Một tuần trước buổi duyệt kỹ thuật, đoạn chuyển cảnh thứ tư vẫn không hoạt động. Theo ký phổ, sau phần bóng đổ, cả đoàn phải đi từ tĩnh lặng sang một chuỗi nhịp dồn như tuyết lở. Thanh Lam cần nhận tín hiệu bằng âm trầm, nhưng hệ loa sàn cũ của Nhà hát Kính Vũ nuốt mất nửa tần số. Khi nghe rõ, Thanh Lam vào chậm. Khi tăng âm lượng, tiếng trầm làm rè toàn bộ bản nhạc. Cảnh Thâm đã mất hai đèn chuyển động, kỹ thuật âm thanh mất một loa, còn Khải Luân mất gần hết kiên nhẫn. “Cắt đoạn chuyển,” ông đề nghị. “Cho màn tối ba giây.” “Ba giây tối là một cái hố,” tôi nói. “Khán giả sẽ tưởng cảnh trước kết thúc.” “Vậy cô có cách nào khiến họ không tưởng không?” Tôi chưa có. Điều đáng ghét nhất ở Khải Luân là đôi khi ông hỏi đúng. Đoàn nghỉ ăn, tôi vẫn ngồi lại trên sàn gỗ cạnh chiếc ghế. Một kỹ thuật viên thử loa lần nữa. Âm trầm đi qua không khí rất yếu, nhưng dưới lòng bàn chân tôi có một rung động rõ ràng. Tôi tháo giày, đặt bàn chân phải xuống sàn. Nhịp thứ hai mạnh hơn nhịp đầu. Nhịp thứ ba bị kéo dài. Tôi gọi Cảnh Thâm. “Anh có thể đặt ánh sáng theo rung sàn thay vì theo âm nghe được không?” “Có, nếu chúng ta xác định được độ trễ.” Tôi bảo kỹ thuật viên phát lại. Tôi ngồi, hai bàn chân tiếp xúc sàn, đếm rung bằng ngón tay trên đầu gối. Cảnh Thâm đứng ở bàn đèn, nhìn tay tôi chứ không nhìn sóng âm. Mỗi khi tôi chạm ngón cái vào ngón trỏ, anh bật một dải sáng. Sau bốn lần, chúng tôi tìm được nhịp ổn định. Thanh Lam trở lại với hộp cơm còn trên tay. Tôi bảo cô đứng giữa sàn, không nghe nhạc, chỉ nhìn vùng sáng dưới chân. Khi rung động đầu tiên đến, tôi gõ tay. Ánh sáng mở. Thanh Lam chuyển trọng tâm. Đến rung thứ ba, cả đoàn nhập vào theo bóng của Thanh Lam. Đoạn chuyển không còn phụ thuộc vào một tín hiệu duy nhất. Người cảm sàn, người nhìn ánh sáng, người nghe nhạc. Ba cách nhận nhịp gặp nhau ở cùng một chuyển động. Khải Luân xem xong, chậm rãi đặt đồng hồ bấm giờ xuống. “Cô vừa cứu ba giây tối của tôi.” “Tôi cứu một đoạn chuyển của Tống Nhược Vân.” “Ba giây của tôi rẻ hơn.” “Tôi sẽ ghi câu đó lên áp phích.” Thanh Lam bật cười đến suýt sặc cơm. Ngay cả Khải Luân cũng phải quay đi giấu nụ cười. Chúng tôi gọi đó là phòng thử rung sàn. An Dương kiểm tra mức tải khi tôi ngồi cảm nhịp, thêm miếng đệm dưới bàn chân trái và giới hạn mỗi lượt không quá bốn phút. Tôi không phản đối. Sau ba lượt, lòng bàn chân tê nhẹ nhưng đầu gối vẫn ở mức hai. Dữ liệu rõ ràng cho phép tôi làm việc lâu hơn lòng kiêu hãnh từng cho phép. Tối ấy, tôi ở lại một mình để chép lại cue. Cuốn sổ của Tống Nhược Vân mở bên cạnh bản ký phổ. Khi tìm số trang tương ứng với đoạn rung sàn, tôi thấy một nét bút rất nhỏ ở mép trong, gần như bị đường chỉ đóng gáy che mất. Tôi dùng đèn bàn soi nghiêng. Dòng chữ chạy dọc mép giấy, phải tháo kẹp mới đọc được hết. Đừng viết thay tám nhịp cuối. Hãy để cơ thể có mặt trong đêm diễn tự trả lời. Tôi ngồi bất động. Không phải trang bị mất. Không phải bệnh tật khiến Tống Nhược Vân bỏ dở. Bà đã cố ý để tám ô nhịp trống cho cơ thể của người diễn ở đúng thời điểm công diễn. Tôi lật lại mọi trang, tìm thêm chú thích. Ở một mép khác có câu: Bản kết không phải bí mật để giải; nó là quyền chưa được trao trước. Cửa phòng mở. Cảnh Thâm bước vào với hai cốc trà nóng, thấy mặt tôi liền đặt cốc xuống. “Anh có được đến gần không?” “Có.” Anh kéo ghế ngồi bên cạnh. Tôi chỉ cho anh dòng chữ. Cảnh Thâm đọc xong, tháo kính lau dù tròng kính không hề bẩn. “Vậy khoảng trống là chủ ý,” anh nói. “Tống Nhược Vân không muốn chúng ta hoàn thành nó trên giấy.” “Em thấy thế nào?” “Tức giận.” Cảnh Thâm có vẻ ngạc nhiên nhưng không sửa cảm xúc của tôi. “Tống Nhược Vân lại để tôi đứng trước một câu hỏi mà không cho đáp án. Bà luôn làm thế rồi gọi đó là tin tưởng.” Tôi chạm lên dòng mực. “Nếu cơ thể có mặt đêm diễn là Thanh Lam, tám nhịp thuộc về Thanh Lam. Nếu là cả đoàn, thuộc về cả đoàn. Nếu tôi ở đó...” Tôi không nói tiếp. Cảnh Thâm đẩy cốc trà về phía tôi. “Em không phải quyết định tối nay.” “Nhưng ngày mai chúng ta phải nộp bản kết cho duyệt kỹ thuật.” “Chúng ta có thể nộp cấu trúc mở. Tám nhịp có vùng sáng, exit cue và các phương án tải. Quyết định người thực hiện có thể chốt sau lần chạy cuối.” “Từ Khải Luân sẽ phát điên.” “Khải Luân đã luyện tập nhiều tuần. Sức chịu đựng tốt hơn rồi.” Tôi cười, nhưng mắt cay. Cảnh Thâm ngồi cạnh mà không chạm. Một lúc sau, tôi chủ động đặt bàn tay lên mu bàn tay anh. “Anh có muốn nắm tay tôi không?” tôi hỏi. “Có.” “Anh có thể.” Các ngón tay anh khép lại vừa đủ. Không kéo tôi gần hơn, không biến lời cho phép thành quyền vô hạn. Tôi dựa vai vào ghế, để sự ấm áp ấy tồn tại bên cạnh nỗi giận và lòng biết ơn. “Cảnh Thâm,” tôi nói, “nếu tôi không bước vào tám nhịp đó, anh có thất vọng không?” “Anh sẽ thất vọng nếu em chọn vì sợ làm anh thất vọng.” “Câu trả lời khôn quá.” “Anh có câu kém khôn hơn.” “Nói đi.” “Anh muốn thấy em ở bất cứ nơi nào em tự chọn. Nếu là sau bàn ký phổ, anh sẽ đặt ánh sáng ở đó. Nếu là trong cánh gà, anh sẽ để cánh gà đủ sáng. Nếu là giữa sân khấu...” Anh ngừng một nhịp. “Anh vẫn sẽ hỏi em muốn vệt sáng ở đâu.” Tôi siết tay anh. Lần đầu tiên, ý nghĩ hôn Cảnh Thâm không làm tôi sợ mất thăng bằng. Tôi hỏi anh có muốn không. Anh nói có, rồi chờ tôi nghiêng người trước. Nụ hôn ngắn, dịu và có vị trà còn chưa uống. Khi tôi lùi lại, anh không đuổi theo. Chúng tôi nhìn nhau, cùng cười vì cả hai đều vụng về hơn tưởng tượng. “Tôi vẫn đang tức Tống Nhược Vân,” tôi nói. “Anh không cạnh tranh với người đã mất về khả năng khiến em tức.” “Anh có tiềm năng.” Ngày hôm sau, tiềm năng gây tức giận của người sống được chứng minh bởi Khải Luân. Ông triệu tập chúng tôi vào phòng họp, đóng cửa rồi đặt một email in sẵn lên bàn. Quỹ Nghệ thuật Tinh Tuyền rút khoản tài trợ chính. Sau vụ teaser, họ yêu cầu một cam kết truyền thông rõ về màn tái xuất. Bản đề xuất mới của chúng tôi nhấn mạnh thiết kế tập thể, không hứa sự trở lại của tôi, nên hội đồng quỹ cho rằng dự án không còn phù hợp chiến dịch năm nay. Khoản thiếu đủ lớn để hủy hai đêm diễn và gần như toàn bộ tuần kỹ thuật. Khải Luân không vòng vo. “Tôi có một phương án. Đổi tên người phục dựng trên quảng bá thành nhóm nghệ thuật Nhà hát Kính Vũ. Dùng bản kết cũ từ video diễn thử, để Thanh Lam thực hiện. Chúng ta bán vở như di sản cuối cùng của Tống Nhược Vân. Không nhắc Vãn Nghi tái xuất, cũng không cần giữ cấu trúc mở.” “Tức là xóa tên tôi và làm giả đoạn kết,” tôi nói. “Không phải làm giả. Là tái dựng từ tư liệu.” “Tư liệu đó có trước bản ký phổ cuối. Tống Nhược Vân đã loại nó.” “Chúng ta đang đối diện việc cả dự án biến mất.” Khải Luân đập ngón tay lên bảng chi phí. “Tôi có bốn mươi ba nhân viên cần lương. Đạo đức nghệ thuật rất đẹp khi chưa đến ngày thanh toán.” Thanh Lam ngồi cạnh tôi, hai bàn tay nắm chặt. “Nếu dùng bản kết cũ, em không diễn.” Khải Luân quay sang. “Cô có hợp đồng.” “Trong hợp đồng ghi em thực hiện bản phục dựng được duyệt. Không ghi em giả chữ ký của người chết.” Không khí đặc lại. Cảnh Thâm định lên tiếng, nhưng tôi đặt tay lên bàn. Tôi không cần ai cứu lượt nói của mình. “Tôi không xin ông giữ vai trò cho tôi,” tôi nói. “Tôi cũng không dùng việc rời dự án để ép ông lần nữa. Tôi đưa một lựa chọn. Trả lại tên tác giả phục dựng cho những người thực sự làm. Giữ đoạn kết mở. Cắt quy mô xuống mức chúng tôi tự dựng được. Nếu nhà hát không thể sản xuất, hãy cho đoàn dùng phòng thử và sân khấu một đêm theo thỏa thuận chia doanh thu.” Khải Luân cười khô. “Cô nghĩ một nhóm vũ công tự lo được kỹ thuật, bảo hiểm, bán vé và truyền thông trong một tuần?” “Không. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ phải học.” “Và nếu thất bại?” “Thì thất bại bằng tác phẩm thật của mình.” Khải Luân đứng dậy đi đến cửa sổ. Bên ngoài, mặt sông Lam Giang xám như kim loại. Ông không phải người duy nhất có thứ để mất. Tôi biết điều đó, nhưng hiểu áp lực của ông không buộc tôi giao quyền tác giả. “Cho tôi đến sáng mai,” ông nói. “Được. Trong lúc đó, chúng tôi tiếp tục tập.” Chúng tôi không chờ quyết định. Thanh Lam gọi cả đoàn. Tôi trải bảng chi phí lên sàn. Cảnh Thâm liệt kê những gì có thể thay bằng thiết bị cố định. An Dương tính số giờ tập tối đa để không tăng chấn thương. Một vũ công có chị làm in ấn nhận lo vé điện tử. Một kỹ thuật viên đồng ý làm đêm diễn với phần trăm doanh thu. Chúng tôi bỏ màn lớn, dùng chính tường hậu sân khấu. Bỏ hệ treo lụa trên cao, chuyển sang lụa cầm tay. Giữ ba đèn, một bộ rung sàn và ghế. Những thứ từng bị coi là phương án nghèo bỗng trở thành ngôn ngữ nhất quán. Tôi soạn một thỏa thuận quyền tác giả tập thể. Tên Tống Nhược Vân đứng ở biên đạo gốc. Tạ Vãn Nghi ở phục dựng và ký phổ. Kỷ Thanh Lam cùng ensemble ở phát triển chuyển động. Lục Cảnh Thâm ở thiết kế ánh sáng và không gian. Mỗi người có quyền từ chối việc dùng hình ảnh ngoài ngữ cảnh. Mọi thay đổi lớn cần sự đồng thuận của nhóm đại diện. Khi tôi đọc xong, một vũ công hỏi ensemble có được ghi từng tên không. “Có,” tôi nói. “Không ai núp sau một danh từ số nhiều nếu họ muốn được gọi tên.” Chúng tôi ký từng người. Không có nhạc hùng tráng. Chỉ có tiếng bút sột soạt, hộp cơm nguội và Thanh Lam phải mượn bút ba lần vì cứ làm mất. Sáng hôm sau, Khải Luân trở lại phòng thử. Ông đọc thỏa thuận rất lâu. “Nhà hát sẽ cho sân khấu một đêm,” ông nói. “Tôi giữ tư cách đơn vị địa điểm, không sở hữu bản phục dựng. Doanh thu sau chi phí chia theo tỷ lệ này.” Ông sửa một con số. “Và tên tôi không cần nằm ở vị trí nhà sản xuất chính.” Tôi nhìn ông. “Ông chắc chứ?” “Không. Nhưng cô đúng về bản kết. Tôi đã xem lại video cũ. Tống Nhược Vân gạch bỏ nó trong bản dựng sau.” Khải Luân đặt bảng lịch diễn xuống. “Tôi xin lỗi vì định xóa tên cô để cứu một sản phẩm dễ bán hơn. Tôi vẫn nghĩ các cô đang điên.” Thanh Lam chìa bút. “Vậy ông ký làm đối tác địa điểm đi.” Khải Luân ký. Chúng tôi có sân khấu. Có ít tiền hơn, ít giờ hơn, và nhiều quyền hơn. Còn tám nhịp cuối vẫn trắng. Nhưng lần đầu tiên, khoảng trắng ấy không giống một lỗ hổng. Nó giống một cánh cửa chưa ai được phép mở thay.