duy nhất. Bản thiết kế cũ được ghi là nền tảng thử nghiệm; thiết kế mới thuộc hợp tác xã cư dân. Tôi chạm vào dòng ấy thật lâu. Mặc Ngôn đứng bên cạnh nhưng không hỏi tôi đang nghĩ gì. “Tôi đã mở văn phòng ở tầng ba,” tôi nói. Anh quay sang. “Văn phòng gì?” “Nhóm tư vấn hạ tầng cộng đồng Nam Khê. Tôi làm ba ngày ở đây, hai ngày ở Đông Lâm.” “Cô sẽ ở Vân Tảo?” “Tôi thuê phòng. Không phải căn hộ cũ.” “Vì sao?” “Căn hộ cũ thuộc một đời tôi không cần phục dựng nguyên trạng.” Tôi nhìn cửa nhà kính, những vệt nắng trên gỗ mới. “Tôi muốn một nơi có chỗ cho những thứ tôi đang trở thành.” Mặc Ngôn tháo kính lau, dù tròng hoàn toàn sạch. “Anh đang xúc động à?” “Bụi.” “Không có gió.” “Bụi có quyền tự do di chuyển.” Tôi cười. “Anh có muốn xem văn phòng không?” “Có.” “Và sau đó giúp tôi lắp kệ?” “Cô thuê thợ mộc bằng gì?” “Bữa sáng một tháng.” “Giá đã tăng.” “Hai tháng.” “Thêm quyền chọn màu rèm.” “Không.” “Vậy ba tháng.” Chúng tôi mặc cả đến khi đám mây đầu tiên che nắng. Hạt mưa rơi xuống mái kính, thưa và tròn. Màn hình lưu lượng bật sáng. Bành Tú Mai hô mọi người về vị trí như thể đang chỉ huy một con tàu. Thanh Hà mở bảng log. Tiểu Lộ quay camera. Ba cư dân trực kỹ thuật kiểm tra van theo cặp. Mặc Ngôn bước tới chiếc van cuối cùng. Tôi đặt tay lên cổ tay anh, lặp lại câu của sáu tháng trước. “Đừng tháo.” Anh nhìn đồng hồ áp. “Lần này vì sao?” “Vì chưa cần.” “Cô chắc?” “Tôi có dữ liệu.” “Dĩ nhiên.” Anh không chạm van. Nước chảy qua máng mới, chia vào hai bồn cân bằng rồi xuống các khay trồng. Không có tiếng gầm, không có đèn tắt, không ai phải chạy. Chỉ có mưa rơi đều và những con số ổn định trên màn hình. Tôi đứng cạnh Mặc Ngôn dưới mái hiên. “Anh từng hỏi quyết định hôn anh có tạm thời không,” tôi nói. “Cô bảo chưa đủ dữ liệu.” “Bây giờ có sáu tháng.” “Cỡ mẫu nhỏ.” “Anh muốn kéo dài thử