mình sẽ lên sân thượng trước khi ban quản trị kịp gọi tên người chịu trách nhiệm. Sáng hôm sau, sân thượng khô một nửa. Nửa còn lại giữ những vũng nước phản chiếu bầu trời xám. Bành Tú Mai cùng ba người trong tổ rau đang dùng gáo nhựa múc nước khỏi luống cải. Đỗ Tiểu Lộ ngồi trên bậc cửa nhà kính, vẽ sơ đồ bằng bút dạ lên mặt sau một tấm áp phích cũ. Trình Mặc Ngôn đứng cạnh bồn số hai, cổ tay áo xắn lên, đang ghi áp suất từng nhánh ống. Tôi đặt bản vẽ của cha lên bàn gỗ. “Anh từng thấy ký hiệu này chưa?” Mặc Ngôn nhìn nét bút chì hình tam giác có một chấm ở giữa. “Van tràn phân tầng.” “Hồ sơ hiện tại không có.” “Vì nó chưa được lắp hoàn chỉnh.” “Anh biết từ đâu?” Anh mở chiếc tủ dụng cụ dưới bồn, lấy ra một hộp gỗ mỏng. Bên trong là ba đoạn ống mẫu, một van đồng nhỏ và cuốn sổ bìa vải đã phồng vì ẩm. “Cha cô giao tôi giữ.” Tôi nhìn anh. “Khi nào?” “Trước khi vụ kiện bắt đầu.” “Anh có thứ này mười năm mà không nói?” “Tôi đã tìm cô.” “Anh không hề gọi.” “Số cũ không còn. Căn hộ bán. Mẹ cô không muốn nhận thư.” “Mẹ tôi không thể quyết định thay tôi.” “Đúng.” Anh đặt cuốn sổ trước mặt tôi. “Nhưng khi ấy tôi hai mươi ba tuổi, vừa mất mẹ và không biết phải tìm một người không muốn quay về bằng cách nào.” Tôi muốn giận tiếp. Câu trả lời của anh không xóa mười năm, nhưng nó làm chúng trở nên phức tạp hơn một lỗi đơn giản. Tôi mở cuốn sổ. Các trang đầu là phép tính lưu lượng. Phần giữa ghi tên từng hộ dân góp vật liệu: nhà bà Bành cho khung thép cũ, nhà ông Phó cho thùng nhựa, cha Mặc Ngôn làm máng gỗ thử nghiệm. Hệ thống không phải công trình riêng của cha tôi. Nó là một thứ cả khu nhà cùng lắp trong những mùa mưa thiếu nước. “Bản vẽ ban quản trị chỉ có hai bồn,” tôi nói. “Ở đây có bồn cân bằng thứ ba.” “Bồn thứ ba chưa từng được đặt