nghiệm?” “Ít nhất vài chục năm.” “Đó là một đề xuất thiếu quy trình.” “Vậy tôi hỏi đúng quy trình.” Anh quay hẳn về phía tôi. Mưa vẽ những đường bạc phía sau vai anh. “Tạ An Nhiên, cô có muốn cùng tôi tiếp tục công việc này, không phải vì cha cô, mẹ tôi, khu nhà hay bất kỳ món nợ nào không?” Tôi nhìn người đàn ông từng ở lại quá lâu vì nghĩ không ai khác sẽ gánh. Anh đã học cách đặt tay khỏi chiếc van và chờ một câu trả lời. “Có,” tôi nói. “Nhưng anh không được tự quyết màu rèm.” “Điều kiện khắc nghiệt.” “Anh có quyền từ chối.” “Không.” Anh hôn tôi giữa tiếng cười của những người đang giả vờ không nhìn. Cơn mưa đầu mùa kéo dài hai mươi bảy phút. Khi trời tạnh, nước đọng trên lá cải thành những hạt tròn trong suốt. Bồn chính đầy sáu mươi ba phần trăm. Mái không võng thêm. Báo cáo tự động gửi cho toàn bộ thành viên hợp tác xã. Tôi mở cửa văn phòng mới vào chiều hôm đó. Căn phòng nhỏ, sơn trắng, có một cửa sổ nhìn lên sân thượng. Trên bàn là cuốn sổ của cha tôi, nhưng bên cạnh nó là bản vẽ mới mang tên bảy người. Mặc Ngôn lắp chiếc kệ đầu tiên lệch hai milimet. Tôi bắt anh tháo ra làm lại. Anh phản đối, nói sách không biết đo. Tôi đáp tường biết. Cuối cùng, chiếc kệ thẳng. Chúng tôi đặt lên đó một chậu bạc hà từ luống đầu tiên sống sót sau bão. Tối xuống, đèn trên Cửu Tầng bật. Tôi khóa văn phòng, nhưng không mang vali ra ga. Chìa khóa phòng thuê nằm trong túi áo. Ngày mai tôi vẫn có chuyến tàu đi Đông Lâm. Ba ngày sau, tôi sẽ trở lại. Tôi từng nghĩ trưởng thành là rời khỏi mọi nơi có thể giữ chân mình. Sau này tôi hiểu tự do không nằm ở khoảng cách. Nó nằm ở quyền đi, quyền về và quyền cùng người khác sửa một nơi đến khi nó đủ an toàn cho tất cả. Ngoài cửa sổ, nước mưa chảy theo đường ống mới, không bị giữ lại, cũng không tràn đi vô ích. Nó biết đường về.