Tôi đứng sau một vệt sáng mỏng như đường phấn, nghe tiếng khán giả nín thở ở phía bên kia màn tối. Chỉ còn tám nhịp nữa. Kỷ Thanh Lam đang chờ giữa sân khấu, những người còn lại đã vào đúng vị trí, còn Lục Cảnh Thâm im lặng trong buồng điều khiển. Không ai giục tôi. Không ai nói tôi phải chứng minh điều gì. Qua tai nghe, giọng Cảnh Thâm vang lên rất khẽ. “Vãn Nghi, em muốn anh giữ vệt sáng hay tắt đi?” Tôi nhìn đầu mũi giày của mình, rồi nhìn khoảng sân khấu chỉ cách một bước chân. Đầu gối trái căng lên, không hẳn đau, nhưng đủ để nhắc tôi rằng cơ thể luôn nói trước lòng kiêu hãnh. Tôi có thể bước vào. Tôi cũng có thể lùi lại. Điều kỳ lạ là lần đầu tiên trong nhiều năm, cả hai lựa chọn đều thuộc về tôi. Ba tháng trước, tôi đến Nhà hát Kính Vũ với mục đích đơn giản hơn nhiều. Tôi chỉ định bàn giao mười hai thùng giấy, ký một biên bản, rồi trở về căn phòng làm việc nhỏ nhìn xuống con kênh phía đông Lam Giang. Mười hai thùng ấy là kho ký phổ chuyển động của Tống Nhược Vân. Sau khi Tống Nhược Vân qua đời, người thân duy nhất của bà ở nước ngoài gửi thư nhờ tôi phân loại tài liệu. Tôi từng là học trò, từng là vũ công trong Đoàn Vũ Lưu Quang, và sau chấn thương, tôi trở thành người duy nhất vẫn có thể đọc những dấu bút kỳ quặc của bà mà không cần chú giải. Với người khác, một vòng cung có ba vạch xiên chỉ là nét vẽ. Với tôi, nó là một bả vai mở chậm, một khuỷu tay chần chừ, một ý định chưa chịu thành hình. Chiếc xe chở hàng dừng trước cửa hậu nhà hát vào một sáng mưa. Tôi mặc áo len xanh xám, quần rộng, buộc tóc thấp, giấu nẹp gối dưới lớp vải không phải vì xấu hổ mà vì không muốn nghe câu hỏi. Cậu phụ kho đặt thùng cuối cùng xuống rồi hỏi tôi có cần xe đẩy không. “Tôi cần,” tôi đáp. Ngày trước, tôi sẽ nói không. Ngày trước, tôi coi việc nhờ giúp đỡ là một lời thú nhận. Sau hai năm vật lý trị liệu, tôi hiểu xe đẩy chỉ là xe đẩy. Bi kịch thường nằm trong cách người ta nhìn một vật, không nằm trong cái vật ấy. Nhà hát Kính Vũ đang sửa mặt tiền. Mùi bụi gỗ lẫn với mùi rèm nhung cũ. Tôi đẩy xe qua hành lang, bánh trước mắc vào khe sàn, suýt làm thùng trên cùng trượt xuống. Một bàn tay giữ lấy mép thùng trước khi tôi kịp phản ứng. “Xin lỗi,” người đàn ông bên cạnh nói. “Tôi chỉ giữ thùng. Không chạm vào cô.” Tôi ngẩng lên. Anh cao, mặc sơ mi màu than, đeo kính gọng mảnh. Một cây bút đo sáng cài ở túi ngực, đôi găng tay kỹ thuật vắt qua thắt lưng. Anh vẫn giữ mép bìa bằng hai ngón tay, như thể sợ sự giúp đỡ của mình vượt quá phạm vi cho phép. “Cảm ơn. Anh có thể nhấc thùng xuống giúp tôi.” Anh làm đúng câu tôi nói, không hơn. Sau đó anh chỉ vào cuốn sổ trên tay tôi. “Cô là Tạ Vãn Nghi?” “Tôi tưởng nhà hát chỉ thuê người biết đo sáng, không thuê người đoán tên.” Anh hơi cười. “Tôi không đoán. Tống Nhược Vân có một bản ký phổ ghi chú rằng chỉ Vãn Nghi mới gõ bút bốn nhịp rồi bỏ nhịp thứ năm.” Tôi nhìn xuống. Đầu bút trong tay tôi vừa chạm bìa sổ bốn lần. Thói quen ấy có từ thời tôi tập một đoạn xoay năm nhịp. Tôi luôn bỏ nhịp cuối để hít vào. Tống Nhược Vân từng dùng đầu đũa gõ lên trán tôi và bảo, em không được nợ âm nhạc một nhịp chỉ vì phổi em chậm. Tôi đã nghĩ bà quên từ lâu. “Anh là ai?” “Lục Cảnh Thâm. Thiết kế ánh sáng.” Anh nhìn về sân khấu đang mở cửa. “Tôi đến đo lại góc chiếu cho một vở phục dựng.” “Tôi chỉ giao tài liệu.” “Tôi cũng chỉ đo ánh sáng.” Chúng tôi nói hai chữ “chỉ” với vẻ nghiêm túc của hai người chưa biết mình sắp nói dối. Cảnh Thâm giúp tôi đẩy xe đến phòng lưu trữ rồi quay lại sân khấu. Tôi mở từng thùng, kiểm tra số niêm phong và ký vào danh sách. Công việc đáng lẽ mất bốn mươi phút. Nhưng ở thùng thứ chín, tôi thấy một bìa hồ sơ màu lam đã bạc, trên gáy viết tên Mùa Tuyết Không Rơi. Tay tôi dừng lại. Đó là vở cuối cùng Tống Nhược Vân biên đạo trước khi bệnh. Cũng là vở chúng tôi từng tập dở dang trước ngày đầu gối tôi gập xuống trong một cú tiếp đất. Không có tiếng xương gãy như phim ảnh. Chỉ có một âm bục kín, một cơn nóng rát, rồi cả thế giới nghiêng đi khi tôi cố đứng lên lần nữa. Vở bị xếp kho. Tôi phẫu thuật hai lần. Tống Nhược Vân đến thăm, mang theo một túi quýt chua và tuyệt nhiên không nói câu “rồi em sẽ nhảy lại”. Khi ấy tôi giận bà vì sự im lặng. Về sau tôi mới hiểu đó là người duy nhất không đem tương lai của tôi ra hứa thay. Tôi vừa đặt hồ sơ sang bên thì Từ Khải Luân bước vào. Nhà sản xuất của Nhà hát Kính Vũ vẫn giữ thói quen mặc vest ngay cả khi sàn đầy mạt cưa. Ông nhìn tập hồ sơ, nhìn tôi, rồi thở ra như người vừa thấy một con số trong bảng ngân sách tự biến thành tiền. “Đúng lúc quá,” Khải Luân nói. “Chúng tôi định phục dựng vở này cho mùa diễn cuối năm.” “Tôi nghe nhà thiết kế ánh sáng nói rồi.” “Vậy cô cũng biết chúng tôi cần một người đọc ký phổ. Không ai hiểu bản thảo bằng cô.” “Tôi đến bàn giao kho.” “Và tôi đang đề nghị một hợp đồng.” Khải Luân kéo ghế ngồi đối diện. “Cố vấn phục dựng, quyền duyệt chuyên môn. Nếu cô sẵn lòng xuất hiện trong buổi giới thiệu, chúng ta có thể dùng câu chuyện trở lại sân khấu sau đổ vỡ. Công chúng rất cần một hy vọng thật.” Tôi khép bìa hồ sơ. “Ông đang đề nghị tôi phục dựng vở hay bán đầu gối của tôi?” Khải Luân không nổi giận. Điều ấy khiến ông nguy hiểm hơn một người thô lỗ. Ông mở bảng lịch diễn, chỉ cho tôi ba tuần trống, số ghế phải bán, khoản sửa mái vòm đang nợ và cam kết với Quỹ Nghệ thuật Tinh Tuyền. “Nhà hát không sống bằng ý định tốt,” ông nói. “Tôi cần khán giả. Cô cần tác phẩm của cô Tống được nhìn thấy. Hai việc ấy không nhất thiết đối lập.” “Tôi không phải tác phẩm của Tống Nhược Vân.” “Nhưng cô là người cuối cùng từng được bà chọn cho vai trung tâm.” Câu nói chạm đúng nơi tôi vẫn tưởng đã thành sẹo. Tôi ghét Khải Luân vì biết điều đó. Tôi còn ghét bản thân hơn vì trong một giây, tôi đã hình dung tên mình trên áp phích. Tôi không trả lời. Tôi mang hồ sơ ra một bàn dài bên cánh gà, nơi ánh sáng đủ rõ để đọc giấy cũ. Từ sân khấu, Cảnh Thâm đang gọi kỹ thuật viên xoay một đèn chiếu. Giọng anh bình tĩnh, từng yêu cầu đều có lý do. Đến khi nhận ra tôi mở bản ký phổ, anh tắt bộ đàm và đi xuống, nhưng dừng cách bàn hai mét. “Tôi có được xem không?” anh hỏi. “Anh đang thiết kế vở mà chưa xem ký phổ?” “Tôi có bản sao mười sáu trang đầu. Bản đầy đủ nằm trong kho của Tống Nhược Vân.” Tôi gật đầu. Cảnh Thâm mới tiến lại. Chúng tôi trải các tờ giấy theo thứ tự. Những nét bút đầu tiên quen thuộc đến mức tôi nghe được tiếng đếm của Tống Nhược Vân trong đầu. Phần mở là đường chéo dài qua sân khấu. Tiếp đó, nhóm vũ công tách ra như tuyết bị gió xé. Vai trung tâm không chống lại dòng chuyển động mà học cách đổi hướng cùng nó. Tôi dùng bút chì đi theo từng ký hiệu. Cảnh Thâm dùng thước trong đo vị trí tương đối của các cụm. Chúng tôi gần như không nói chuyện suốt nửa giờ. Sự im lặng giữa hai người xa lạ thường khó chịu. Với chúng tôi, nó giống một căn phòng có cửa mở. Đến trang cuối, nhịp bút của tôi dừng. Có một khoảng trắng ở phần kết. Tám ô nhịp cuối không có ký hiệu chuyển động. Tôi kiểm tra số trang, mép gáy, mặt sau. Giấy liền nguyên, không rách, không có dấu bị bóc. Khoảng trống nằm gọn trong bố cục, sau một đường mực dẫn thẳng đến giữa trang rồi dừng lại. Cảnh Thâm cúi gần hơn. “Có thể mực phai không?” “Không. Mực của Tống Nhược Vân ăn giấy. Nếu từng viết, vẫn sẽ có vết hằn.” “Bà chưa hoàn thành?” Tôi nhìn tám ô trắng. “Có thể.” Nhưng cách đường mực dừng lại quá dứt khoát. Tống Nhược Vân không bao giờ bỏ một câu giữa dấu phẩy. Nếu bà chưa biết phải viết gì, bà sẽ vẽ hàng chục phương án lên mép giấy, cãi nhau với chính mình bằng ba màu bút. Ở đây không có gì ngoài khoảng trống sạch sẽ. Khải Luân theo chúng tôi ra bàn. Khi thấy phần thiếu, ông nhíu mày đúng hai giây rồi nói có thể dùng lại đoạn kết từ bản diễn thử cũ. “Tôi chưa từng diễn đến đoạn kết,” tôi nói. “Có một bản dựng sơ bộ trong kho hình ảnh. Chúng ta có thể tái tạo tinh thần.” “Không ai được lấy một đoạn động tác cũ, gắn vào chỗ này rồi gọi đó là ý của Tống Nhược Vân.” Khải Luân khoanh tay. “Vậy cô có giải pháp nào khác?” Tôi biết mình nên nói không. Tôi đã xây một cuộc sống tương đối yên ổn bằng cách tránh mọi căn phòng có gương cao và sàn đàn hồi. Tôi ký phổ cho người khác, dạy lịch sử chuyển động, thỉnh thoảng viết phê bình dưới tên viết tắt. Tôi có thể đọc một cú nhảy mà không cần thực hiện nó. Tôi vẫn là người làm nghệ thuật, dù một phần trong tôi chưa chịu tin. Từ trên giàn đèn, một tia sáng thử quét qua sân khấu rồi dừng ở chiếc ghế gỗ bỏ quên giữa sàn. Trong vùng sáng ấy, chiếc ghế không giống đạo cụ. Nó giống một lời mời không đòi tôi phải đứng. Tôi quay sang Khải Luân. “Tôi nhận việc với ba điều kiện. Thứ nhất, tôi có quyền phủ quyết mọi động tác đi ngược logic ký phổ. Thứ hai, mọi hình ảnh có tên và cơ thể tôi phải được tôi duyệt. Thứ ba, không ai được hứa tôi sẽ biểu diễn.” Khải Luân nhìn chiếc nẹp lộ ra khi tôi ngồi xuống, rồi nhìn thẳng vào tôi. “Nếu khán giả hỏi liệu cô có trở lại sân khấu thì sao?” “Ông nói tôi phục dựng. Chỉ thế thôi.” “Còn tám nhịp cuối?” “Tôi sẽ tìm câu trả lời trong công việc, không tìm trong một khẩu hiệu.” Cảnh Thâm đặt thước xuống. “Tôi muốn thêm một điều kiện.” Tôi liếc anh. “Đây là hợp đồng của tôi.” “Điều kiện cho phần ánh sáng. Không dùng tối để che những gì cơ thể người diễn không làm. Nếu chuyển động thay đổi, ánh sáng thay đổi cùng nó.” Khải Luân day sống mũi. “Hai người mới gặp nhau chưa đầy một giờ mà đã biết cách làm ngân sách của tôi đau đầu.” “Tôi tưởng nhà hát sống bằng ý định tốt,” tôi nói. Khải Luân bật cười bất đắc dĩ. “Nhà hát sống sót bất chấp ý định tốt. Tôi sẽ sửa hợp đồng.” Buổi thử đầu tiên diễn ra hai ngày sau. Tôi đến sớm, mang theo sổ ký phổ, băng dán sàn và một chiếc ghế tựa lưng thấp. Kỷ Thanh Lam đã khởi động ở giữa phòng. Thanh Lam là vũ công chính mới của Đoàn Vũ Lưu Quang, nhỏ hơn tôi bốn tuổi, có đôi chân mạnh và khả năng dừng một cú xoay chính xác đến mức khó chịu. Khi thấy tôi, Thanh Lam lập tức đứng thẳng. “Em đã xem bản ghi cũ của chị,” Thanh Lam nói. “Em không định bắt chước.” “May quá. Tôi cũng không định bắt cô làm bản sao.” Thanh Lam cắn môi, rồi hỏi điều mà cả đoàn đều muốn hỏi. “Chị có khó chịu khi em diễn vị trí của chị không?” “Tôi khó chịu khi người ta gọi đó là vị trí của tôi.” Tôi đặt ghế giữa sàn. “Vai diễn không phải ghế có khắc tên. Cô làm tốt thì nó thuộc về cô trong khoảnh khắc cô diễn.” Cảnh Thâm đứng bên bàn điều khiển tạm, nghe vậy liền quay mặt đi. Tôi vẫn thấy khóe miệng anh cong lên. Tôi yêu cầu Thanh Lam thực hiện đoạn mở. Thanh Lam chạy đường chéo, hạ trọng tâm, cuộn vai rồi vươn lên. Kỹ thuật đẹp, nhưng ý định sai. Thanh Lam đang chiến thắng cơn gió, trong khi ký phổ yêu cầu người diễn để cơn gió đổi mình. “Lại từ đầu,” tôi nói. Chúng tôi thử sáu lần. Lần thứ bảy, Thanh Lam bực đến đỏ mắt. “Chị cứ nói đừng chống lại, nhưng cơ thể em phải làm gì?” Câu hỏi công bằng. Tôi đã dùng ngôn ngữ của người đứng ngoài để yêu cầu một cơ thể bên trong hiểu mình. Tôi kéo ghế đến cạnh Thanh Lam và ngồi xuống. “Đưa tay cho tôi. Không cần kéo.” Thanh Lam đặt bàn tay vào tay tôi. Tôi giữ khuỷu tay sát thân, để lực từ vai truyền qua cổ tay. Khi Thanh Lam tiến một bước, tôi không đứng. Tôi chỉ xoay xương ức, đổi hướng bàn tay và thả một phần trọng lượng vào lưng ghế. Chuyển động rất nhỏ, nhưng nó khiến cánh tay Thanh Lam bị dẫn lệch sang đường cong mới. Thanh Lam lập tức hiểu, xoay theo lực ấy rồi mở người về phía sau. Cảnh Thâm bật một vệt sáng xiên. Bóng hai chúng tôi gặp nhau trên sàn. “Đúng rồi,” tôi nói, hơi thở nhanh hơn mức cần thiết. “Không thắng lực kéo. Cho nó một nơi khác để đi.” Thanh Lam lặp lại mà không cần tay tôi. Lần này, cả đoạn chuyển mở ra. Những người trong đoàn đang nói chuyện đều im bặt. Khải Luân đứng ở cửa phòng thử. Ông nhìn Thanh Lam, nhìn tôi trên ghế, rồi chậm rãi gập bảng lịch diễn lại. Tôi chờ cảm giác xấu hổ vì mình không đứng. Nó không đến. Thay vào đó là thứ cảm giác cũ mà tôi đã tưởng chỉ tồn tại khi cơ thể bay khỏi sàn: khoảnh khắc một ý niệm vô hình tìm được hình dạng. Thanh Lam quỳ xuống cạnh ghế, mắt sáng lên. “Đoạn này là của chị.” Tôi lắc đầu. “Là của chúng ta. Cô cho nó quãng đường. Tôi chỉ đổi hướng.” Nhưng khi ghi ký hiệu đầu tiên vào bản phục dựng, tôi vẫn viết tên mình bên lề. Không phải tên của một người từng nhảy. Là tên của người vừa tạo ra chuyển động ngay trên chiếc ghế này.