van và phụ lục bị thiếu. Chúng tôi bắt đầu kiểm tra từng đường ống. Bành Tú Mai phân công cư dân dọn chậu. Đỗ Tiểu Lộ đánh số điểm đo. Một ông lão tầng sáu mang lên hộp ốc vít từ thời cha tôi. Cả buổi sáng biến thành một công trường vụng về nhưng có trật tự. Ở luống cà chua phía tây, chúng tôi tìm thấy một đoạn ống bị rễ cây ép nứt. Mặc Ngôn cắt bỏ phần hỏng, tôi đo lại lưu lượng. Tay anh chắc, từng động tác gọn. Khi anh đưa cờ lê, ngón tay chúng tôi chạm nhau. Cả hai cùng rút lại quá nhanh. Bành Tú Mai đứng gần đó nói lớn: “Ống chưa rò mà người đã tránh.” Tôi cúi xuống đồng hồ đo. “Bà tập trung giữ thùng.” “Ta giữ rất chắc. Chỉ hai người không chắc thôi.” Mặc Ngôn ho một tiếng, quay sang lấy băng tan. Đến chiều, chúng tôi sửa được ba nhánh. Áp suất ổn định hơn nhưng độ võng vẫn là vấn đề. Tôi đề xuất tháo bớt đất khỏi vùng đông nam, chuyển sang giá trồng nhẹ và lắp một bồn mềm tạm ở sân sau để nhận nước tràn. “Không đủ trước bão,” Mặc Ngôn nói. “Dự báo bão còn năm ngày.” “Ở Nam Khê, dự báo luôn đến sau mây.” “Vật lý không thay đổi theo kinh nghiệm địa phương.” “Nhưng lịch xe chở vật liệu có.” Anh gọi ba nơi. Không ai giao bồn mềm trước tuần sau. Tôi nhìn cuốn sổ của cha. Bên lề một trang có bản phác chiếc máng gỗ gấp. Trình Mặc Ngôn cúi xem. “Cha cô từng thử làm bồn phân tầng bằng khung gỗ và bạt,” anh nói. “Anh làm được không?” “Tôi là thợ mộc bán thời gian.” “Tôi tưởng anh quản lý kỹ thuật.” “Con người được phép biết hai việc.” “Tôi chưa xác nhận.” “Vậy tối nay đến xưởng xem.” Xưởng của anh nằm trong căn phòng kho tầng một. Mùi gỗ thông và dầu hạt lanh lập tức đưa tôi về những buổi chiều cũ. Trên tường treo cưa, bào và những mảnh gỗ được đánh dấu bằng nét chì. Ở góc phòng là một chiếc ghế nhỏ chưa hoàn thiện. “Cho ai?” tôi hỏi. “Đỗ Tiểu Lộ. Cô