Niềm vui của buổi thử đầu kéo dài đúng mười bảy phút. Sau khi đoàn nghỉ, tôi đứng dậy khỏi ghế để sang bàn ký phổ. Đầu gối trái cứng vì ngồi lâu, khiến bước đầu tiên ngắn hơn bình thường. Cảnh Thâm đang chỉnh đèn phía đối diện lập tức hạ góc chiếu. Vệt sáng vốn nằm trên sàn chuyển lên ngang hông tôi, làm đoạn đường đến bàn tối đi và che khuất dáng bước không đều. Anh làm rất nhanh, có lẽ hoàn toàn theo bản năng nghề nghiệp. Nhưng tôi nhìn thấy. “Đưa đèn về vị trí cũ,” tôi nói. Cảnh Thâm ngẩng lên. “Ánh trực diện đang gắt. Anh chỉ muốn đường đi dễ chịu hơn.” “Dễ chịu cho ai?” Cả phòng yên xuống. Cảnh Thâm nhìn bảng điều khiển rồi nhìn tôi. Anh hiểu trước khi tôi phải giải thích, nhưng hiểu ra không xóa được việc đã làm. “Cho em,” anh đáp. “Anh không hỏi tôi. Anh thấy tôi bước khó, rồi tự quyết rằng bóng tối sẽ giúp.” “Anh không định che em.” “Ý định không đổi kết quả.” Tôi chống tay lên bàn, đợi cơn căng qua đi. “Nếu tôi cần ánh sáng trên đường, tôi sẽ nói. Nếu tôi cần ghế, tôi sẽ lấy ghế. Đừng biến cơ thể tôi thành một lỗi kỹ thuật anh âm thầm sửa.” Thanh Lam nhìn sang chỗ khác. Những người còn lại giả vờ uống nước. Tôi không thích dạy ai một bài học trước đám đông, nhưng càng không muốn cả đoàn học rằng giúp đỡ có thể đi trước đồng thuận. Cảnh Thâm tắt bộ đàm, rời bàn điều khiển và đứng ở khoảng cách vừa đủ. “Anh xin lỗi vì đã tự đổi ánh sáng để che bước chân của em mà không hỏi,” anh nói. “Anh đã đặt cảm giác mình đang giúp lên trên quyền quyết định của em. Từ giờ, mọi thay đổi liên quan đường đi, vị trí nghỉ hoặc cách cơ thể em xuất hiện, anh sẽ hỏi trước. Bây giờ em muốn anh làm gì?” Lời xin lỗi cụ thể đến mức cơn giận của tôi không có chỗ bấu víu. Tôi chỉ vào dấu băng ban đầu. “Trả vệt sáng lại đó. Và thêm một vùng sáng cạnh bàn. Không phải vì tôi cần giấu bước đi, mà vì tôi cần đọc chữ.” “Được.” Anh làm đúng như vậy. Không thêm, không bớt. Cuối buổi, Cảnh Thâm đưa tôi một tờ giấy có ba cột. Cột thứ nhất ghi việc cần hỏi. Cột thứ hai là người có quyền trả lời. Cột thứ ba là tín hiệu dừng. Anh gọi nó là bản đồ quyền kiểm soát. “Tên nghe như tài liệu vận hành máy nâng,” tôi nói. “Máy nâng còn có quy trình rõ hơn con người.” “Anh đang xin tôi phê duyệt cả cách xin phép à?” “Anh đang hỏi xem cách này có làm em phải giải thích quá nhiều không.” Tôi đọc tờ giấy. Ở mục ánh sáng đường đi, anh ghi Tạ Vãn Nghi. Ở mục thay đổi động tác, anh ghi Tạ Vãn Nghi và Kỷ Thanh Lam. Ở mục chạm hỗ trợ, anh để trống, chờ từng lần hỏi. “Tạm được,” tôi nói. “Nhưng đừng biến đồng thuận thành biểu mẫu. Có những ngày câu trả lời thay đổi.” Cảnh Thâm gật đầu. “Vậy câu hỏi cũng phải được hỏi lại.” Tôi gấp tờ giấy bỏ vào sổ. Khi ấy tôi chưa biết câu nói đó sẽ ở lại trong tôi lâu hơn nhiều bản thiết kế đẹp. Phòng thử thứ hai bắt đầu bằng ba dải lụa treo từ thanh ngang thấp. Trong ký phổ, đoạn giữa yêu cầu vai trung tâm được nâng khỏi sàn, xoay trên trục chéo rồi rơi qua vòng tay của bốn vũ công. Đó từng là đoạn tôi thích nhất. Tôi đã tập cú rơi hàng trăm lần, tin tưởng tuyệt đối vào những bàn tay sẽ đón mình. Bây giờ, chỉ nhìn Thanh Lam thử lực nâng, đầu gối tôi đã nhớ lại cú ngã cũ bằng một cơn nóng âm ỉ. Khải Luân muốn giữ nguyên đoạn kỹ thuật vì nó đẹp và đã có trong hồ sơ tài trợ. Tôi không phản đối vẻ đẹp. Tôi phản đối việc cả đoàn phải giả rằng chỉ một cơ thể bay lên mới tạo được cảm giác mất trọng lực. Tôi buộc dải lụa đầu tiên quanh cổ tay Thanh Lam, không thắt nút, chỉ để vải nằm trên da. “Đừng nghĩ lụa nâng cô,” tôi nói. “Nó chuyển lực của cô qua người khác.” Bốn vũ công giữ các đầu vải. Khi Thanh Lam hạ trọng tâm, họ lùi ra, kéo dải lụa thành những đường chéo căng. Thanh Lam không rời sàn nhưng thân trên nghiêng xa khỏi trục. Cả nhóm trở thành một cấu trúc cùng chịu lực, không ai chỉ làm bệ đỡ. Lần đầu, vải siết cổ tay Thanh Lam. Lần thứ hai, một người lùi chậm khiến đường chéo sụp. Lần thứ ba, Cảnh Thâm đặt ánh sáng quá cao, bóng dây lụa biến mất và cảnh trông như một bài tập thể lực. Tôi yêu cầu hạ đèn ngang thắt lưng. Cảnh Thâm hỏi lại liệu vùng sáng có được đi qua nẹp gối của tôi khi tôi vào chỉnh khoảng cách không. “Được,” tôi nói. “Không cần né.” Vệt sáng đi thẳng qua lớp quần rộng, làm đường viền mảnh của nẹp hiện rõ. Không ai nhìn chằm chằm. Cái nẹp chỉ ở đó, như dây buộc tóc của Thanh Lam hay găng tay của Cảnh Thâm. Sự bình thường ấy khiến cổ họng tôi nghèn nghẹn hơn mọi lời động viên. Tôi ngồi ở đầu một dải lụa, giữ lực đối trọng bằng hai tay. Thanh Lam nghiêng người. Bốn vũ công đổi vị trí quanh Thanh Lam, vải trượt qua tay họ, tạo cảm giác cả không gian đang nâng cô lên dù bàn chân cô chưa rời sàn. Đến nhịp cuối, tôi buông đầu lụa theo tín hiệu. Những dải vải rơi mềm, còn Thanh Lam đứng thẳng bằng chính sức mình. Khải Luân xem lại video, im lặng khá lâu. “Không có cú bay,” ông nói. “Có năm người cùng tạo cảm giác bay,” tôi đáp. “Nhà tài trợ sẽ hỏi thiết bị treo họ đã cấp tiền đi đâu.” “Dùng cho đoạn khác. Hoặc trả lại.” Khải Luân thở dài. “Cô có biết trả lại một khoản tiền còn khó hơn xin nó không?” “Tôi biết biến một cơ thể thành lý do giữ thiết bị là việc còn khó chịu hơn.” Thanh Lam lau mồ hôi, chen vào. “Em thích bản này. Cú nâng cũ khiến em thành vật được chuyền. Bản này buộc em phải nghe bốn người còn lại.” Khải Luân nhìn từng người. Ông không phải kẻ xấu; ông chỉ quen tin vào những thứ có thể in trong tờ giới thiệu. Cuối cùng ông gạch một dòng trên bảng chi phí. “Cho tôi một bản quay sạch trước thứ sáu.” Đó là cách Khải Luân nói đồng ý. Sau buổi thử, tôi và Cảnh Thâm xuống kho phụ tìm sơ đồ treo lụa cũ. Kho không có cửa sổ, chỉ có bóng đèn vàng và mùi giấy ẩm. Cảnh Thâm đọc nhãn trên các hộp, còn tôi ngồi trên ghế thấp lật từng tập tài liệu. Anh không hỏi tại sao tôi ngồi. Tôi cũng không phải giải thích. Trong hộp ghi Nghiên cứu ngoại biên, tôi tìm thấy sáu cuốn băng hình, ba bài phỏng vấn và một tập bản vẽ của Tống Nhược Vân. Ngày tháng trên bìa sớm hơn chấn thương của tôi gần bốn năm. Trang đầu vẽ một nghệ sĩ nam tóc bạc tựa tay lên khung gỗ. Trang sau là nhóm phụ nữ lớn tuổi chuyển động quanh bàn dài. Có ghi chú về biên độ khớp, sức bền, thính giác giảm và cách rung sàn giúp cảm nhịp. Ở mép một bản phác, Tống Nhược Vân viết rằng chuyển động không mất đi khi cơ thể đổi khác; chỉ có người quan sát lười thay ngôn ngữ. Tôi đọc câu ấy ba lần. Bấy lâu nay, một phần trong tôi vẫn tin Mùa Tuyết Không Rơi được Tống Nhược Vân cất lại vì bà thương hại tôi. Rằng sau cú ngã, mọi thay đổi trong bản thảo đều là miếng đệm đặt quanh một người đã vỡ. Nhưng các nghiên cứu này có trước tôi, trước ca phẫu thuật, trước cả ngày bà chọn tôi vào vai. Cảnh Thâm ngồi xuống sàn, đối diện nhưng không chạm vào tập giấy. “Em ổn không?” “Tôi không biết.” Tôi nuốt khan. “Tôi đã giận Tống Nhược Vân vì không nói sẽ chờ tôi khỏe. Tôi nghĩ bà nhìn thấy tôi hỏng rồi đổi vở để cứu tôi.” “Có vẻ bà đã đặt câu hỏi này từ trước.” “Vậy tôi không đặc biệt.” Cảnh Thâm nghiêng đầu. “Em muốn mình đặc biệt vì được thương hại à?” Tôi ném một miếng bìa lót về phía anh. Anh đỡ được, bật cười. “Anh nói rất giỏi để người khác muốn đánh.” “Anh đang cố nói em không phải cái cớ. Em là một phần trong câu hỏi lớn hơn của bà.” Tôi biết. Chính vì biết nên tôi mới muốn khóc. Nếu vở không sinh ra từ tai nạn của tôi, tôi có thể bước vào nó bằng tư cách một nghệ sĩ, không phải bệnh án. Chúng tôi mang tài liệu lên phòng thử. Thanh Lam xem đoạn băng về các nghệ sĩ lớn tuổi rồi đề nghị cả đoàn tập một vòng với giới hạn ngẫu nhiên. Người không được nhấc tay quá vai. Người chỉ di chuyển lùi. Người phải giữ một điểm tựa. Không phải để giả làm người khuyết tật, mà để nhận ra mỗi giới hạn làm phát sinh một chiến lược. Một vũ công trẻ nói đùa rằng giới hạn của mình là không thể tập trước bữa trưa. Thanh Lam ném khăn vào cậu ta. Tiếng cười làm căn phòng bớt thiêng liêng. Tôi thích thế. Cơ thể khác biệt không cần lúc nào cũng được đối xử như bài diễn văn. Đến cuối tuần, chúng tôi có một đoạn lụa hoàn chỉnh. Thanh Lam nghiêng giữa mạng vải, bốn người truyền lực qua nhau, còn tôi giữ nhịp bằng đầu bút gõ lên thành ghế. Cảnh Thâm để ánh sáng lướt qua từng bàn tay đang làm việc. Không ai biến mất. Chiều hôm ấy, điện thoại của tôi rung liên tục khi đang trên xe về nhà. Một đường liên kết từ trang chính thức Nhà hát Kính Vũ đã được chia sẻ hàng nghìn lượt. Khung hình đầu là đoạn video cũ tôi nhảy trước chấn thương. Khung hình sau là bóng lưng hiện tại của tôi trong phòng thử, nẹp gối lộ dưới vệt sáng. Dòng chữ chạy giữa hai hình ảnh viết: Nữ vũ công trở lại từ đổ vỡ. Phía dưới, giọng Khải Luân được cắt từ một cuộc phỏng vấn khác, nói rằng khán giả sẽ chứng kiến hành trình không đầu hàng số phận. Tôi xem hết mười chín giây. Không có cảnh nào nói tôi sẽ biểu diễn, nhưng cách dựng khiến lời hứa ấy treo lơ lửng rõ hơn chữ viết. Bình luận đã bắt đầu đoán tôi sẽ thực hiện cú nhảy nào. Có người gọi tôi là phép màu. Có người bảo nhà hát đang lợi dụng một phụ nữ tàn tật. Cả hai phía đều nói về tôi như thể tôi không có mặt. Tôi gọi Khải Luân. “Gỡ video xuống.” “Vãn Nghi, đây chỉ là bản thử phản ứng. Con số rất tốt.” “Tôi không cho phép dùng video cũ ghép với hình cơ thể hiện tại.” “Cô đã duyệt việc quay phòng thử.” “Tôi duyệt tài liệu quá trình, không duyệt câu chuyện tái xuất.” “Chúng tôi không hề viết cô sẽ biểu diễn.” “Ông biết chính xác người xem sẽ hiểu gì.” Tôi nhìn hình mình đứng im trong vệt sáng, bị dựng thành khoảnh khắc chuẩn bị bay. “Gỡ trong một giờ. Đăng lời đính chính rằng tôi là người phục dựng và chưa cam kết xuất hiện trên sân khấu.” “Quỹ Tinh Tuyền đang xem số liệu. Nếu gỡ lúc này, chúng ta mất đà truyền thông.” “Nếu không gỡ, ông mất tôi.” Đầu dây bên kia im lặng. Khải Luân nói chậm hơn. “Cô sẽ bỏ tác phẩm của Tống Nhược Vân vì một câu chữ chưa hoàn hảo sao?” “Đừng dùng người đã mất để ép tôi ở lại.” Tôi cúp máy. Tay run không phải vì sợ bỏ dự án. Tôi sợ mình sẽ không bỏ. Tôi đã yêu những gì chúng tôi làm trong phòng thử, và chính tình yêu ấy có thể bị biến thành dây buộc đẹp nhất. Năm phút sau, Cảnh Thâm gọi. “Anh vừa xem video,” anh nói. “Anh không hỏi em có đang phản ứng quá mức. Anh muốn biết em cần gì.” “Tôi cần họ gỡ xuống.” “Anh sẽ gửi văn bản xác nhận phần ánh sáng bị dùng sai phạm vi duyệt. Nhưng nếu anh lên tiếng, Khải Luân có thể cắt ngân sách của anh.” “Tôi không yêu cầu anh hy sinh thiết kế.” “Anh biết. Vì thế đây là quyết định của anh.” Tôi nhắm mắt. Người ta thường khiến sự hy sinh của họ thành món nợ trước khi trao. Cảnh Thâm chỉ nói rõ cái giá để tôi không nhầm đó là phép màu. “Anh chắc chứ?” “Chắc. Và anh sẽ không nói thay em. Anh chỉ xác nhận phần thuộc quyền của anh.” Một giờ sau, video biến mất. Trên trang nhà hát xuất hiện thông báo rằng Tạ Vãn Nghi giữ vai trò phục dựng, mọi quyết định biểu diễn thuộc về cá nhân cô, và tư liệu tập luyện đã được dùng ngoài ngữ cảnh được duyệt. Dưới thông báo có tên Cảnh Thâm trong tư cách người phụ trách hình ảnh sân khấu. Sáng hôm sau, Khải Luân đặt lên bàn chúng tôi một bảng ngân sách mới. Hệ thống đèn chuyển động bị gạch bỏ, hai máy chiếu bị thu hồi, số giờ kỹ thuật giảm một phần ba. “Quỹ Tinh Tuyền không rút,” ông nói, “nhưng khoản truyền thông bổ sung không còn. Chúng ta phải bù từ thiết kế.” Cảnh Thâm nhìn những dòng đỏ. “Tôi hiểu.” “Tôi hy vọng hai người thấy quyền kiểm soát có giá.” Tôi kéo bảng về phía mình. “Giá ấy không chỉ do chúng tôi tạo ra. Ông đã vi phạm thỏa thuận trước.” Khải Luân gật đầu, vẻ mệt mỏi làm ông già đi. “Đúng. Tôi đã quá tay. Tôi xin lỗi vì dùng câu chuyện của cô để lấp một lỗ ngân sách. Nhưng lời xin lỗi không trả tiền điện. Bây giờ chúng ta làm gì?” Cảnh Thâm lấy bút, khoanh ba đèn cố định còn lại. “Chúng ta thôi làm ánh sáng chạy theo người,” anh nói. “Cho người và bóng tự tạo chuyển động.” Tôi nhìn sân khấu trống, nhìn ba nguồn sáng ít ỏi, rồi nhớ đến những dải lụa chỉ bay khi nhiều người chia lực. “Phòng thử tiếp theo,” tôi nói, “chúng ta dùng bóng đổ.”