“Ba nhịp nữa,” tôi nói giữa khu chợ tối om. “Tôi đếm xong mới được đóng công tắc.” Bàn tay Tần Dịch Phong đặt trên cần gạt màu đỏ nhưng không hề nhúc nhích. Hơi thở anh hóa thành khói trắng trước mặt. Sau lưng chúng tôi, gian bếp Đèn Cam không còn một bóng điện, chỉ có ánh lửa xanh thấp thoáng dưới ba chiếc nồi đã được đậy kín. Ngoài ngõ, tiếng gió rít qua mái tôn, tiếng trẻ con được dỗ im, tiếng một chiếc máy hỗ trợ thở chuyển sang nguồn dự phòng. Cả khu Phù Quang đang chờ tôi ra lệnh tự tay tắt nốt nơi sáng cuối cùng. “Một.” Dịch Phong nhìn tôi, không nhìn công tắc. “Hai.” Tôi nghe rõ tiếng tim mình trong lớp áo công trường. “Ba.” Anh gạt cần. Bếp tắt hoàn toàn. Và chính trong khoảnh khắc không còn nhìn thấy mặt nhau ấy, tôi hiểu ánh sáng không phải thứ khó chia nhất. Khó chia nhất là trách nhiệm giữ cho nó không tắt sai lúc. Bảy ngày trước, tôi đến khu chợ Phù Quang với một tập lệnh đóng tuyến, một đồng hồ đo tải và niềm tin rằng con số, nếu đủ chính xác, sẽ giúp tôi tránh phải tranh luận với con người. Thành phố Hàn Lưu khi ấy vừa bước vào đợt rét đầu mùa. Những tòa nhà phía trung tâm sáng lên từ bốn giờ chiều, còn các khu cũ ven sông bắt đầu cắt điện luân phiên để giảm tải. Phù Quang nằm cuối một tuyến cấp điện xây từ ba mươi năm trước, dây dẫn chạy ngoằn ngoèo qua mái hiên, kho hàng và những biển hiệu đã bạc màu. Trên sơ đồ của Hàn Lưu Điện, tuyến ấy chỉ là một nét xám cần xóa trước khi gây sự cố. Trưởng ca đặt hồ sơ xuống bàn tôi vào cuối buổi sáng. “Bảy ngày. Khảo sát, cô lập tải thiết yếu, đóng tuyến cũ. Sau đó chuyển phần đủ điều kiện sang trạm Bắc Phù.” Tôi lật đến trang cuối. Chữ ký phê duyệt đã đủ. Phần dành cho ý kiến cư dân để trống. “Có phương án tạm cho khu chợ không?” “Đã gửi thông báo cắt luân phiên. Việc kinh doanh tự sắp xếp.” Tôi gật đầu. Đó là kiểu câu trả lời tôi từng dùng rất thành thạo: đúng phạm vi, đúng quy trình, không nhận thêm trách nhiệm. Tôi cho đồng hồ đo tải vào túi, khoác áo phản quang rồi lái xe đến Phù Quang trước khi trời tối. Mùi đầu tiên đón tôi không phải mùi dây điện nóng mà là mùi gừng nướng. Bên dưới dãy đèn lồng không còn sáng, vài chục người xếp hàng trước một căn bếp có tấm biển gỗ màu cam. Một thanh niên đội mũ len ôm ba hộp cơm chạy ngang, suýt va vào tôi rồi thắng lại bằng hai gót chân. “Chị là người của điện lực à?” cậu hỏi. “Tôi là Lương Gia Mẫn, kỹ sư điều độ.” Cậu nhìn dải phản quang trên áo tôi, quay vào trong hét lớn: “Anh Dịch Phong, người đến rút phích cắm của chúng ta đã tới!” Tôi chưa kịp phản ứng thì một người đàn ông từ sau làn hơi nước bước ra. Tần Dịch Phong mặc áo bếp xanh đậm, tạp dề nâu buộc gọn, tay trái bê nồi nhỏ, tay phải cầm muôi. Anh cao hơn tôi nửa cái đầu, tóc ngắn còn dính hơi ẩm. Một vết bỏng cũ nhỏ nằm sát cổ tay trái, chỉ lộ ra khi anh đặt nồi xuống. “Cậu có thể giới thiệu khách đỡ gây chiến hơn không, Tử Du?” anh nói. Khang Tử Du cười, ôm hộp cơm chạy mất. Dịch Phong quay sang tôi. “Cô ăn chưa?” “Tôi đến kiểm tra tải.” “Vậy là chưa.” “Tôi cần người phụ trách bếp.” “Cũng là tôi.” Tôi đưa văn bản thông báo. “Tuyến cấp cũ sẽ bị đóng trong bảy ngày. Từ tối nay, đề nghị bếp tuân thủ lịch cắt điện và ngắt toàn bộ thiết bị không thiết yếu trước mười chín giờ.” Anh đọc rất nhanh, sau đó nhìn chiếc nồi giữ nhiệt lớn ở cuối bếp. “Nồi đó không ngắt được.” “Công suất danh định ba nghìn sáu trăm oát.” Tôi liếc nhãn máy. “Chính xác là thứ cần ngắt.” “Bên trong có cháo cho người tan ca lúc mười một giờ, canh cho ba nhà có người già, và nước nóng để pha sữa cho một đứa trẻ.” “Anh có thể nấu sớm hơn.” “Đã nấu sớm. Nhưng thức ăn nguội giữa lúc ngoài trời âm ba độ thì không còn là phương án.” Tôi kéo găng tay, cắm đồng hồ đo vào nhánh cấp chính. Con số nhảy quá giới hạn dự kiến gần bốn mươi phần trăm. “Nếu tiếp tục thế này, không chỉ nồi cháo tắt. Cả dãy có thể mất điện do sự cố.” “Vậy đo từng thứ rồi hãy quyết định.” “Tôi không có nhiệm vụ thiết kế lại hoạt động kinh doanh của anh.” “Còn tôi không có quyền để một tờ giấy quyết định ai ăn đồ lạnh.” Cuộc tranh luận của chúng tôi thu hút gần hết người đang xếp hàng. Một phụ nữ khoảng sáu mươi tuổi, tóc điểm bạc, từ quầy thuốc đóng cửa bước sang. Bà tự giới thiệu là Hứa Bội San rồi hỏi tôi bằng giọng rất bình tĩnh: “Nếu chúng tôi kê danh sách những thứ thật sự cần điện, cô có xem không?” “Tôi sẽ xem tải kỹ thuật.” “Còn nhu cầu của người dùng?” “Nếu không có số đo, tôi không thể đưa vào phương án.” Bội San gật gù, như thể vừa xác nhận một triệu chứng. “Vậy chúng tôi sẽ giúp cô có số đo. Nhưng cô phải cho chúng tôi biết số nào sẽ được dùng vào việc gì.” Tôi chưa kịp trả lời thì toàn bộ bóng đèn trên dãy chợ chớp hai lần. Một tiếng nổ khô phát ra đâu đó phía sau nhà kho. Ánh sáng tắt phụt rồi trở lại, yếu đến mức các bóng đèn rung như đang thở. Tôi lập tức chạy theo đường dây. Dịch Phong bỏ muôi xuống và đi sát phía sau. Chúng tôi vòng qua hai dãy hàng, tới một tủ phân phối cũ đặt cạnh nhà kho Hạc Trắng. Nắp tủ nóng bất thường. Bên dưới nó là một cụm dây nối nhiều màu, ổ chia cắm chồng lên nhau, chạy qua cửa sổ, len vào các gian hàng và một con ngõ nhỏ. “Không ai chạm vào,” tôi nói lớn. “Tử Du, gọi mọi người tránh khỏi khu này. Dịch Phong, tìm cầu dao nhánh phía trong bếp.” Anh không hỏi tại sao. Chưa đầy một phút sau, tải giảm đủ để tôi mở nắp tủ bằng dụng cụ cách điện. Không có dấu cạy phá, không có thiết bị câu trộm công suất lớn, cũng không có dấu hiệu ai cố tình gây sự cố. Chỉ là rất nhiều nhu cầu nhỏ đã tự tìm đường cắm vào cùng một tuyến: chăn sưởi, tủ thuốc, bộ sạc xe giao hàng, nồi giữ nhiệt, ấm nước, máy phun khí dung và những dây nối không chịu nổi mùa đông. Tôi chụp ảnh từng nhánh, đánh dấu bằng băng màu. Dịch Phong ngồi xổm cách tôi một khoảng an toàn, đọc tên chủ thiết bị khi nhận ra. Anh không hề tỏ vẻ thắng cuộc. Điều đó làm tôi khó chịu hơn một câu mỉa mai. “Không có phá hoại,” anh nói. “Không. Chỉ có quá tải tự phát.” “Nghe có vẻ ít đáng trách hơn.” “Nhưng vẫn nguy hiểm như nhau.” “Vậy chúng ta có bảy ngày để biến những sợi dây này thành một kế hoạch.” Tôi đứng dậy, phủi đầu gối. “Tôi có bảy ngày để đóng tuyến.” Anh cũng đứng lên. “Cô cứ gọi nó bằng tên của cô. Tôi gọi nó bằng tên của tôi.” Tối đó, Mạnh Tuyết Lan, quản lý khu chợ, đến khi chúng tôi vừa niêm phong xong tủ phân phối. Bà mặc áo dạ xám, cầm một tập hồ sơ bảo hiểm dày hơn cả lệnh đóng tuyến của tôi. “Tôi đã cảnh báo bếp Đèn Cam ba lần,” bà nói. “Nếu để phát sinh cháy điện, bảo hiểm của cả khu chợ có thể bị từ chối. Từ ngày mai, dừng bếp đến khi tuyến cũ đóng xong.” Dịch Phong đặt hai tay lên bàn. “Dừng bếp thì ca khuya không còn điểm nhận suất ăn, ngõ Sương Chậm không có nước nóng, người cần trú rét phải đi thêm hai cây số.” “Còn nếu cháy, họ mất luôn nhà.” Tuyết Lan không phải người vô tình. Bà biết tên từng chủ quầy, biết mái nào dột và cửa nào kẹt. Nhưng bà nói bằng thứ ngôn ngữ của trách nhiệm pháp lý, giống tôi đến mức tôi không thể dễ dàng phản bác. Tôi đề nghị một phương án tạm: tối hôm sau cắt toàn khu theo lịch, trước đó tập trung cư dân để lập bản đồ tải. Nếu xác định được nhánh thiết yếu và loại bỏ dây nối nguy hiểm, tôi sẽ cho phép thử cấp điện giới hạn dưới giám sát. Tuyết Lan đồng ý với điều kiện bếp ngắt nồi giữ nhiệt khi tôi yêu cầu. Dịch Phong đồng ý với điều kiện tôi phải có mặt suốt buổi họp, không chỉ để máy đo lại rồi đi. “Anh không có quyền đặt điều kiện cho kỹ sư phụ trách,” tôi nói. “Đúng. Nhưng tôi có quyền từ chối cho cô vào bếp ngoài giờ nếu không có người giám sát an toàn thực phẩm.” Tuyết Lan day trán. Bội San quay mặt giấu một nụ cười. Đêm mất điện thứ nhất bắt đầu bằng ba mươi hai chiếc ghế nhựa, một tấm bảng trắng và sự thất bại nhanh nhất trong sự nghiệp thuyết trình của tôi. Tôi vẽ sơ đồ tuyến, ghi công suất cho phép, hệ số đồng thời và ngưỡng quá dòng. Sau năm phút, một nửa căn phòng nhìn tôi như nhìn dự báo thời tiết bằng ngôn ngữ cổ. Sau mười phút, một người bán cá hỏi liệu tủ đông của ông có được cắm không. Tôi trả lời rằng cần biết dòng khởi động của máy nén. Ông nói ông chỉ biết nếu cá hỏng thì tuần này cả nhà không có tiền. Một phụ nữ trẻ hỏi có thể sạc xe điện để sáng đưa con đi học không. Tôi hỏi dung lượng pin và thời gian sạc. Cô ấy ôm con đứng dậy đi về. Bội San nhắc rằng một số người không muốn công khai bệnh tình. Tôi nói danh sách tải phải đủ thông tin để phân loại. Hai người già ở hàng cuối lặng lẽ kéo ghế ra ngoài. Chưa đầy nửa giờ, cuộc họp chỉ còn mười một người. Trên bảng là những con số hoàn toàn đúng. Trong phòng là một kế hoạch không ai muốn tham gia. Tôi đứng im, bút dạ trong tay. Cảm giác ấy quá quen: bảng tính khép kín, kết luận hợp lý, căn phòng trống dần. Dịch Phong không nói gì. Anh vào bếp, mang ra một khay suất ăn đã nguội vì chúng tôi ngắt nồi giữ nhiệt đúng yêu cầu. Anh đặt một hộp trước mặt tôi, kéo ghế ngồi đối diện. “Ăn đi.” “Tôi chưa xong.” “Cô xong rồi. Mọi người về gần hết.” Tôi mở nắp hộp. Cơm cứng ở mép, rau xào đọng dầu, miếng đậu phụ chỉ còn hơi ấm ở giữa. “Đây là thứ anh muốn chứng minh?” “Không. Đây là suất ăn mà chú gác kho sẽ nhận lúc mười một giờ nếu chúng ta chỉ tắt thiết bị mà không đổi cách nấu.” Anh đưa tôi đôi đũa rồi quay tấm bảng trắng sang mặt còn trống. “Ngày mai, đừng hỏi họ dùng bao nhiêu oát trước. Hỏi họ cần làm gì để qua đêm. Sau đó chúng ta mới đo.” “Tôi không thể cấp điện dựa trên chuyện kể.” “Cũng không ai kể chuyện cho cô nếu câu đầu tiên của cô là hệ số đồng thời.” Tôi ăn một miếng cơm nguội. Ngoài cửa kính, từng quầy hàng chìm trong bóng tối theo lịch cắt. Chỉ còn chiếc đèn sạc trên bàn hắt một vòng sáng nhỏ lên hai bàn tay chúng tôi. “Anh nói ‘chúng ta’ hơi sớm,” tôi bảo. Dịch Phong dựa lưng vào ghế. “Vậy cô cứ gọi nó bằng tên của cô.” Lần này, tôi không sửa anh.