Mười ngày sau cơn bão, sân thượng Cửu Tầng vẫn còn mùi gỗ mới và đất ướt. Đội gia cố đã đặt dầm thép thay cho đoạn kết cấu bị cắt. Bồn số hai được chuyển khỏi vùng đông nam. Tôi cùng ba cư dân kiểm tra lại từng mối nối, dán mã lên từng van và lập quy tắc không ai được vận hành hệ thống một mình. Trình Mặc Ngôn ký ở cột người bàn giao trước khi ký ở cột người phụ trách mới. “Anh có tiếc không?” tôi hỏi. “Tiếc việc gì?” “Không còn là người duy nhất biết mọi thứ nằm ở đâu.” Anh nhìn Đỗ Tiểu Lộ đang chụp ảnh đường ống, rồi nhìn Bành Tú Mai chỉ cho một cư dân trẻ cách đọc đồng hồ áp. “Có,” anh nói. “Nhưng nhẹ hơn.” Trong buổi nghiệm thu tạm, Lục Thanh Hà mang lên một thùng hồ sơ lấy từ kho ban quản trị cũ. Giữa những hóa đơn phai mực là bản sao báo cáo cuối cùng của cha tôi. Ông đã ghi rõ bồn cân bằng thứ ba chưa được lắp, hệ thống chỉ được vận hành thử trong mùa khô và cần dừng nếu kết cấu tầng chín thay đổi. Dưới báo cáo có chữ ký nhận của ban quản trị thời ấy. Cha tôi không thiết kế một hệ thống hoàn hảo. Ông cũng không giấu rủi ro. Nhưng sau khi đường ống vỡ, ông đã ký nhận toàn bộ trách nhiệm để quỹ bảo trì của cư dân không bị phong tỏa trong lúc tranh chấp. Tôi đọc trang cuối ở chiếc bàn dưới mái kính. Không có lời nhắn riêng cho tôi, không có bí mật nào biến ông thành người hùng. Chỉ có một câu viết ở lề: Nếu một công trình chỉ đứng được khi một người gánh hết trách nhiệm, thì công trình ấy chưa thật sự hoàn thành. Tôi từng giận cha vì ông nhận lỗi. Sau đó tôi lại muốn dùng hồ sơ mới để xóa sạch lỗi khỏi tên ông. Cả hai mong muốn đều đặt danh dự của một người cao hơn những gì cư dân cần vào ngày mai. Tôi đưa toàn bộ tài liệu cho hợp tác xã lưu trữ, kèm báo cáo độc lập của mình. Phần lịch sử dự án ghi đủ những quyết định đúng, sai và chưa hoàn thành. Tên cha tôi không được tẩy trắng, cũng không còn đứng một mình ở ô chịu trách nhiệm. Chiều hôm ấy, công ty Đông Lâm gọi xác nhận ngày bắt đầu. Tôi sẽ đi chuyến tàu sáu giờ sáng hôm sau. Bành Tú Mai mang lên một túi đồ ăn đủ cho ba ngày, dù hành trình chỉ kéo dài hai giờ. Đỗ Tiểu Lộ đưa tôi cuốn sổ bìa xanh để theo dõi dữ liệu từ xa. Thanh Hà hứa gửi báo cáo quỹ mỗi tuần mà không cần ai nhắc. Mặc Ngôn giúp tôi kéo vali xuống tầng một. Trước cửa xưởng gỗ, anh dừng lại. “Cô không cần hứa khi nào quay lại,” anh nói. “Tôi đã mua vé cuối tuần sau.” “Vậy cô không cần hứa ngoài điều đó.” “Tôi cũng chưa biết làm hai thành phố có chịu nổi không.” “Nếu không, cô đổi cách. Không phải mọi thứ đều cần giữ nguyên để chứng minh quyết định đầu tiên đúng.” Tôi nhìn anh. “Anh học câu ấy ở đâu?” “Từ một kỹ sư bắt tôi tháo chiếc kệ lệch hai milimet.” “Chiếc kệ chưa tồn tại.” “Rồi sẽ có.” Tôi hiểu anh đang nói về một tương lai đủ cụ thể để có đồ đạc, nhưng chưa biến nó thành nghĩa vụ. “Cuối tuần sau,” tôi nói. “Cuối tuần sau.” Chúng tôi hôn nhau trong sảnh Vân Tảo. Sau đó tôi kéo vali ra ga, không quay đầu để kiểm tra anh còn đứng đó hay không. Tôi biết mình đang đi, và cũng biết lần này có một con đường trở lại do chính mình chọn. Sáu tháng sau, tôi trở lại Nam Khê vào đúng ngày dự báo có mưa. Chuyến tàu sáng đi qua những cánh đồng ngập nắng. Trong túi tôi là hợp đồng thuê một căn phòng nhỏ tầng ba của Vân Tảo, nơi sẽ đặt văn phòng tư vấn đầu tiên của nhóm Đông Lâm tại Nam Khê. Công ty đã đồng ý thử nghiệm mô hình làm việc hai thành phố sau khi dự án Cửu Tầng được hiệp hội kỹ sư địa phương chọn làm công trình cộng đồng mẫu. Tôi không kể điều đó cho Trình Mặc Ngôn. Anh đón tôi ở ga bằng chiếc xe máy cũ, sau lưng buộc một bó thanh gỗ. “Anh chở vật liệu hay chở tôi?” “Cả hai. Vật liệu nhẹ hơn.” “Tôi có thể gọi taxi.” “Có thể.” “Anh không giữ à?” “Cô đã mua vé về đây.” Tôi đội mũ bảo hiểm, ngồi sau anh. Lần này tôi không cố giữ khoảng cách bằng hai ngón tay trên mép yên. Tôi ôm ngang eo anh. Mặc Ngôn im lặng ba giây rồi mới khởi động xe. Vân Tảo có màu khác trong nắng đầu hạ. Mặt tiền được sơn lại một phần. Cây cau ở sảnh đã được buộc thẳng. Bảng thông báo không còn chỉ dán phí và khiếu nại; giữa trang là lịch trực vườn, báo cáo tải mái và một tờ giấy Đỗ Tiểu Lộ vẽ hình đám mây đeo kính bảo hộ. Sân thượng Cửu Tầng mở bằng thẻ cư dân. Cửa có biển ghi rõ tải trọng tối đa, số điện thoại trực và nguyên tắc không ai được vận hành van một mình. Bên trong, vườn đã được nâng trên giá trồng nhẹ. Bồn nước chính chuyển sang phía tây, đặt trên khung phân tải mới. Các cảm biến gửi số liệu lên màn hình nhỏ cạnh cửa. Máng gỗ tạm trong đêm bão được giữ lại một đoạn như vật trưng bày, cạnh đó là tấm biển: Giải pháp xấu nhưng hữu ích, xin đừng bắt chước khi chưa tính toán. “Tôi không viết dòng đó,” Mặc Ngôn nói. “Bành Tú Mai?” “Đỗ Tiểu Lộ.” Cô bé từ nhà kính chạy ra, tóc buộc cao, tay cầm bảng vẽ. “Chị An Nhiên!” Cô ôm tôi rồi lập tức kéo tới xem khu học ngoài trời. Chiếc ghế Mặc Ngôn từng làm đã thành một dãy bàn gấp. Mỗi bàn có một rãnh nhỏ dẫn nước vào chậu bạc hà. “Anh ấy cuối cùng cũng chịu làm theo bản vẽ của người khác,” Tiểu Lộ nói. Mặc Ngôn chỉnh lại kính. “Tôi sửa ba lỗi tải.” “Và em sửa thẩm mỹ của anh.” Bành Tú Mai xuất hiện với rổ cà chua. “Hai đứa đừng tranh công trước khách quý.” “Tôi là cư dân cũ,” tôi nói. “Vậy phải trả phí hội viên.” “Tôi là kỹ sư dự án.” “Càng phải trả.” Tôi nộp phí bằng cách ăn hết hai quả cà chua bà đưa. Lục Thanh Hà mang báo cáo quỹ lên. Chị đã cắt tóc ngắn, thay giày cao gót bằng giày thể thao khi lên mái. Quỹ bảo trì tách riêng, mọi khoản thu chi hiển thị trên bảng. Chủ căn hộ chín trăm lẻ bốn đang theo kiện đơn vị cải tạo cũ; phần dầm đã được gia cố và kiểm định lại. “Đơn vị quảng cáo vẫn gửi đề nghị,” Thanh Hà nói. “Tôi trả lời họ có thể thuê một mét vuông bảng thông báo ở sảnh theo giá cư dân.” “Chị tiến bộ,” Mặc Ngôn nói. “Cậu cũng vậy. Tháng này chưa tự khóa van lần nào.” “Vì chúng tôi thay van điều khiển có log.” “Vẫn tính.” Tôi mở bản báo cáo kỹ thuật. Dữ liệu sáu tháng cho thấy hệ thống giữ được gần bốn mươi phần trăm nước tưới, giảm tải đỉnh nhờ bồn cân bằng và không vượt ngưỡng thiết kế. Mỗi thay đổi đều có người đề xuất, người duyệt và người cùng vận hành. Tên cha tôi xuất hiện ở phần lịch sử dự án, không phải như người anh hùng hay người có lỗi duy nhất. Bản thiết kế cũ được ghi là nền tảng thử nghiệm; thiết kế mới thuộc hợp tác xã cư dân. Tôi chạm vào dòng ấy thật lâu. Mặc Ngôn đứng bên cạnh nhưng không hỏi tôi đang nghĩ gì. “Tôi đã mở văn phòng ở tầng ba,” tôi nói. Anh quay sang. “Văn phòng gì?” “Nhóm tư vấn hạ tầng cộng đồng Nam Khê. Tôi làm ba ngày ở đây, hai ngày ở Đông Lâm.” “Cô sẽ ở Vân Tảo?” “Tôi thuê phòng. Không phải căn hộ cũ.” “Vì sao?” “Căn hộ cũ thuộc một đời tôi không cần phục dựng nguyên trạng.” Tôi nhìn cửa nhà kính, những vệt nắng trên gỗ mới. “Tôi muốn một nơi có chỗ cho những thứ tôi đang trở thành.” Mặc Ngôn tháo kính lau, dù tròng hoàn toàn sạch. “Anh đang xúc động à?” “Bụi.” “Không có gió.” “Bụi có quyền tự do di chuyển.” Tôi cười. “Anh có muốn xem văn phòng không?” “Có.” “Và sau đó giúp tôi lắp kệ?” “Cô thuê thợ mộc bằng gì?” “Bữa sáng một tháng.” “Giá đã tăng.” “Hai tháng.” “Thêm quyền chọn màu rèm.” “Không.” “Vậy ba tháng.” Chúng tôi mặc cả đến khi đám mây đầu tiên che nắng. Hạt mưa rơi xuống mái kính, thưa và tròn. Màn hình lưu lượng bật sáng. Bành Tú Mai hô mọi người về vị trí như thể đang chỉ huy một con tàu. Thanh Hà mở bảng log. Tiểu Lộ quay camera. Ba cư dân trực kỹ thuật kiểm tra van theo cặp. Mặc Ngôn bước tới chiếc van cuối cùng. Tôi đặt tay lên cổ tay anh, lặp lại câu của sáu tháng trước. “Đừng tháo.” Anh nhìn đồng hồ áp. “Lần này vì sao?” “Vì chưa cần.” “Cô chắc?” “Tôi có dữ liệu.” “Dĩ nhiên.” Anh không chạm van. Nước chảy qua máng mới, chia vào hai bồn cân bằng rồi xuống các khay trồng. Không có tiếng gầm, không có đèn tắt, không ai phải chạy. Chỉ có mưa rơi đều và những con số ổn định trên màn hình. Tôi đứng cạnh Mặc Ngôn dưới mái hiên. “Anh từng hỏi quyết định hôn anh có tạm thời không,” tôi nói. “Cô bảo chưa đủ dữ liệu.” “Bây giờ có sáu tháng.” “Cỡ mẫu nhỏ.” “Anh muốn kéo dài thử nghiệm?” “Ít nhất vài chục năm.” “Đó là một đề xuất thiếu quy trình.” “Vậy tôi hỏi đúng quy trình.” Anh quay hẳn về phía tôi. Mưa vẽ những đường bạc phía sau vai anh. “Tạ An Nhiên, cô có muốn cùng tôi tiếp tục công việc này, không phải vì cha cô, mẹ tôi, khu nhà hay bất kỳ món nợ nào không?” Tôi nhìn người đàn ông từng ở lại quá lâu vì nghĩ không ai khác sẽ gánh. Anh đã học cách đặt tay khỏi chiếc van và chờ một câu trả lời. “Có,” tôi nói. “Nhưng anh không được tự quyết màu rèm.” “Điều kiện khắc nghiệt.” “Anh có quyền từ chối.” “Không.” Anh hôn tôi giữa tiếng cười của những người đang giả vờ không nhìn. Cơn mưa đầu mùa kéo dài hai mươi bảy phút. Khi trời tạnh, nước đọng trên lá cải thành những hạt tròn trong suốt. Bồn chính đầy sáu mươi ba phần trăm. Mái không võng thêm. Báo cáo tự động gửi cho toàn bộ thành viên hợp tác xã. Tôi mở cửa văn phòng mới vào chiều hôm đó. Căn phòng nhỏ, sơn trắng, có một cửa sổ nhìn lên sân thượng. Trên bàn là cuốn sổ của cha tôi, nhưng bên cạnh nó là bản vẽ mới mang tên bảy người. Mặc Ngôn lắp chiếc kệ đầu tiên lệch hai milimet. Tôi bắt anh tháo ra làm lại. Anh phản đối, nói sách không biết đo. Tôi đáp tường biết. Cuối cùng, chiếc kệ thẳng. Chúng tôi đặt lên đó một chậu bạc hà từ luống đầu tiên sống sót sau bão. Tối xuống, đèn trên Cửu Tầng bật. Tôi khóa văn phòng, nhưng không mang vali ra ga. Chìa khóa phòng thuê nằm trong túi áo. Ngày mai tôi vẫn có chuyến tàu đi Đông Lâm. Ba ngày sau, tôi sẽ trở lại. Tôi từng nghĩ trưởng thành là rời khỏi mọi nơi có thể giữ chân mình. Sau này tôi hiểu tự do không nằm ở khoảng cách. Nó nằm ở quyền đi, quyền về và quyền cùng người khác sửa một nơi đến khi nó đủ an toàn cho tất cả. Ngoài cửa sổ, nước mưa chảy theo đường ống mới, không bị giữ lại, cũng không tràn đi vô ích. Nó biết đường về.