảo mọi người nằm xuống sàn. Khải Luân đang kiểm vé ở cuối khán phòng cũng bị Thanh Lam kéo nằm theo. Ông phản đối bộ vest, nhưng không ai nghe. Chúng tôi tắt nhạc. An Dương hướng dẫn cả nhóm hít vào bốn nhịp, giữ một nhịp, thở ra sáu nhịp. Lần đầu, mỗi người một tốc độ. Lần thứ hai, tiếng thở bắt đầu chạm nhau. Đến lần thứ năm, sàn gỗ nâng hạ dưới lưng như một cơ thể lớn. Tôi ngồi trên ghế, đặt tay lên xương sườn. Khi ensemble hít vào, tôi nâng cổ tay. Khi họ thở ra, tôi hạ xuống. Thanh Lam đứng giữa sân khấu, để chuyển động bắt đầu từ lồng ngực rồi lan đến cánh tay. Không ai bay. Không ai cần nhạc ra lệnh. Cả phòng vẫn có nhịp. Cảnh Thâm xuống khỏi buồng điều khiển, mang theo một bảng cue cầm tay. “Anh có thể lập cảm biến theo hơi thở của người dẫn,” anh nói. “Nhưng cảm biến sẽ thêm thiết bị, thêm lỗi và thêm một người kỹ thuật.” “Chúng ta không cần,” tôi đáp. “Anh nhìn tay tôi rồi bấm.” Cảnh Thâm đặt bảng cue vào lòng tôi. “Không. Em bấm.” Tôi nhìn anh. Từ đầu dự án, ánh sáng là vùng chuyên môn và cũng là nơi anh nắm quyền nhiều nhất. Anh đã học cách hỏi trước khi đổi nó. Bây giờ anh giao chính công cụ ấy cho tôi. “Anh chắc chứ?” “Em chọn nhịp thở. Ánh sáng nên đi từ lựa chọn đó.” Anh chỉ ba phím đã dán màu. “Phím xanh mở vệt sáng. Phím trắng mở vùng của Thanh Lam. Phím vàng đưa ensemble vào. Không có cue tự động. Nếu em dừng, hệ thống giữ nguyên.” “Còn anh làm gì?” “Đứng cạnh và sửa nếu thiết bị hỏng. Không sửa quyết định của em.” Tôi đặt ngón tay lên phím xanh. Ensemble hít vào. Tôi chờ nửa nhịp sau điểm mọi người tưởng ánh sáng phải bật, rồi mới nhấn. Vệt sáng mở như một hơi thở vừa tìm thấy đường ra. Thanh Lam chuyển trọng tâm. Tôi nhấn phím trắng. Khi tiếng thở của cả nhóm dài hơn, vùng vàng chậm rãi hiện lên. Chúng tôi chạy lại. Lần này Thanh Lam thở gấp vì mệt. Tôi không ép cảnh theo thời lượng cũ. Ánh sáng chờ Thanh Lam. Ensemble cũng chờ. Nhịp kéo dài thêm ba giây, nhưng không ai cảm thấy trễ. Phòng thử hơi thở giải được bài toán cuối cùng. Nó còn làm một việc khác: trao cho tôi quyền đứng ngoài chuyển động mà vẫn điều khiển thời gian của sân khấu. Tôi đã có thể chọn ở đó trong đêm diễn. Sau bảng cue. Trong vùng tối đủ để quan sát tất cả. Đó là một vị trí thật, không kém bất kỳ tâm sáng nào. Sau lần chạy cuối, An Dương kiểm tra đầu gối tôi. Mức đau khi nghỉ là hai, khi chuyển trọng tâm có kiểm soát là ba, nếu xoay quá biên độ thì lên năm. Anh viết ba con số lên băng dán cạnh bảng cue. “Không có dữ liệu nào nói cô phải vào sân khấu,” An Dương nhắc. “Cũng không có dữ liệu nào cấm một chuyển động nhỏ. Quyết định dựa trên trạng thái ngày mai, không dựa trên lòng biết ơn, áp lực khán giả hay việc cô đã tập bao lâu.” “Tôi biết.” “Biết bằng đầu khác với làm được khi rèm mở.” Tôi gấp bảng theo dõi bỏ vào túi. “Anh không thể nói một câu dễ nghe trước đêm diễn à?” “Có. Ngủ đủ.” Đêm đó, tôi và Cảnh Thâm ngồi ở bậc cửa hậu nhìn mưa bụi rơi xuống con hẻm. Lam Giang phản chiếu đèn đường thành những vệt vàng đứt đoạn. Anh đưa tôi một hộp bánh còn tôi đưa anh danh sách cue đã sửa lần thứ mười một. “Em định ở đâu trong tám nhịp cuối?” anh hỏi. “Tôi chưa quyết định.” “Được.” “Anh không tò mò à?” “Rất tò mò. Nhưng tò mò không tạo quyền được biết trước.” Tôi tựa đầu lên vai anh sau khi hỏi vai ấy có rảnh không. Cảnh Thâm nói có, rất rảnh. Một lát sau, anh hỏi liệu có thể hôn lên tóc tôi. Tôi đồng ý. “Sau đêm mai thì sao?” tôi hỏi. “Anh lại sang dự án khác. Tôi trở về phòng ký phổ. Chúng ta có biến mọi thứ thành một kỷ niệm đẹp và lịch sự không?” “Anh không muốn.” “Tôi cũng không.” “Vậy anh muốn mời em ăn sáng sau đêm diễn. Không bàn dự án trong ba mươi phút đầu. Sau đó, nếu em vẫn muốn, chúng ta bàn về một phòng thử thường xuyên cho nghệ sĩ cần cách chuyển động khác.” “Đây là lời hẹn hay đề án?” “Cả hai. Phần nào em đồng ý?” “Tôi đồng ý ăn sáng. Đề án phải có ngân sách.” “Anh đã học đúng người.” Sáng công diễn, đầu gối tôi cứng hơn hôm trước vì trời lạnh. Tôi không hoảng. Tôi chườm ấm, làm bài đánh thức cơ, báo mức đau là ba cho An Dương và bỏ một lần tổng duyệt. Thanh Lam không hỏi tôi có ổn không. Cô hỏi tôi muốn chạy đoạn nào bằng lời. Chúng tôi ngồi cạnh nhau, dùng ngón tay đi hết bản ký phổ trên mặt bàn. Khán phòng kín ghế. Không có áp phích nào gọi tôi là phép màu. Tờ chương trình ghi rõ đây là bản phục dựng tập thể, phát triển từ nghiên cứu chuyển động thích ứng của Tống Nhược Vân. Mỗi thành viên ensemble có tên. Ở cuối trang, một dòng nhỏ nói rằng các cấu trúc biểu diễn có thể thay đổi theo trạng thái cơ thể trong từng đêm. Khải Luân đi ngang qua tôi trước giờ mở màn. “Vé bán hết,” ông nói. “Chúc mừng ba giây của ông.” “Ba giây ấy giờ đắt rồi.” Ông chỉnh lại bảng lịch, rồi nghiêm túc hơn. “Dù cô chọn gì ở đoạn cuối, truyền thông không được gọi đó là hồi phục. Tôi đã gửi hướng dẫn.” “Cảm ơn.” “Đừng cảm ơn. Đó là việc lẽ ra tôi phải làm từ đầu.” Màn mở. Tôi điều khiển cue từ cánh gà và đọc từng chuyển động như đọc một câu chuyện đang tự viết. Thanh Lam đi qua đường chéo đầu tiên, không chống lại lực kéo. Phần ghế hiện ra, một cú xoay nhỏ của vai làm cả đội hình đổi hướng. Những dải lụa truyền lực qua năm cơ thể. Không ai bị biến thành vật được nâng. Đến phần bóng đổ, bóng tôi xuất hiện trên màn từ vị trí ngồi. Thanh Lam tách khỏi đường viền của tôi bằng cú xoay cô từng tự thêm, rồi trở lại ở mép sáng. Khán phòng im đến mức tôi nghe tiếng vải áo của người hàng đầu cọ vào ghế. Đoạn rung sàn nối ba cách nhận nhịp. Thanh Lam nhìn ánh sáng. Ensemble nghe âm trầm. Tôi cảm rung dưới bàn chân và đưa cue. Ba giây từng suýt bị lấp bằng màn tối trở thành khoảnh khắc cả khán phòng cùng nghiêng người về trước. Rồi đến quãng lặng. Ensemble hít vào. Tôi mở vệt xanh. Thanh Lam đứng giữa vùng trắng. Vùng vàng giữ những người còn lại ở phía sau, sẵn sàng mang phần kỹ thuật nặng của đoạn kết. Tôi đứng sau vệt sáng mỏng như đường phấn. Chỉ còn tám nhịp. Qua tai nghe, Cảnh Thâm hỏi: “Vãn Nghi, em muốn anh giữ vệt sáng hay tắt đi?” Đầu gối trái ở mức ba. Không tốt hơn buổi sáng. Không có phép màu nào xảy ra vì khán giả đã mua vé, vì người tôi yêu đang chờ, hay vì người thầy quá cố để lại một khoảng trắng. Tôi có thể lùi lại. Bản kết vẫn tồn tại. Thanh Lam và ensemble đã chuẩn bị phương án không có tôi. Tôi nhìn Thanh Lam. Cô không chìa tay gọi, chỉ đặt bàn chân chắc xuống sàn và chờ. “Giữ vệt sáng,” tôi nói. Tôi bước vào. Không phải cú nhảy. Không phải chuỗi xoay từng làm nên tên tuổi cũ. Tôi đặt bàn chân phải trong vùng sáng, giữ chân trái ở biên độ an toàn. Nhịp đầu, tôi chuyển trọng tâm về trước. Nhịp thứ hai, xương ức mở. Nhịp thứ ba, bàn tay xoay như trong phòng thử ghế. Thanh Lam nhận đường cong ấy, lao qua sân khấu và mang nó lên cao bằng cú bật mạnh. Nhịp thứ tư, tôi dừng. Sự dừng lại không phải khoảng trống. Ensemble tỏa ra từ hai phía, những dải lụa kéo thành đường chéo. Nhịp thứ năm, tôi thở vào và nhấn cue trắng. Nhịp thứ sáu, Thanh Lam rơi qua vòng tay cả nhóm. Nhịp thứ bảy, tôi chuyển trọng tâm trở lại, nhỏ đến mức chỉ người thực sự nhìn mới thấy. Toàn bộ ensemble đáp xuống theo chuyển động ấy. Nhịp thứ tám, tôi hạ bàn tay. Ánh sáng không tắt ngay. Nó giữ chúng tôi trong cùng một hình ảnh: tôi đứng ở mép sân khấu với chiếc nẹp dưới lớp quần, Thanh Lam thở dốc sau phần bay, ensemble chống tay xuống sàn, lụa nằm quanh họ như những con đường đã được dùng xong. Không ai thấy một cơ thể được chữa khỏi. Họ thấy nhiều cơ thể phân chia một vũ điệu theo khả năng và lựa chọn của mình. Khi ánh sáng tắt, tiếng vỗ tay đến chậm nửa giây. Rồi nó dâng lên, không giống tuyết lở, mà giống mưa đập vào mái nhà sau một quãng trời nín quá lâu. Tôi lui vào cánh gà trước khi đèn chào bật. Đầu gối tăng lên mức bốn. Tôi giơ tín hiệu dừng. An Dương đưa ghế tới, Thanh Lam bảo cả đoàn chờ. Chúng tôi không phá giao thức chỉ vì màn diễn thành công. “Chị có ra chào không?” Thanh Lam hỏi. “Tôi sẽ ra bằng ghế.” “Được.” Cả đoàn điều chỉnh đội hình. Họ mang ghế ra giữa hàng chào, không giấu, không nâng tôi như biểu tượng. Tôi ngồi cạnh Thanh Lam, nắm tay cô khi tất cả cúi đầu. Cảnh Thâm từ buồng điều khiển xuống sau cùng. Anh đứng ở mép hàng cho đến khi tôi chủ động chìa tay. Anh mới bước lại. Bốn tháng sau, Nhà hát Kính Vũ dành một phòng tập cũ ở tầng một cho chương trình mới. Trên cửa chỉ có tấm biển Phòng Chuyển Động Mở. Không có tên tôi hay Cảnh Thâm viết lớn hơn tên người khác. Khải Luân thu xếp địa điểm và một quỹ vận hành nhỏ từ doanh thu các buổi diễn tiếp theo. Thanh Lam phụ trách lớp thực hành cùng ensemble. An Dương xây giao thức tải và đồng thuận. Tôi quản lý kho ký phổ mở, nơi mỗi nghệ sĩ có thể ghi lại chuyển động bằng ngôn ngữ phù hợp với mình. Cảnh Thâm thiết kế hệ ánh sáng điều chỉnh được từ độ cao ngồi. Đầu gối tôi vẫn có ngày đau mức năm. Những hôm ấy, tôi không vào sàn. Có ngày tôi đi bộ lâu hơn. Có ngày tôi cần gậy. Mỗi thay đổi là dữ liệu, không phải phán quyết về giá trị của tôi. Sáng khai trương, một nghệ sĩ mới đến với đôi tay run nhẹ và hỏi liệu chuyển động đầu tiên có bắt buộc phải đẹp không. “Không,” tôi nói. “Chỉ cần nó là lựa chọn của bạn.” Cảnh Thâm ngồi ở bàn đèn, quay sang hỏi người ấy muốn vùng sáng rộng hay hẹp. Người nghệ sĩ chọn một vệt mỏng từ cửa vào chiếc ghế giữa phòng. Tôi mở sổ, đặt đầu bút lên trang trắng. Cảnh Thâm nhìn tôi, chờ tín hiệu. Tôi gõ bốn nhịp, dừng ở nhịp thứ năm để thở, rồi mỉm cười. Lần này, tôi không thấy mình nợ âm nhạc một nhịp nào cả.