Chỉ còn chưa đầy một giờ nữa, hội đồng Tần gia sẽ bước vào rạp Xuân Vũ để quyết định nơi này được sống tiếp hay phải sang tay. Tần Tư Nhu đứng giữa khán phòng tối, phía sau cô ta là sáu thùng thiết bị phát điện và một đội truyền thông đang chờ ngoài cửa. Cô ta đặt bản thỏa thuận trước mặt tôi. “Chị nhập Xuân Vũ vào đại lễ Thành Nguyệt. Em cấp điện, trả nghệ sĩ, đưa khán giả sang đây. Chị còn do dự gì nữa?” Tôi tháo chùm chìa khóa đồng khỏi thắt lưng, đặt xuống cạnh cây bút. Ngoài sân khấu, Kỷ Hoài Chu đang giữ tấm màn trắng để nó khỏi đổ. Trong bóng tối, bảy mươi tám thành viên của rạp vẫn ngồi yên, chờ câu trả lời của tôi. Tôi đã từng đổi cả đời mình lấy một danh phận. Lần này, nếu ký, tôi sẽ đổi tên của tất cả họ lấy một buổi tối sáng đèn. Tôi đẩy cây bút về phía Tần Tư Nhu. “Điện, tôi thuê. Còn Xuân Vũ, không bán.” Hai mươi ngày trước, tôi mở mắt giữa tiếng ly pha lê chạm nhau trong phòng tiệc Tần gia. Người phục vụ vừa đặt trước mặt tôi hai chiếc khay phủ nhung đỏ. Trên khay bên trái là hộp nhẫn của Hạ gia và thẻ ra vào cung cưới Thành Nguyệt. Trên khay bên phải là chùm chìa khóa đồng đã xỉn màu của rạp hát Xuân Vũ. Tôi nhìn bàn tay không còn vết chai và biết mình đã quay lại. Tôi, Tần Vãn Chi, thiên kim thật được Tần gia tìm về khi đã hai mươi lăm tuổi, đang đứng trong bữa tiệc mừng ngày lão phu nhân chia phần thưởng cho hai cô cháu gái. Một bên là hôn ước với Hạ Cảnh Thừa, kèm vị trí nữ chủ nhân tương lai của cung cưới lớn nhất Lâm Giang. Một bên là quyền quản lý rạp hát cũ trên phố Nam Vũ, nơi đèn biển đã tắt suốt ba tháng. Ở kiếp trước, tôi giành chiếc nhẫn. Tôi tưởng điều hành Thành Nguyệt thật giỏi sẽ khiến Tần gia công nhận mình. Tôi làm việc đến kiệt sức cho đại lễ một trăm đôi, cắt khoản hỗ trợ cuối cùng của Xuân Vũ. Rạp bị chuyển quyền khai thác, đoàn Hoài Thanh mất sân khấu, Kỷ Hoài Chu rời Lâm Giang. Sau đó đại lễ thất bại vì không ai thật sự muốn nghe người khác. Hạ Cảnh Thừa cần một cô dâu có sức ảnh hưởng, còn tôi cần một gia đình biết công nhận mình. Chúng tôi đứng cạnh nhau rất đẹp, nhưng chưa từng nhìn thấy nhau. Tôi sống qua thất bại ấy, rồi một tai nạn trên đường rời Thành Nguyệt khép lại mọi thứ. Khi mở mắt lần nữa, tôi lại đứng trước hai chiếc khay. Lần này, tôi không định tranh phần thưởng được định giá sẵn. Tần lão phu nhân ngồi ở ghế chính, tóc bạc chải gọn, đầu gậy chống đặt ngay giữa hai mũi giày. Bên phải bà là Tần Tư Nhu trong chiếc váy đỏ rượu. Cô ta lớn hơn tôi một tuổi, đã sống ở Tần gia từ bé, dù kết quả xác minh huyết thống hai năm trước nói rằng cô ta không phải con cháu nhà họ Tần. Không ai đuổi cô ta đi. Cũng không ai thật sự đón tôi vào. Tần lão phu nhân nói: “Hai đứa đều là người nhà. Hạ gia chỉ có một hôn ước. Quỹ gia đình cũng chỉ giao một dự án thử sức. Tự chọn đi.” Cả phòng tiệc im xuống. Kiếp trước, Tần Tư Nhu vừa nói không dám giành, tôi đã lập tức cầm nhẫn vì sợ bị xem là không xứng. Lần này, cô ta vẫn hạ mắt đúng lúc. “Tần Vãn Chi mới là con gái ruột của Tần gia. Hôn ước vốn nên thuộc về chị ấy. Cháu chọn Xuân Vũ cũng được.” Tôi suýt bật cười. Câu nói vẫn y hệt, đến nhịp lấy hơi cũng không khác. Nhưng tôi không chạm vào hộp nhẫn. Tôi cầm chùm chìa khóa bên phải lên. Kim loại lạnh cấn vào lòng bàn tay. “Tôi chọn Xuân Vũ.” Có tiếng ai đó làm rơi thìa bạc. Tần Tư Nhu ngẩng phắt lên. Hạ Cảnh Thừa đứng gần cửa sổ cũng quay sang nhìn tôi. Anh ta mặc bộ âu phục xám bạc, vẻ mặt kiềm chế như thể mọi biến động trên đời đều phải xếp lịch trước khi xuất hiện. Tôi đẩy hộp nhẫn về phía Tần Tư Nhu. “Hôn ước với Hạ gia và vị trí ở Thành Nguyệt, tôi nhường cho cô.” Tần Tư Nhu không nhận ngay. “Chị đang giận em sao?” “Không. Tôi chỉ chọn thứ tôi muốn làm.” Hạ Cảnh Thừa bước tới. Anh ta không chạm vào hộp nhẫn, chỉ nhìn thẳng vào tôi. “Cô có hối hận không?” Câu hỏi ấy giống hệt kiếp trước, chỉ đổi người nghe. Khi đó tôi tưởng là quan tâm. Sau này tôi mới hiểu anh ta chỉ muốn chắc đối tác không đổi ý. Tôi đáp: “Nếu có, tôi tự chịu.” Không khí trong phòng chùng xuống. Chẳng ai có được màn tranh giành họ chờ xem. Tần lão phu nhân gõ đầu gậy xuống sàn. “Được. Tần Tư Nhu nhận hôn ước và tham gia điều hành đại lễ một trăm đôi của Thành Nguyệt. Tần Vãn Chi nhận quyền vận hành Xuân Vũ.” Tôi vừa định cất chìa khóa thì bà nói tiếp: “Nhưng nghe cho rõ. Ta không cho cháu rạp hát.” Tôi khựng lại. Tần lão phu nhân ra hiệu cho thư ký đặt một tập giấy xuống bàn. “Quỹ gia đình đang giữ quyền khai thác Xuân Vũ. Cháu chỉ có quyền vận hành tạm thời trong hai mươi mốt ngày. Đến ngày cuối, hội đồng sẽ đánh giá kế hoạch, lượng khán giả và khả năng duy trì. Không đạt, quyền khai thác sẽ được chuyển nhượng.” Trong ký ức cũ của tôi, điều kiện này chưa từng được công bố ở bữa tiệc. Bởi khi ấy Tần Tư Nhu chọn rạp rồi bỏ mặc, hội đồng chỉ âm thầm chờ hết hạn. Tôi hỏi: “Nếu đạt?” “Gia hạn một năm. Vẫn là quyền vận hành, không phải quyền sở hữu.” “Tiêu chí có được ghi rõ không?” Thư ký đưa tôi bản quy tắc. Ba mục chính được in rõ: có chương trình thực tế, có khán giả trả tiền hoặc cam kết sử dụng, có kế hoạch lao động và tài chính không dựa vào trợ cấp vô hạn. Không có kho báu giấu dưới sân khấu. Không có mảnh đất sắp tăng giá. Chỉ có một nơi đang mất dần khán giả và hai mươi mốt ngày để chứng minh nó còn hữu ích. Tôi ký nhận quyền tạm quản. Tần Tư Nhu lúc đó mới cầm hộp nhẫn ngọc trai. “Chị đã chọn rồi,” cô ta nói nhỏ, “sau này đừng trách em.” Tôi siết chùm chìa khóa. “Tôi chỉ sợ mình không chịu trách nhiệm nổi với lựa chọn. Tôi không trách người khác nhận phần còn lại.” Rời tiệc, tôi không quay về căn phòng Tần gia đã chuẩn bị cho mình. Tôi gọi xe đến phố Nam Vũ. Xuân Vũ nằm giữa cửa hàng giấy và quán mì lâu năm. Mặt tiền sơn xanh đã bạc, biển gỗ mất một nét vàng. Tôi tra ba chìa mới mở được cửa, để mùi gỗ cũ và bụi rèm tràn ra. Bên trong có tiếng chổi quét. Một người phụ nữ ngoài năm mươi bước ra từ cánh gà, nhìn tôi từ giày đến chùm chìa khóa. “Cô là người Tần gia cử tới?” “Tôi là Tần Vãn Chi. Tôi được giao vận hành rạp trong hai mươi mốt ngày.” Bà dựng chổi vào tường. “La Mẫn Tú. Quản lý hậu đài. Tôi nói trước, mái không dột, đường điện cũ nhưng còn dùng được, ghế không đẹp nhưng chưa gãy. Thứ hỏng nhất ở đây là lịch diễn.” Bà đưa tôi cuốn sổ đặt trên quầy vé. Hai tháng gần nhất gần như trắng. Một vài buổi tập cộng đồng được ghi bằng bút chì, bên cạnh là dòng hủy vì không đủ người xem. Từ hàng ghế cuối, một cô gái trẻ chui lên, ôm theo chồng giấy cắt hình chim én. “Dì La, cháu tìm thấy rồi.” “Em là Đường Tiểu Mãn. Sinh viên năm nhất. Em học điều khiển rối bóng ở đây.” “Đoàn của em đâu?” Đường Tiểu Mãn chỉ về sân khấu. Sau tấm màn trắng, ánh đèn bật lên. Bóng một con chim én vỗ cánh qua mặt vải, đáp xuống cành liễu. Động tác rất mềm, nhưng dây điều khiển rung nhẹ ở cuối nhịp. Một người đàn ông bước ra, tay cầm thanh gỗ mảnh. Áo sơ mi màu than xắn đến khuỷu, bàn tay có vết chai. Kỷ Hoài Chu. Ở kiếp trước, tôi đã yêu anh theo cách tệ nhất. Tôi muốn anh chờ, nhưng không cho anh một ngày cụ thể. Tôi muốn anh hiểu, nhưng chưa từng nói thật mình sợ điều gì. Đến khi anh rời Lâm Giang, tôi vẫn tự kể rằng anh hết yêu trước. Anh của hiện tại nhìn tôi như nhìn một người mới gặp. “Kỷ Hoài Chu, trưởng đoàn kịch bóng Hoài Thanh.” Tôi phải mất một nhịp mới nói được: “Tần Vãn Chi.” Anh không nhận ra tôi. Ký ức cũ chỉ thuộc về một mình tôi, còn anh không nợ tôi những chuyện chưa xảy ra. La Mẫn Tú mở đèn. Chín mươi sáu chiếc ghế đỏ lộ ra, sạch nhưng trống. Sân khấu nhỏ hơn ký ức vì ngày trước tôi chưa từng thật sự nhìn. Tôi hỏi: “Vì sao đoàn chưa chuyển đi?” Kỷ Hoài Chu đặt con rối chim én vào hộp. “Hợp đồng của chúng tôi còn tám ngày. Tôi muốn diễn hết lịch đã nhận, nhưng ba buổi đều bị hủy vì không đủ vé.” “Tôi có thể giữ đoàn lại.” Anh nhìn tôi. “Tôi sẽ làm kế hoạch mới. Đoàn Hoài Thanh sẽ có sân khấu ổn định.” “Bằng tiền nào?” Tôi im một giây. “Quỹ tạm ứng một khoản vận hành.” “Đủ trả bao nhiêu buổi?” Tôi chưa kịp xem sổ tài chính. Kỷ Hoài Chu đóng nắp hộp rối. “Cô Tần, tôi không giữ đoàn bằng lời hứa. Thành viên của tôi có tiền thuê nhà, học phí, người thân cần chăm sóc. Nếu cô muốn chúng tôi ở lại, hãy đưa hợp đồng rõ số buổi, thù lao, quyền hủy và quyền rời đi.” Kiếp trước, anh cũng từng yêu cầu tôi cho một thời hạn rõ ràng. Tôi đã cho rằng tình yêu mà tính ngày thì không đủ sâu. Bây giờ nghe lại, tôi mới thấy người mơ hồ là mình. “Tối nay tôi sẽ xem toàn bộ sổ sách,” tôi nói. “Sáng mai, tôi đưa hợp đồng. Không có diễn miễn phí để chứng minh lòng trung thành. Nếu nguồn tiền không đủ, số buổi sẽ giảm, không giảm thù lao sau khi chốt.” La Mẫn Tú khoanh tay. “Cả người quét sàn thì sao?” “Cũng tính giờ công.” “Còn học viên?” “Nếu học thì có học phí rõ. Nếu tham gia biểu diễn hoặc hỗ trợ vận hành thì có thù lao, hoặc đổi giờ theo mức công khai. Không gọi lao động là cơ hội để khỏi trả tiền.” Kỷ Hoài Chu kéo một chiếc ghế cho tôi ở bàn hậu đài. “Vậy cô nên bắt đầu từ sổ điện. Xuân Vũ không nghèo vì mái dột. Nó nghèo vì mỗi lần bật đủ đèn, tiền vé của hai hàng ghế đầu đã biến mất.” Đêm đó, chúng tôi kiểm từng khoản đến gần sáng. Quỹ tạm ứng chỉ đủ duy trì ba tuần. Nếu làm chương trình lớn như kiếp trước, tiền sẽ hết sau bốn ngày. Xuân Vũ chỉ có đèn cũ, một máy chiếu hình, ba nhân viên bán thời gian và đoàn Hoài Thanh chưa chắc ở lại. Tôi đã chọn một nơi không có đáp án sẵn. Sáng hôm sau, tôi đưa Kỷ Hoài Chu hợp đồng tám ngày. Trong đó ghi đoàn được quyền nhận việc ngoài, quyền từ chối nội dung, quyền rời khi hết hạn. Nếu tôi muốn gia hạn, hai bên phải ký lại, không mặc nhiên coi sự im lặng là đồng ý. Anh đọc hai lần, dùng bút khoanh một dòng. “Khoản này là gì?” “Không ép đoàn diễn miễn phí, kể cả khi rạp thiếu tiền.” “Tôi hỏi vì nó quá rõ.” “Rõ vẫn nên viết.” Khóe môi anh hơi cong lên. “Được. Nhưng tôi thêm một dòng. Nếu đoàn tự nguyện dành giờ hỗ trợ cộng đồng, từng người phải xác nhận riêng. Trưởng đoàn không được đồng ý thay.” “Tôi chấp nhận.” Chúng tôi cùng ký. Tiếng bút chạy trên giấy khiến tôi yên tâm hơn mọi lời thề. Chúng tôi kê mười hai ghế sát sân khấu và mời khán giả xem thử bốn mươi phút. Giá vé chỉ đủ trả điện và một phần giờ công; người xem được mời ở lại góp ý. La Mẫn Tú nhìn mười hai chiếc ghế rồi nhìn tôi. “Cô định đem con số này đi gặp hội đồng?” “Tôi định biết vì sao người ta không quay lại trước khi mời chín mươi sáu người.” Buổi tối, chỉ bảy ghế có người ngồi. Khán giả gồm bà chủ quán mì, trẻ nhỏ, người giao hàng và một đôi vợ chồng lớn tuổi. Đường Tiểu Mãn nhìn năm ghế trống, mặt xị xuống. Kỷ Hoài Chu đứng sau màn nói vọng ra: “Bảy người vẫn là khán giả. Đừng bắt họ xin lỗi vì người khác không đến.” Đường Tiểu Mãn hít một hơi rồi bật đèn. Con chim én bằng da giấy bay qua vầng trăng, tìm đường về mái hiên đã đổi chủ. Thanh điều khiển đôi lúc chạm nhau, nhưng hai đứa trẻ hàng đầu vẫn nín thở. Sau phần diễn, tôi cầm sổ bước lên. Tôi đã chuẩn bị một bài trình bày dài, nhưng bà chủ quán mì giơ tay trước. “Cô có thể cho trẻ con ngồi đệm ở hàng đầu không? Ghế sâu quá, chúng nó không thấy.” Người giao hàng nói: “Suất bảy giờ tôi không đến kịp. Tám giờ thì được.” Người mẹ hỏi: “Có thể ghi rõ buổi nào phù hợp trẻ nhỏ không? Con tôi sợ tiếng trống lớn.” Tôi khép bài trình bày lại. “Còn giá vé?” Đôi vợ chồng lớn tuổi không biết mua ở đâu vì quầy vé thường đóng. Tấm biển ngoài cửa cũng khiến người ta tưởng rạp đã nghỉ. Bảy người góp ý gần một giờ. Không ai bỏ về. Cuối buổi, bà chủ quán mì đặt tiền mua trước hai vé cho tối hôm sau. “Miễn là cô sửa cái biển sáng lên. Khách ăn mì cứ hỏi bên này còn mở không, tôi cũng chẳng biết trả lời.” Khi ghi hai tấm vé vào sổ, tôi nhận được câu trả lời đầu tiên không đến từ kiếp trước. Tôi không cần nói cho mọi người biết sân khấu đáng quý đến đâu. Tôi cần nghe xem họ có thể bước vào bằng cách nào. Ngày thứ ba, chúng tôi hạ hai hàng ghế đầu, thay bằng đệm ngồi mượn từ lớp sinh hoạt khu phố. La Mẫn Tú sơn lại biển giờ mở cửa. Đường Tiểu Mãn viết lịch diễn bằng chữ lớn, tránh những lời quảng cáo hoa mỹ. Kỷ Hoài Chu rút ngắn đoạn trống mở màn để trẻ con không giật mình. Mười hai ghế của buổi thứ hai kín hết. Khi ánh đèn tắt, Kỷ Hoài Chu đứng cạnh tôi sau cánh gà. Anh nói rất khẽ: “Cô Tần, hôm qua cô đã không đọc bài chuẩn bị.” “Tôi nghe thấy họ cần thứ khác.” “Người của Tần gia thường thích nói cho đủ rồi mới cho người khác được lên tiếng.” “Tôi cũng từng như vậy.” Anh nhìn tôi một thoáng, nhưng không hỏi từng là khi nào. Ngoài màn, con chim én lại cất cánh. Lần này, nó không còn bay vào một khán phòng trống. Sáng ngày thứ tư, tôi bắt đầu tin rằng ký ức kiếp trước vẫn có thể giúp mình đi nhanh hơn. Trong kiếp trước, đúng tuần này, một hãng trà thảo mộc từng tìm đến Thành Nguyệt để tài trợ chương trình văn hóa. Khi ấy tôi đã từ chối họ. Tôi nhớ người phụ trách thích những câu chuyện khiến người trẻ chịu ngồi lại, nên mang số liệu hai buổi diễn đến gặp bà bên bờ sông Thanh Lăng. Nhưng bà chỉ xem đề nghị rồi nói: “Sáng nay chúng tôi đã ký với Thành Nguyệt. Cô Tần Tư Nhu liên hệ từ ba ngày trước.” Ba ngày trước chính là ngày tôi chọn Xuân Vũ. Ở kiếp trước, Tần Tư Nhu không điều hành Thành Nguyệt, nhà tài trợ cũng chưa xuất hiện sớm như vậy. Tôi rời quán trà với tập giấy nguyên vẹn. Một mốc tương lai vừa vỡ vì chính lựa chọn mới của tôi. Kỷ Hoài Chu đang chờ tôi ở rạp với bảng chi phí cho tuần kế tiếp. Vừa nhìn mặt tôi, anh đã khép bảng lại. “Không được?” “Họ ký với Thành Nguyệt rồi.” “Vậy tìm nguồn khác.” Tôi đặt tài liệu lên quầy vé hơi mạnh. “Đáng lẽ họ chưa ký. Đáng lẽ tuần sau họ mới bắt đầu tìm chương trình.” Anh nhìn tôi lâu hơn bình thường. “Cô biết chữ đáng lẽ từ đâu?” Tôi không thể nói mình đã sống qua những ngày này một lần. Ít nhất, tôi chưa biết nói thế nào để không biến anh thành một nhân vật trong lời kể của riêng mình. “Tôi đã dự đoán sai.” “Dự đoán sai thì sửa kế hoạch. Đừng sửa sự thật để kế hoạch trông đúng.” Câu nói chạm đúng chỗ khiến tôi đau nhất. Tôi hít sâu, mở bảng chi phí anh mang tới. “Không có tài trợ, chúng ta duy trì được bao lâu?” “Mười ba ngày nếu không dựng chương trình lớn.” “Còn nếu mỗi tối đều có một phép thử nhỏ?” “Phải tính lại.” Chúng tôi chưa kịp tính thì Đường Tiểu Mãn chạy từ ngoài vào, trên tay cầm một tờ thông báo vừa được gửi đến hòm thư của rạp. “Chị Tần Vãn Chi, ngày đánh giá có vấn đề.” Tôi đọc dòng đầu, lòng bàn tay lạnh đi. Cung cưới Thành Nguyệt chuyển đại lễ một trăm đôi sang đúng ngày thứ hai mươi mốt. Lý do được công bố là muốn kết hợp lễ thử nghiệm với tuần văn hóa thành phố. Tần Tư Nhu sẽ dẫn chương trình và phụ trách truyền thông. Bên dưới còn một danh sách đối tác biểu diễn. Ba gương mặt chủ lực tôi từng dự định mời cho đêm đánh giá đều đã ký độc quyền với Thành Nguyệt trong cả tuần cuối. Ở kiếp trước, đại lễ diễn ra muộn hơn mười ngày. Ba nghệ sĩ ấy cũng chưa từng ký độc quyền. Đường Tiểu Mãn hỏi: “Độc quyền nghĩa là họ không được diễn ở chỗ khác ạ?” Kỷ Hoài Chu cầm thông báo, đọc kỹ rồi đáp: “Trong thời gian ghi ở đây, đúng vậy.” La Mẫn Tú từ hậu đài bước ra. “Thành Nguyệt chứa được hơn một nghìn người. Cùng ngày, ai còn sang rạp chín mươi sáu ghế này?” Tôi chỉ nhớ lựa chọn và hậu quả của con đường cũ trước tai nạn, không thể biết phản ứng mới của bất kỳ ai. Cơ hội trọng sinh cũng chỉ xảy ra một lần. Tương lai của tôi đã hết hạn. Kỷ Hoài Chu đặt tờ thông báo xuống. “Cô đang sợ điều gì nhất?” “Tôi sợ mình chỉ giỏi trả lời một đề đã biết đáp án.” “Vậy tốt.” Tôi ngẩng lên. Anh kéo cuốn lịch trống về giữa bàn. “Bây giờ cô buộc phải nhìn câu hỏi thật.” Tôi bật cười khô khốc. “Anh an ủi người khác luôn khó nghe thế sao?” “Tôi không an ủi. Tôi đang hỏi quản lý rạp muốn làm gì.” Kế hoạch dựa trên ký ức cũ đã chết. Nhưng bảy khán giả đầu tiên và mười hai ghế kín tối qua đều là hiện tại. Tôi lấy bút, gạch một đường qua tên ba nghệ sĩ. “Không sao chép chương trình cũ nữa.” La Mẫn Tú hỏi: “Thế làm gì?” “Mỗi tối thử một cách dùng sân khấu. Kịch bóng, kịch đọc, kể chuyện phố, sân khấu mở. Không chờ có một chương trình hoàn hảo mới mở cửa.” “Vé bán thế nào?” “Trả bằng tiền, hoặc bằng giờ hỗ trợ được định giá công khai. Ai không có tiền có thể giúp xếp ghế, vẽ biển, kiểm vé, nhưng từng công việc phải có giới hạn và quy đổi rõ. Không đổi kiểu ai nhiệt tình thì làm đến kiệt sức.” La Mẫn Tú gõ ngón tay lên bàn. “Giờ hỗ trợ không được thay vị trí chuyên môn.” “Đúng. Không ai đổi hai giờ quét sân lấy quyền leo lên sửa điện.” Đường Tiểu Mãn giơ tay như đang trong lớp. “Em có thể quay một đoạn giới thiệu mỗi phép thử không?” “Có. Nhưng xin phép người xuất hiện trước khi đăng.” Kỷ Hoài Chu hỏi: “Mục tiêu cuối cùng?” Tôi viết lên đầu trang bốn chữ: Ai cần sân khấu? “Không chứng minh chúng ta dựng được một đêm thật đẹp. Chứng minh có đủ người cần Xuân Vũ vào nhiều ngày khác nhau.” Ba tối kế tiếp lần lượt là kịch bóng, kịch đọc và sân khấu kể chuyện phố Nam Vũ. Có tối bán ba mươi vé, có tối mưa chỉ còn mười một người. Đổi lại, chúng tôi nhận được đề nghị mở suất muộn cho người làm ca, lịch cuối tuần cho trẻ nhỏ và buổi chiều cho trường học. Hai sinh viên còn đổi bốn giờ vẽ bảng chỉ đường lấy vé tháng. Mọi khoản tiền và giờ hỗ trợ đều được ghi công khai ở tiền sảnh. Những con số chưa đẹp, nhưng không còn mơ hồ. Ngày thứ bảy, Kỷ Hoài Chu dựng một hộp ánh sáng mới để tiết kiệm điện. Đó là chiếc khung gỗ đặt quanh nguồn sáng, giúp gom ánh sáng lên màn mà không phải bật cả dàn đèn. Tôi giữ hai thanh gỗ trong khi anh bắt bản lề. “Cao bên trái một chút,” anh nói. Tôi nâng tay. Khung lập tức lệch sang phải. “Đó là bên trái của tôi.” “Tôi đang đứng đối diện anh.” “Vậy chúng ta cần thống nhất trái của ai trước khi cái hộp rơi.” Tôi không nhịn được cười. “Trưởng đoàn Kỷ, anh nên ghi điều này vào hợp đồng.” “Lần gia hạn tới tôi sẽ thêm.” Hai chữ gia hạn khiến tôi im đi một nhịp. Anh nói như thể đoàn thật sự có thể còn ở đây sau tám ngày. Tôi đổi vị trí, nhưng bàn tay vẫn đặt sai góc. Kỷ Hoài Chu giơ tay lên rồi dừng cách cổ tay tôi một khoảng. “Tôi chỉnh tay cô được không?” Trong ký ức cũ, tôi từng nhận sự chăm sóc của đôi tay ấy như một thứ luôn có sẵn. Hiện tại, anh đang chờ. “Được.” Kỷ Hoài Chu chỉ chạm vào cổ tay áo, xoay tay tôi để thanh gỗ nằm ngang. “Giữ thế này.” Ký ức cũ bất ngờ kéo tới quá gần. Tôi lùi nửa bước. Anh thả tay ngay. “Có đau không?” “Không. Tôi chỉ cần một chút khoảng cách.” “Được.” Anh không hỏi vì sao, chỉ chuyển sang giữ thanh gỗ để tôi bắt vít. Đến lượt mình, tôi nói: “Nếu tôi làm sai, anh cứ bảo dừng.” “Cô đang nói cái hộp hay chuyện khác?” “Cả hai.” Anh nhìn tôi, ánh mắt dịu đi. “Vậy cô siết con vít cuối cùng đi.” Hộp ánh sáng hoàn thành vào nửa đêm. Khi bật thử, một ô sáng ấm áp hiện lên giữa màn trắng, rõ hơn trước mà chỉ cần một phần điện. Đường Tiểu Mãn đặt con rối chim én vào đó. Bóng chim dang cánh, mép lông sắc nét. Cô bé reo lên: “Chúng ta vừa làm trăng sáng hơn mà tốn ít tiền hơn.” La Mẫn Tú từ xa đáp: “Đấy gọi là làm nghề, không phải phép màu.” Tôi không cần phép màu thứ hai. Tôi cần những người biết làm nghề và có quyền nói dừng. Ngày thứ tám, hợp đồng của đoàn Hoài Thanh hết hạn. Kỷ Hoài Chu đặt trước mặt tôi bản gia hạn do chính anh soạn. Bảy ngày, bốn buổi diễn chính, hai buổi hướng dẫn, thù lao không đổi. Đoàn giữ quyền nhận việc ngoài. Tôi đọc đến cuối, thấy một dòng mới. Hai bên phải dành ít nhất nửa ngày mỗi tuần không xếp việc chung, trừ tình huống an toàn khẩn cấp. Tôi hỏi: “Điều khoản này để làm gì?” “Ngăn quản lý rạp và trưởng đoàn cùng phát điên.” “Có hiệu quả không?” “Chưa biết. Phải thử.” Tôi ký tên. Phần thưởng đầu tiên của Xuân Vũ không phải nhà tài trợ lớn, mà là một đoàn nghệ thuật tự nguyện gia hạn vì hợp đồng cho họ quyền rời đi. Đêm hôm đó, Đường Tiểu Mãn đăng một đoạn ghi hình dài chưa tới một phút. Cô bé quay hộp ánh sáng tự làm, bóng chim én bay qua bàn tay nhăn nheo của bà chủ quán mì, rồi lia sang bảng ngân sách ở tiền sảnh. Câu cuối là giọng cô bé: “Rạp cũ không xin bạn cứu. Rạp hỏi bạn muốn dùng nó làm gì.” Sáng hôm sau, điện thoại của tôi rung không ngừng. Đoạn ghi hình được chia sẻ khắp Lâm Giang. Người ta hỏi cách mua vé, cách đăng ký kể chuyện, cách đưa lớp học đến xem. Toàn bộ chín mươi sáu ghế của ba buổi kế tiếp kín trong hai giờ. Đường Tiểu Mãn vừa cười vừa khóc. La Mẫn Tú bắt cô bé ngồi xuống uống nước. Tôi đứng trước bảng đặt chỗ, tim đập mạnh đến mức tưởng mình lại đang trong phòng tiệc Tần gia. Lần này, người ta chọn Xuân Vũ. Nhưng đến trưa, một luồng bình luận khác xuất hiện. Một tài khoản đăng ảnh cũ của rạp, kèm câu hỏi vì sao thiên kim thật của Tần gia đột nhiên quan tâm di sản đúng lúc em gái chuẩn bị đại lễ. Những người khác nói tôi dùng một sân khấu nghèo để dựng hình ảnh đối đầu. Có người cho rằng bảy khán giả đầu tiên là diễn viên được thuê. Có người hỏi tiền hỗ trợ đổi vé có phải cách bóc lột người trẻ hay không. Tôi biết xóa bình luận không làm câu hỏi biến mất. Họ không hoàn toàn vô lý. Tôi đã chọn Xuân Vũ công khai và bước vào đây với sự tự tin của người biết trước kết quả. Kỷ Hoài Chu đưa điện thoại cho tôi. “Cô muốn phản hồi thế nào?” “Tôi có thể đăng giấy giao quyền tạm thời và bảng chi phí.” “Chỉ bảng chi phí chưa trả lời được ai đang quyết định.” Nếu tôi chỉ công khai tiền, Xuân Vũ vẫn là sân khấu do tôi chọn thay người khác. Tối ấy, trước chín mươi sáu khán giả kín ghế, tôi bước lên sân khấu. Không có bài diễn văn. Tôi chỉ cầm ba tờ giấy. “Tôi là Tần Vãn Chi. Tôi đang giữ quyền vận hành Xuân Vũ trong hai mươi mốt ngày. Quyền này có thời hạn và không phải quyền sở hữu.” Khán phòng im lặng. “Tôi chọn rạp trong một cuộc phân chia của Tần gia. Vì vậy, nghi ngờ tôi dùng nơi này để đấu gia đình là có lý do.” Tôi giơ tờ thứ nhất. “Đây là khoản quỹ tạm ứng, chi phí điện, tiền công và tiền vé đến hôm nay. Tất cả sẽ được công khai.” Tờ thứ hai là quy tắc đổi giờ hỗ trợ. Tôi nói rõ công việc nào được đổi, giới hạn bao nhiêu giờ, việc chuyên môn nào không được phép thay bằng tình nguyện. Tờ thứ ba mới là điều khiến chính tôi hồi hộp. “Người mua vé hoặc đổi giờ hỗ trợ có thể đề xuất lịch dùng sân khấu. Đủ mười người ủng hộ, chúng tôi phải trả lời công khai. Thành viên trả trước được biểu quyết một phần lịch tháng đầu. Tôi quản lý, nhưng không có quyền coi mọi người là phông nền.” Một người ở hàng giữa hỏi: “Nếu đề xuất của chúng tôi khác ý cô?” “Chúng ta bỏ phiếu trong phần lịch thành viên. An toàn và thù lao vẫn theo quy tắc nghề. Nếu từ chối, tôi phải giải thích.” Một phụ nữ trẻ hỏi: “Nếu rạp không được gia hạn thì tiền trả trước thế nào?” “Được hoàn lại theo phần chưa dùng. Điều này sẽ ghi trong thỏa thuận, không chỉ nói miệng.” Sau buổi diễn, mười bảy người đăng ký xem ngân sách. Chín người ghi đề xuất, gồm lịch giá thấp của cư dân và tối thử tác phẩm của nghệ sĩ trẻ. Số người theo dõi đoạn ghi hình tiếp tục tăng, nhưng thứ giữ tôi đứng vững không còn là con số ấy. Đó là một tờ giấy kín nét chữ khác nhau. Điểm giữa của hai mươi mốt ngày không cho tôi một chiến thắng hoàn hảo. Nó lấy quyền kể câu chuyện một mình khỏi tay tôi. Và kỳ lạ thay, đó lại là lần đầu tiên tôi thấy Xuân Vũ thật sự có cơ hội thuộc về cộng đồng, dù không thuộc sở hữu của bất kỳ ai. Tối ngày thứ mười một, sau khi người cuối cùng rời rạp, Kỷ Hoài Chu tìm thấy tôi ngồi một mình bên bậc sân khấu. Anh đặt hai cốc nước ấm xuống. “Cô chưa ăn tối.” “Tôi ăn hai cái bánh Đường Tiểu Mãn mua.” “Đó là bữa trưa.” “Tôi sống theo giờ của rạp.” “Rạp không có dạ dày. Cô có.” Tôi nhận cốc nước. Anh ngồi cách tôi một cánh tay, đủ gần để trò chuyện, đủ xa để tôi không thấy bị vây. Sự kiên nhẫn không hỏi của anh làm lời nói dối nửa vời trong tôi nặng hơn. Tôi hỏi: “Anh có từng cảm thấy một người đang nhìn anh như thể đã biết anh từ lâu không?” “Có.” Tôi quay sang. “Suốt tuần nay,” anh nói. Tôi bật cười, rồi tiếng cười tự tắt. “Nếu tôi kể một chuyện rất vô lý, anh có quyền không tin.” “Cô kể đi. Tôi quyết định sau.” “Tôi đã sống qua những ngày này một lần.” Tôi kể mình từng chọn hôn ước, điều hành Thành Nguyệt, bỏ mặc Xuân Vũ và giữ Kỷ Hoài Chu trong lời hứa không ngày kết thúc. Tôi không đổ lỗi cho ai. Anh không ngắt lời. Chỉ khi tôi nhắc đến tai nạn cuối kiếp trước, bàn tay anh siết quanh cốc nước. “Tôi tỉnh lại ở bữa tiệc. Tôi nhớ kiếp trước, nhưng không đọc được suy nghĩ và không biết tương lai mới.” “Chuyện này chỉ xảy ra một lần?” “Đúng. Tôi không thể chủ động quay lại. Nếu thất bại lần này, tôi phải sống với nó.” Anh im lặng rất lâu. “Anh có thể rời kế hoạch nếu không muốn làm việc với một người nói như đang mê sảng.” “Cô vừa kể bí mật hay đang đưa tôi thêm một lý do để rời đi?” Tôi nghẹn lại. Kỷ Hoài Chu đặt cốc xuống. “Tôi chưa biết có tin toàn bộ không. Nhưng tôi tin cô đang nói điều cô cho là thật.” Tôi quay sang anh. “Ở nơi đó, anh đã rời Lâm Giang.” “Vì sao?” “Tôi nghĩ vì anh hết yêu.” “Còn cô đã làm gì trước khi tôi đi?” “Anh nhận lời mời lưu diễn và hỏi tôi về lịch năm sau. Tôi bảo anh chờ qua đại lễ, rồi lại chờ đến khi vị trí của tôi ở Hạ gia ổn định.” “Bao lâu?” “Tôi không nói.” “Cô có hỏi đoàn của tôi mất gì khi chờ không?” “Không.” “Cô có hứa mình sẽ chọn anh vào một ngày cụ thể không?” Tôi lắc đầu. Anh thở ra chậm. “Nếu người trong câu chuyện đó là tôi, có lẽ tôi không rời vì hết yêu.” Tim tôi đập mạnh. “Vậy vì sao?” “Vì cô bắt tôi chờ vô thời hạn và coi sự hy sinh là bằng chứng đương nhiên của tình yêu. Người ta có thể yêu mà vẫn phải rời đi, nếu ở lại đồng nghĩa không còn quyền chọn cuộc đời.” Từng lời đều đau, nhưng không cho tôi trốn sau ý nghĩ mình bị bỏ rơi. “Tôi đã biến sự hy sinh của anh thành nghĩa vụ,” tôi nói. “Cô của hiện tại đang viết quyền rời đi vào hợp đồng.” “Không xóa được chuyện cũ.” “Chuyện cũ của cô là ký ức. Với tôi, nó chưa xảy ra.” Tôi nhìn anh. “Đừng dùng tôi làm phần thưởng bù cho cô khi ấy. Nếu chúng ta tiến gần hơn, phải bắt đầu từ lựa chọn hiện tại.” Tôi gật đầu. Mắt cay lên, nhưng tôi không khóc để anh phải an ủi. “Tôi xin lỗi người anh trong ký ức của tôi. Còn với anh hiện tại, tôi sẽ không xin được tha thứ cho việc anh chưa trải qua.” “Thế là đủ.” Tôi đặt cốc xuống. “Tôi có thể hỏi một chuyện hiện tại không?” “Cô hỏi đi.” “Anh ở lại Xuân Vũ vì hợp đồng, hay vì tôi?” Anh nghĩ một lát. “Hôm đầu vì hợp đồng. Hôm nay vì sân khấu này đáng thử, và vì cô biết lùi lại khi người khác nói cần khoảng cách.” “Đó chưa phải câu trả lời lãng mạn.” “Cô đang cần lãng mạn hay cần thật?” “Tối nay, cần thật.” “Vậy đừng bắt tôi nói nhanh hơn điều tôi biết.” Tôi mỉm cười. “Được.” Chúng tôi ngồi hết cốc nước. Không ai hứa chờ ai. Khi đứng dậy, tôi chủ động chìa tay. “Ngày mai tiếp tục làm đồng đội?” Kỷ Hoài Chu nhìn tay tôi rồi nắm lấy. “Ngày mai.” Cái bắt tay kéo dài một nhịp. Lần đầu trong hai kiếp, tôi gặp anh ở cùng một thời điểm. Sáng ngày thứ mười hai, Hạ Cảnh Thừa đến Xuân Vũ. Anh ta bước qua tiền sảnh đang đầy giấy đề xuất, cẩn thận tránh hai thùng màu của nhóm sinh viên. Bộ âu phục xám bạc khiến anh ta giống một đường thẳng lạc vào căn phòng toàn nét vẽ. Tôi mời anh ta ngồi ở hàng ghế đầu. Anh ta không vòng vo. “Thành Nguyệt muốn mua lịch biểu diễn tuần cuối của Xuân Vũ.” “Mua lịch nghĩa là gì?” “Các nghệ sĩ đã đăng ký ở đây sẽ chuyển sang biểu diễn cho đại lễ. Chúng tôi trả phí cao gấp ba. Xuân Vũ có thể ghi mình là đơn vị hợp tác và nhận phần doanh thu.” “Đổi lại, tuần đánh giá của chúng tôi không còn chương trình.” “Cô có thể dùng số tiền đó làm bằng chứng tài chính. Hội đồng không yêu cầu cô phải tự tổ chức mọi buổi.” Tôi nghe ra logic quen thuộc. Hạ Cảnh Thừa không giấu bẫy. Anh ta đưa một giao dịch rõ ràng, có lợi cho mục tiêu của anh ta. Điều sai nằm ở chỗ anh ta mặc nhiên cho rằng tôi có quyền bán lịch của tất cả nghệ sĩ. “Tôi không bán độc quyền lịch Xuân Vũ,” tôi nói. “Nhưng từng nghệ sĩ có quyền nhận hợp đồng riêng nếu họ muốn.” Hạ Cảnh Thừa hơi cau mày. “Cô là người vận hành. Cô không thể quyết định thay họ sao?” “Không.” “Nếu cô để họ tự chọn, chương trình của cô có thể mất người.” “Tôi biết.” “Vậy cô đang đặt nguyên tắc cao hơn kết quả.” “Tôi đang coi người làm chương trình là con người. Kết quả không thể xây bằng cách khóa chân họ.” Anh ta nhìn lên sân khấu, nơi Kỷ Hoài Chu đang kiểm tra tấm màn. “Cô thay đổi rất nhiều.” “Tôi chỉ ngừng gọi sự mơ hồ là tình nghĩa.” Hạ Cảnh Thừa đặt một xấp thư mời lên ghế. Mỗi thư ghi rõ thời gian, thù lao và quyền từ chối. Có lẽ anh ta đã đoán tôi sẽ yêu cầu hình thức này. “Tôi không ép ai,” anh ta nói. “Cô phát giúp. Họ trả lời trước tối mai.” “Được.” Trước khi rời đi, anh ta dừng ở cửa. “Tần Tư Nhu cho rằng cô sẽ nói tôi đến cướp người.” “Tôi sẽ nói anh đưa đề nghị lương cao. Phần còn lại để họ tự quyết.” “Cô không sợ thua sao?” “Tôi sợ. Nhưng nếu chỉ thắng được khi người khác không có quyền rời đi, đó không phải nơi tôi muốn giữ.” Chiều ấy, tôi đọc đề nghị của Thành Nguyệt cho toàn bộ nghệ sĩ, phát từng thư rồi rời khỏi phòng để họ thảo luận riêng. Trong lúc chờ, La Mẫn Tú bắt tôi lập ba lịch dự phòng, từ mất hai người đến mất toàn bộ nhóm khách mời. Tối hôm sau, bảy trong số mười bốn người chọn hợp đồng với Thành Nguyệt. Một nửa. Trong đó có ba diễn viên kịch đọc, một người chơi nhạc, hai nghệ sĩ kể chuyện và người thiết kế cảnh lớn mà tôi đã đặt cọc. Họ không phản bội tôi. Mức thù lao bên kia đủ trả vài tháng tiền nhà. Một nữ diễn viên còn xin lỗi vì mẹ cô cần khoản tiền đó để sửa căn hộ. Tôi trả lại cô lá thư xin lỗi. “Chị không cần xin lỗi. Chỉ cần bàn giao phần đang làm đúng thời hạn.” Cô nhìn tôi như không tin mình được phép đi nhẹ nhàng như vậy. Kỷ Hoài Chu và toàn bộ đoàn Hoài Thanh ở lại, nhưng chương trình lớn dự kiến cho đêm cuối không còn khả thi. Bản dựng cần ít nhất mười hai người trên sân khấu, giờ chỉ còn bảy. Tôi đứng trước tấm sơ đồ cảnh suốt một giờ. Những mũi tên màu đỏ chỉ vị trí diễn viên giờ giống những chiếc ghế bị rút khỏi bàn. Đường Tiểu Mãn nói rất nhỏ: “Hay mình đăng bài nói Thành Nguyệt giành người?” “Không. Họ đưa hợp đồng rõ, mọi người tự chọn.” “Nhưng họ cố ý làm mình thiếu người.” “Đúng. Và nếu mình biến người đã đi thành kẻ xấu, quyền lựa chọn chỉ tồn tại khi họ chọn phía mình.” Cô bé cắn môi. “Em hiểu. Nhưng em vẫn tức.” “Chị cũng vậy.” Đó là mất mát thật. Không có câu nói đẹp nào dựng lại được đại cảnh. Tiền đặt cọc cho thiết kế đã chi. Ba buổi tập đã dùng. Một nửa đoàn rời đi đồng nghĩa mọi người ở lại phải bỏ gần hết công sức cũ. Tôi cho cả đội nghỉ tối đó, đúng điều khoản. Khi tôi vẫn ngồi tự trách trong khán phòng, Kỷ Hoài Chu nói: “Làm đúng vẫn có thể mất. Nếu nguyên tắc luôn được thưởng ngay, nó chỉ là một cách đầu tư.” Rồi anh mời tôi sang quán bên cạnh ăn mì. Bà chủ quán tặng thêm đĩa rau, nhưng nói rõ đổi lại tháng sau Xuân Vũ dành cho phố một tối kể chuyện. Một sự chăm sóc có giới hạn và ngày thực hiện cụ thể. Không ai biến ân tình thành món nợ vô hạn. Ngày thứ mười bốn, tôi đến Thành Nguyệt để xác nhận bàn giao các nghệ sĩ đã chuyển lịch. Tần Tư Nhu đang tập dẫn chương trình trên sân khấu chính. Cung cưới có trần cao, đèn treo như một dòng sông thủy tinh. Một trăm cặp đôi thử nghiệm sẽ đi qua hai lối, cùng đọc lời cam kết rồi chụp ảnh ở khu văn hóa. Mỗi bước đều được đánh dấu trên sàn. Tần Tư Nhu mặc váy đỏ, tay cầm kịch bản dày. Thấy tôi đến ký bàn giao bảy nghệ sĩ thay vì tố cáo bị giành người, nụ cười của cô ta hơi cứng lại. Hạ Cảnh Thừa bước từ khu điều khiển xuống. Anh ta đưa tôi bảng xác nhận thù lao và giờ tập. Mọi con số đều rõ. Tôi hỏi: “Ai phụ trách xử lý nếu các cặp đôi đổi giờ?” Anh ta đáp: “Bộ phận vận hành.” “Tần Tư Nhu có tham gia không?” Tần Tư Nhu lập tức nói: “Tôi phụ trách hình ảnh và dẫn chính. Tôi không phải nhân viên xếp lịch.” Hạ Cảnh Thừa quay sang cô ta. “Cô là người đề nghị chuyển đại lễ lên sớm và cam kết sức ảnh hưởng sẽ kéo đủ đăng ký. Việc thay đổi lịch truyền thông thuộc trách nhiệm của cô.” “Tôi chịu trách nhiệm truyền thông, không chịu mọi lỗi vận hành.” “Nhưng vị trí cô dâu đại diện đi cùng quyền quyết định chương trình.” “Quyền quyết định không có nghĩa tôi phải ngồi xử lý từng cặp đến muộn.” Tôi đứng giữa họ, bỗng nhìn thấy toàn bộ gói hôn ước rõ hơn bao giờ hết. Không có điều khoản bí mật. Trước bữa tiệc, Hạ gia đã gửi bản mô tả đại lễ, phạm vi đại diện và trách nhiệm phối hợp. Hạ Cảnh Thừa cần một người có sức ảnh hưởng để kéo truyền thông và đứng cạnh anh ta như biểu tượng kế nhiệm. Tần Tư Nhu cần nhẫn đính hôn để chứng minh mình vẫn là cô con gái được chọn. Cả hai đều đọc tài liệu. Cả hai đều biết đại lễ có mục tiêu một trăm đôi, chỉ số truyền thông và trách nhiệm vận hành. Không ai lừa ai bằng chữ nhỏ giấu kín. Họ chỉ tự nhìn phần mình muốn. Tần Tư Nhu nhìn thấy danh phận, bỏ qua công việc. Hạ Cảnh Thừa nhìn thấy một người dẫn chương trình, bỏ qua cảm xúc và quyền giới hạn của cô ta. Hôn ước không phải kho báu, cũng không phải cái bẫy. Nó là một cam kết giữa hai người đang dùng nhau như công cụ. Hạ Cảnh Thừa hạ giọng vì để tôi nghe chuyện nội bộ. Tôi đặt giấy bàn giao xuống, chỉ bảo hai người nên nói rõ mình muốn gì trước ngày đại lễ. Tần Tư Nhu khẳng định họ đã biết rõ. Tôi không khuyên cô ta bỏ hôn ước. Đó phải là lựa chọn của họ, không phải kết luận tôi trao như một hình phạt. Trước khi đi, tôi nghe Hạ Cảnh Thừa hỏi Tần Tư Nhu có thể dành buổi chiều kiểm lại danh sách các cặp đôi hay không. Cô ta đáp mình có buổi ghi hình đã ký từ trước. Họ vẫn tiếp tục, không phải vì hạnh phúc, mà vì cả hai đều sợ người ngoài thấy mình chọn sai. Tôi hiểu nỗi sợ ấy. Kiếp trước, nó đã giữ tôi ở Thành Nguyệt lâu hơn tình yêu rất nhiều. Ngày thứ mười sáu, thư ký của hội đồng đến Xuân Vũ kiểm tra giữa kỳ. Ông xem khán phòng kín ghế, bảng đề xuất và các hợp đồng lao động. Tôi tưởng phần khó nhất đã qua, cho đến khi ông mở bảng tiêu chí chi tiết. “Lượng khán giả đạt. Kế hoạch sử dụng có tiến triển. Nhưng khả năng tài chính chưa đủ.” Tôi chỉ vào số thành viên đăng ký. “Chúng tôi có bốn mươi ba người cam kết mua thẻ nếu được gia hạn.” “Cam kết chưa phải tiền. Doanh thu vé hiện tại chỉ đủ trả hoạt động trong ba tuần, chưa tạo được quỹ dự phòng cho một năm.” “Không rạp nhỏ nào tạo đủ tiền một năm trong hai mươi mốt ngày.” “Hội đồng không yêu cầu đủ một năm. Họ yêu cầu bằng chứng mô hình có thể duy trì. Đêm đánh giá phải cho thấy nguồn thu và lịch sử dụng đã chốt.” “Tiêu chí ban đầu chỉ nói có kế hoạch tài chính không dựa vào trợ cấp vô hạn.” “Đúng. Kế hoạch của cô hiện phụ thuộc quá nhiều vào vé từng buổi. Nếu khán giả giảm sau đợt chú ý này, rạp trở lại điểm cũ.” Ông không sai. Đoạn ghi hình nổi tiếng đã kéo người đến, nhưng chưa chứng minh họ sẽ quay lại. Buổi chiều, Tần lão phu nhân gọi tôi về nhà chính. Bà ngồi trong phòng trà, trước mặt là báo cáo giữa kỳ. Không có Tần Tư Nhu, không có người xem. Chỉ có bà và tôi. “Cháu đã làm tốt hơn ta dự đoán,” bà nói. “Nhưng chưa đủ.” “Chưa đủ tiền.” Bà đẩy một tập giấy về phía tôi. Quỹ gia đình sẽ bảo đảm chi phí sáu tháng cho Xuân Vũ. Đổi lại, tôi phải trở về đảm nhiệm vai trò đại diện cho quỹ, tham dự các sự kiện gia đình và công khai xin lỗi vì đã khiến cuộc phân chia hôn ước bị hiểu thành tranh chấp. Tôi đọc từng dòng. Điều kiện đều hiện rõ. Không ai lừa tôi. Tần lão phu nhân nói: “Cháu chỉ cần thừa nhận lựa chọn ở bữa tiệc là bồng bột. Gia đình sẽ cứu rạp.” “Bà muốn cháu xin lỗi ai?” “Tần Tư Nhu, Hạ gia và công chúng.” “Vì đã chọn Xuân Vũ?” “Vì cách cháu chọn khiến người khác nghĩ Tần gia ép hai đứa tranh nhau.” “Nhưng bà đã đặt hai phần thưởng trước mặt chúng cháu và bảo tự chọn.” Đầu gậy của bà chạm nhẹ xuống sàn. “Cạnh tranh làm lộ năng lực. Cháu đã chứng minh mình có năng lực. Bây giờ quay về vị trí của cháu.” “Vị trí nào?” “Con gái Tần gia.” Tôi từng thèm ba chữ ấy đến mức sẵn sàng mặc bất cứ bộ quần áo nào họ đưa, đứng cạnh bất cứ người nào họ chọn, làm bất cứ dự án nào để được công nhận. Bây giờ, tôi hỏi: “Nếu là con gái, cháu có quyền nói không không?” “Người trong gia đình phải hiểu trách nhiệm.” “Trách nhiệm hay điều kiện để được nhận?” Bà im lặng. Tôi khép tập giấy lại. Sáu tháng bảo đảm đủ để giải quyết mọi con số trước mắt. Chỉ cần ký, tôi có thể giữ đoàn, giữ rạp, giữ những lời hứa với cộng đồng. Cái giá là thừa nhận lựa chọn của mình là sai và đặt tên Xuân Vũ dưới một cuộc thi con gái ngoan khác. Tần lão phu nhân nói chậm rãi: “Cháu từ chối, rạp có thể mất sau năm ngày.” “Cháu biết.” “Những người ở đó cũng mất việc.” Câu này đánh trúng tôi. Tôi không thể lấy sự kiêu hãnh của mình làm cái giá người khác phải trả. Nhưng nếu nhận tiền mà không nói thật với họ, tôi lại quyết định thay tất cả. Tôi đứng dậy. “Cháu chưa ký. Cháu sẽ đưa lựa chọn này về cho đội.” “Đây là điều kiện dành cho cháu, không phải cho họ.” “Nhưng hậu quả thuộc về họ. Họ có quyền biết.” Tần lão phu nhân nhìn tôi rất lâu. “Cháu ngày càng không giống người Tần gia.” Tôi cầm tập giấy nhưng không cầm bút. “Có lẽ vì lần đầu cháu không dùng họ Tần để quyết định mình là ai.” Tối đó, tôi đặt đề nghị cứu trợ lên bàn hậu đài. Tôi kể nguyên văn điều kiện, không tô xấu cũng không giấu khoản tiền. La Mẫn Tú đọc xong trước. “Cô định thế nào?” “Tôi không nhận.” Một nhân viên bán vé bật thốt: “Sáu tháng đấy.” “Tôi biết. Vì vậy tôi sẽ không bắt mọi người chịu quyết định của tôi mà không có lối ra. Ai muốn chuyển sang công việc khác, tôi thanh toán đủ phần đã làm. Ai đã mua vé đêm cuối được hoàn lại toàn bộ.” Đường Tiểu Mãn hỏi: “Còn đại cảnh?” Tôi nhìn sơ đồ chúng tôi đã cố sửa suốt hai ngày. Dù thu nhỏ, nó vẫn cần nhiều người hơn số còn lại và tiêu gần hết quỹ tạm ứng. “Đại cảnh đã thất bại.” Nói ra câu đó đau hơn tôi tưởng. Nó không chỉ là một chương trình. Nó là bằng chứng tôi từng hy vọng sẽ đặt trước hội đồng để nói: nhìn đi, tôi đã chọn đúng. Tôi tháo tờ sơ đồ khỏi bảng. “Chúng ta dừng bán vé theo chương trình cũ. Người đã mua có ba lựa chọn. Hoàn tiền. Chuyển vé sang bất kỳ buổi hiện có. Hoặc đổi thành thẻ thành viên trả trước, nếu họ muốn tham gia lịch sử dụng mới. Không ai bị ép giữ tiền ở đây để cứu rạp.” Kỷ Hoài Chu hỏi: “Nếu mọi người hoàn hết?” “Chúng ta đóng cửa sau đánh giá và thanh toán theo hợp đồng.” “Còn cô?” “Tôi chịu trách nhiệm với hội đồng.” La Mẫn Tú đập lòng bàn tay lên bàn. “Lại một mình cô chịu?” Tôi sững lại. Bà chỉ vào bảng đề xuất. “Cô vừa cho mọi người quyền biểu quyết, rồi đến lúc xấu nhất lại định ôm hết trách nhiệm để làm người hùng. Khác gì cách cũ?” Tôi không trả lời được. Bà nói tiếp: “Cô có thể từ chối tiền Tần gia. Nhưng lịch mới phải để chúng tôi cùng làm. Không ai ở đây là phông nền cho sự trưởng thành của cô.” Sự chua nhẹ trong câu cuối khiến cả phòng im hai giây, rồi Đường Tiểu Mãn phì cười. Tôi cũng cười theo, dù mắt nóng lên. “Dì La nói đúng,” tôi thừa nhận. “Vậy chúng ta cùng quyết định. Ai muốn dừng có thể dừng. Ai ở lại, tối nay bỏ phiếu cho phương án còn lại.” Chúng tôi gửi thông báo đến từng người mua vé. Không dùng lời lẽ cầu cứu. Chỉ nói chương trình lớn không còn đủ nhân sự, nêu rõ ba lựa chọn và thời hạn hoàn tiền. Trong hai giờ đầu, mười hai người yêu cầu hoàn. Sau đó bà chủ quán mì đổi vé thành thẻ ba tháng, nhóm phụ huynh đăng ký hai buổi chiều, thầy giáo trả trước ba lịch kể chuyện và ba nghệ sĩ trẻ đề nghị mang tác phẩm đến đêm đánh giá. Đến nửa đêm, bốn mươi chín trong sáu mươi tư vé đã đổi thành thẻ thành viên hoặc tiền đặt lịch. Mười lăm vé được hoàn. Con số chưa đủ, nhưng nó là tiền thật, lựa chọn thật và lịch sử dụng có tên người chịu trách nhiệm. Đường Tiểu Mãn dán tờ thống kê lên bảng, hai tay run vì mệt. “Chị Tần Vãn Chi, họ không giữ vé vì thương hại mình phải không?” “Tất nhiên có người thương. Nhưng họ có quyền hoàn và chúng ta đã nói rõ rủi ro. Quan trọng là họ chọn cách muốn dùng rạp.” Kỷ Hoài Chu nhìn danh sách. “Bây giờ chúng ta không cần dựng một đêm diễn giả vờ đủ cho cả năm.” “Chúng ta cần cho hội đồng thấy một năm đã bắt đầu bằng những cam kết nhỏ.” Đó là lúc ý tưởng cao trào thật sự thành hình. Không còn đại cảnh. Không còn ngôi sao. Đêm đánh giá sẽ là một sân khấu chia sẻ. Người đã đặt lịch tự trình bày họ dùng Xuân Vũ thế nào. Vé thành viên trả trước được ghi rõ quyền hoàn, quyền biểu quyết và phần lịch được quyết định. Đoàn Hoài Thanh chỉ diễn một tiết mục vừa sức. Tôi sẽ không đứng giữa sân khấu kể mình cứu rạp. Tôi sẽ mở cửa để những người cần nó tự lên tiếng. Sáng ngày thứ hai mươi mốt, hệ thống điện phụ của phố Nam Vũ gặp trục trặc do công trình gần đó. Nguồn điện chính không đủ ổn định để chạy đèn sân khấu trong đêm đánh giá. Toàn bộ máy phát lớn đã được Thành Nguyệt đặt cho đại lễ. Gần bốn giờ chiều, Tần Tư Nhu gọi cho tôi. “Em có sáu máy phát dự phòng và một đội truyền thông. Chị biết điều kiện của em.” “Cô đến rạp đi. Nói trực tiếp.” Ít phút sau, cô ta bước vào khán phòng cùng bản thỏa thuận sáp nhập truyền thông. Ngoài cửa là sáu thùng thiết bị và vài nhân viên đang chờ. “Xuân Vũ trở thành sân khấu vệ tinh của đại lễ,” Tần Tư Nhu nói. “Mọi chương trình đêm đánh giá mang tên Thành Nguyệt. Em cấp điện, nghệ sĩ và đưa luồng phát của đại lễ sang đây. Chị sẽ có số người xem mà hội đồng muốn.” “Đổi lại, cô có nội dung văn hóa để bù cho đại lễ.” “Đó là hợp tác.” “Còn quyền biên tập?” “Thuộc đội truyền thông Thành Nguyệt. Chúng em phải bảo đảm hình ảnh thống nhất.” Tôi nhìn các thành viên đang ngồi rải rác trong khán phòng. Họ đã nghe rõ điều kiện. Kỷ Hoài Chu đứng bên sân khấu, giữ tấm màn trắng khỏi nghiêng. La Mẫn Tú đặt bảng ngân sách lên hàng ghế đầu. Tôi tháo chùm chìa khóa đồng, đặt xuống cạnh cây bút trên bàn. Tần Tư Nhu tưởng tôi đã mềm lòng. “Chị chỉ cần ký. Em không lấy rạp của chị. Em cho nó một cái tên lớn hơn.” “Tên lớn hơn có quyền xóa câu chuyện của người khác sao?” “Không ai quan tâm một sân khấu chia sẻ nhỏ bé trong ngày một trăm đôi kết hôn. Chị cần sự chú ý của em.” “Tôi cần điện.” “Điện đi cùng thỏa thuận.” “Tôi chỉ ký hợp đồng thuê thiết bị theo giá công khai. Không nhập Xuân Vũ vào đại lễ, không giao tên rạp, không giao quyền biên tập.” Nụ cười của cô ta biến mất. “Chị đang mặc cả khi không còn lựa chọn?” “Tôi có lựa chọn tắt bớt đèn và để hội đồng thấy đúng khả năng của chúng tôi.” “Chị thà thua?” “Thà thua bằng mô hình của mình hơn thắng bằng cách biến tất cả họ thành phông nền.” Tần Tư Nhu nhìn quanh. Có lẽ đến lúc đó cô ta mới nhận ra những người ngồi đây không chờ tôi quyết định thay. Bà chủ quán mì cầm thẻ thành viên. Thầy giáo ôm tập lịch. Nhóm nghệ sĩ trẻ giữ đạo cụ của họ. Kỷ Hoài Chu lên tiếng: “Đoàn Hoài Thanh có thể diễn với hộp ánh sáng, không cần máy phát lớn. Nhưng quầy vé và đèn thoát hiểm phải có nguồn ổn định.” La Mẫn Tú nói: “Hai thiết bị nhỏ là đủ cho an toàn cơ bản. Chúng tôi không thuê sáu.” Tôi quay lại Tần Tư Nhu. “Hai thiết bị nhỏ, thời gian từ năm giờ đến mười giờ, giá thuê theo bảng của đơn vị vận hành. Cô có thể ghi Thành Nguyệt là bên cho thuê thiết bị. Chỉ vậy thôi.” Cô ta siết bản thỏa thuận. “Chị nghĩ vài tấm thẻ này sẽ thắng đại lễ của em?” “Chúng ta không thi cùng một thứ. Tôi chỉ mất quá lâu mới hiểu.” Tần Tư Nhu im lặng. Điện thoại cô ta rung liên tục. Trên màn hình là tên Hạ Cảnh Thừa. Cuối cùng, cô ta xé tờ đầu của bản sáp nhập, giữ lại trang báo giá thiết bị. “Em cho thuê hai máy. Đúng giá.” “Cảm ơn.” “Đừng cảm ơn như thể chị vừa dạy em làm người.” “Tôi cảm ơn vì giao dịch rõ ràng.” Cô ta ký, tôi ký. Không ai nợ ai một ân tình. Trước khi rời đi, Tần Tư Nhu nhìn chùm chìa khóa trên bàn. “Chị đã đặt nó xuống. Em tưởng chị định giao.” Tôi cầm chìa khóa lên, móc lại vào thắt lưng. “Tôi đặt xuống để hai tay đọc hợp đồng.” Lần đầu tiên sau nhiều ngày, cô ta bật cười thật. Chỉ một tiếng ngắn, có chút mệt mỏi. “Chị đúng là khó ưa.” “Cô cũng vậy.” Tần Tư Nhu đi khỏi. Hai máy phát nhỏ được để lại theo biên bản. Còn đêm đánh giá mới thật sự bắt đầu. Đến năm giờ, hội đồng Tần gia vào rạp. Không có thảm đỏ. Không có tường hoa. Tiền sảnh treo bảng ngân sách, lịch sử dụng ba tháng và quy tắc lao động. Mỗi khoản thu chi đều có chứng từ. Mỗi giờ hỗ trợ đều ghi tên công việc, giới hạn và người xác nhận. Tần lão phu nhân dừng trước bảng thẻ thành viên. “Bảy mươi tám người?” Tôi đáp: “Bảy mươi tám thành viên trả trước. Trong đó mười lăm người chọn gói một tháng, bốn mươi hai người chọn ba tháng, còn lại đặt lịch theo nhóm. Tất cả có quyền hoàn phần chưa dùng nếu rạp ngừng hoạt động.” “Con số này chưa lớn.” “Đúng. Nhưng là tiền đã thanh toán, không phải lượt xem trên mạng.” Hội đồng vào khán phòng. Chín mươi sáu ghế không kín hoàn toàn. Có tám mươi ba người. Tôi không lấp ghế trống bằng nhân viên hay vé mời giả. Sau cánh gà, một nghệ sĩ trẻ báo người dẫn phần đầu bị kẹt ở Thành Nguyệt. Anh ấy là một trong những người nhận hợp đồng bên đó và đã hứa sang sau khi hoàn thành tiết mục, nhưng đại lễ chậm lịch. Đường Tiểu Mãn hoảng hốt. “Không có người dẫn thì thứ tự sau sẽ rối.” Kỷ Hoài Chu nhìn tôi. “Cô thuộc lịch.” Tôi từng quen đứng sau kế hoạch, hoặc đứng giữa sân khấu trong vai đại diện Tần gia với kịch bản người khác viết. Lần này, tôi phải mở một chương trình không nhằm chứng minh mình là ai. Tôi cầm thiết bị nói, rồi dừng lại. “Âm lượng ổn chưa?” La Mẫn Tú giơ ngón cái. “Nói chậm. Đừng đọc như đuổi tàu.” Tôi bước ra sân khấu. “Chào mọi người. Tôi là Tần Vãn Chi. Người dẫn của chúng tôi đang mắc kẹt ở một chương trình khác vì anh ấy có quyền nhận công việc ngoài Xuân Vũ. Vì vậy, tôi dẫn phần đầu.” Khán phòng bật lên vài tiếng cười, không khí bớt căng hơn. “Tối nay không có đại cảnh đã quảng bá ban đầu. Chúng tôi đã hoàn tiền cho người muốn rút và chuyển phần còn lại thành thẻ thành viên hoặc lịch sử dụng. Những gì quý vị sắp xem là thứ Xuân Vũ thật sự có thể làm với con người, tiền bạc và thời gian hiện có.” Tôi cúi chào, rồi lùi khỏi ô sáng. Kỷ Hoài Chu bật hộp ánh sáng chúng tôi cùng làm. Không cần cả dàn đèn, vầng trăng vẫn hiện rõ trên màn trắng. Đường Tiểu Mãn điều khiển con chim én bay qua mái hiên, nhưng câu chuyện lần này có đoạn kết mới. Con chim không tìm lại chiếc tổ cũ. Nó nhặt từng cọng rơm do những bàn tay khác đặt xuống, làm một mái mới trên biển hiệu Xuân Vũ. Tiết mục kết thúc trong tiếng vỗ tay. Những người từng góp giấy, góp giờ, góp tiền đều nhận ra một phần của mình. Sau đó, sân khấu được trao cho cộng đồng. Bà chủ quán mì trình bày hai tối kể chuyện cho người làm ca, đổi chỗ đặt lịch rạp ở quầy lấy suất ăn rẻ cho người có vé. Thầy giáo trình bày ba buổi chiều đã trả trước một phần. Nhóm phụ huynh nhận giám sát trẻ nhỏ. Ba nghệ sĩ trẻ nhận chia doanh thu thay vì đẩy toàn bộ rủi ro cho rạp. La Mẫn Tú bước lên với bảng lao động. “Tôi làm hậu đài ba mươi hai năm,” bà nói. “Tôi yêu sân khấu, nhưng tình yêu không trả hóa đơn. Xuân Vũ không dùng hai chữ cống hiến để bắt người làm miễn phí. Đây là mức công, giờ nghỉ, giới hạn đổi việc và quyền từ chối nhiệm vụ không an toàn.” Một thành viên hội đồng hỏi: “Nếu doanh thu giảm, bà có chấp nhận giảm thù lao để giữ rạp không?” La Mẫn Tú đáp ngay: “Không mặc định. Chúng tôi sẽ giảm số buổi, tìm thêm người dùng hoặc bỏ hạng mục. Người lao động có thể tự nguyện thương lượng, nhưng quản lý không được lấy tình cảm ép họ.” Tần lão phu nhân nhìn sang tôi. Tôi không đỡ lời. Đây là phần của La Mẫn Tú. Đường Tiểu Mãn trình bày cách thẻ thành viên hoạt động. Người mua không chỉ nhận vé. Họ có quyền đề xuất và biểu quyết một phần lịch. Mười phần trăm ghế mỗi buổi được giữ ở mức giá thấp. Giờ hỗ trợ chỉ áp dụng cho công việc phổ thông, có người hướng dẫn và giới hạn mỗi tuần. Cô bé nói vấp ở câu đầu, rồi nhìn con chim én đặt cạnh bục. Đến câu sau, giọng cô vững hơn. “Em từng nghĩ sân khấu là nơi người giỏi biểu diễn cho người khác xem. Bây giờ em nghĩ nó còn là nơi một người tập sự được phép làm chưa hoàn hảo, miễn là không giấu sai sót và không bắt người khác trả giá thay.” Tôi đứng trong cánh gà, nghe mà cổ họng nghẹn lại. Hội đồng hỏi về tháng thấp điểm, chi phí điện, hoàn tiền và xung đột lịch. Tôi trả lời phần ngân sách. Kỷ Hoài Chu trả lời phần kỹ thuật và lịch đoàn. La Mẫn Tú trả lời lao động. Từng nhóm sử dụng tự trả lời cam kết của mình. Với những điều chưa biết, tôi nói chưa biết và đưa mốc xem xét lại sau ba tháng. Cuối cùng, một thành viên hội đồng hỏi tôi: “Cô Tần, vai trò của cô là gì nếu cộng đồng có quyền biểu quyết, nghệ sĩ có quyền rời và quản lý hậu đài có quyền bác công việc không an toàn?” Kiếp trước, tôi sẽ coi đó là câu hỏi thách thức quyền lực. Lần này, tôi đáp: “Tôi chịu trách nhiệm giữ quy tắc, cân ngân sách, kết nối lịch và công khai lý do khi phải từ chối. Quản lý không phải người sở hữu tiếng nói của tất cả. Là người bảo đảm những tiếng nói ấy không đẩy toàn bộ cái giá sang một người yếu hơn.” “Vậy nếu họ biểu quyết một chương trình cô cho là dở?” “Trong phần lịch thuộc quyền thành viên, họ được thử. Nếu không vi phạm an toàn, lao động và ngân sách, quyền được làm chưa hoàn hảo cũng là giá trị của rạp.” Ngoài cửa, tiếng nhạc từ đại lễ Thành Nguyệt vọng rất xa qua phố. Một sự kiện lớn đang diễn ra cùng lúc. Nhưng tám mươi ba người trong Xuân Vũ không quay đầu nhìn. Họ đang xem bảng lịch được chuyền qua từng hàng ghế. Hội đồng lui vào phòng hậu đài để thảo luận. Chúng tôi chờ trong khán phòng. Không ai nói nhiều. Đường Tiểu Mãn ôm hộp chim én. Kỷ Hoài Chu ngồi cạnh tôi, giữa hai bàn tay là bản hợp đồng gia hạn đoàn chưa ký ngày kết thúc. Tôi hỏi nhỏ: “Anh nghĩ đủ không?” “Đủ để họ phải đánh giá thứ đang có, không phải thứ cô hứa.” “Đó vẫn chưa phải câu trả lời.” “Vì tôi không biết.” Tôi thở ra. Tương lai mới không còn ai biết trước. Lần đầu tiên, điều đó không làm tôi hoảng sợ. Bốn mươi phút sau, cửa hậu đài mở. Tần lão phu nhân bước ra trước. Bà đứng dưới biển Xuân Vũ vừa được sơn lại, nhìn chùm chìa khóa bên hông tôi. “Quyền vận hành Xuân Vũ được gia hạn một năm,” bà nói. Đường Tiểu Mãn bật khóc trước khi bà nói hết. Một năm gia hạn đi kèm bốn mốc kiểm tra theo quý. Mô hình thành viên phải giữ quyền hoàn tiền, lịch chia sẻ phải công khai và quy tắc lao động không được hạ để bù thâm hụt. Quỹ Tần gia chỉ giữ khoản hỗ trợ bảo tồn cố định như các dự án cùng loại. Không có tài sản bí mật được trao. Không có chiến thắng suốt đời. Chỉ có mười hai tháng để tiếp tục công việc chúng tôi vừa chứng minh có thể bắt đầu. Tôi cúi đầu nhận quyết định. Khi ngẩng lên, Tần lão phu nhân nói nhỏ đủ cho mình tôi nghe: “Cháu đã từ chối điều kiện của ta.” “Vâng.” “Vậy mà vẫn dùng quy trình của quỹ để giành gia hạn.” “Cháu từ chối làm con gái theo điều kiện. Cháu không từ chối trách nhiệm minh bạch.” Bà nhìn quanh khán phòng. “Có lẽ ta đã nhầm khi nghĩ chỉ cạnh tranh mới lộ được người xứng đáng.” Đó không phải lời xin lỗi hoàn chỉnh, và nó cũng không xóa được trò chơi bà đã đặt ra. Nhưng lần đầu tiên, bà nhìn hậu quả thay vì chỉ nhìn người thắng. “Tần Tư Nhu thì sao?” tôi hỏi. “Chuyện của nó, để nó tự nói.” Tôi không biết chuyện gì xảy ra ở Thành Nguyệt tối đó cho đến sáng hôm sau. Tần Tư Nhu gọi tôi ra bờ sông Thanh Lăng. Cô ta vẫn mặc áo khoác phủ ngoài váy đỏ. Hạ Cảnh Thừa cho biết đại lễ hoàn thành tám mươi bảy cặp, mười ba cặp còn lại sẽ được tổ chức bổ sung theo hợp đồng. Không thành công trọn vẹn, cũng không sụp đổ thành trò cười. Chỉ là một chương trình có sai sót và hậu quả phải xử lý. Tần Tư Nhu tháo chiếc nhẫn ngọc trai, đặt vào hộp trong lòng bàn tay. “Chúng tôi đã hủy hôn ước.” Tôi hỏi: “Vì đại lễ không đủ một trăm cặp?” “Không.” Cô ta nhìn Hạ Cảnh Thừa. “Vì trước khi lên sân khấu, anh ấy hỏi tôi có thể tiếp tục làm gương mặt đại diện sau khi kết hôn không. Tôi hỏi anh ấy có thể để tôi quyết định những việc ảnh hưởng hình ảnh của mình không. Cả hai đều trả lời có, nhưng mỗi người hiểu chữ quyết định theo một nghĩa khác.” Hạ Cảnh Thừa nói anh cần một đối tác chịu trách nhiệm cùng hệ thống, còn cô ta cần quyền xây thương hiệu độc lập. Tần Tư Nhu cười mệt mỏi: “Nói dễ hiểu hơn là anh cần vai trò của em. Em cần danh phận của anh. Chúng em không cần nhau như con người.” “Không ai ép hai người tiếp tục sao?” “Hạ gia không vui. Tần lão phu nhân cũng không vui.” Cô ta đóng hộp nhẫn. “Nhưng bản hôn ước cho phép hai bên hủy trước đăng ký chính thức. Không có bẫy nào cả. Chúng tôi chỉ cố giữ vì sợ mất mặt.” Hạ Cảnh Thừa hỏi tôi đã thấy điều này sớm hơn hay chưa. Tôi chỉ đáp: “Được chọn vì một vai trò không giống được yêu.” Tần Tư Nhu im lặng, rồi hỏi: “Chị có vui không?” “Nếu cô hỏi tôi có vui vì hai người hủy hôn, không. Đó là chuyện của hai người.” “Còn vì chị đã chọn đúng?” Tôi nhìn dòng sông mang ánh sáng buổi sớm. “Tôi không chọn đúng một lần rồi xong. Tôi chỉ chọn thứ mình sẵn sàng chịu trách nhiệm mỗi ngày.” Cô ta nhét hộp nhẫn vào túi áo. “Em từng nghĩ nếu có hôn ước, mọi người sẽ không thể nói em là người ngoài.” “Tôi từng nghĩ nếu giành hôn ước, họ sẽ không thể nói tôi không xứng làm người nhà.” Hai chúng tôi nhìn nhau. Lần đầu tiên, không có chiếc khay nào đặt giữa. Tần Tư Nhu nói: “Em chưa sẵn sàng gọi chị là chị gái thân thiết.” “Tôi cũng chưa sẵn sàng diễn cảnh ôm nhau.” Khóe môi cô ta nhếch lên. “Tốt.” Hạ Cảnh Thừa bảo chúng tôi giống nhau hơn cả hai muốn thừa nhận. Tôi và Tần Tư Nhu cùng quay sang phản đối. Đó là lần duy nhất buổi sáng ấy cả ba người cùng cười. Chúng tôi không thành gia đình hòa thuận chỉ sau một cuộc trò chuyện. Hạ Cảnh Thừa quay lại xử lý lịch bổ sung. Tần Tư Nhu rời vai trò cô dâu đại diện, tiếp tục dẫn chương trình bằng hợp đồng riêng. Tôi về Xuân Vũ bắt đầu năm gia hạn. Một tuần sau, Tần lão phu nhân gửi lịch sự kiện của quỹ, kèm lời nhắn tôi có thể chọn tham dự với tư cách quản lý Xuân Vũ, không phải đại diện con gái Tần gia. Tôi chọn một buổi liên quan đến sân khấu cộng đồng và từ chối ba buổi tiệc. Không ai cắt quyền vận hành của tôi vì lời từ chối đó. Đó chưa phải tình thân. Nhưng là một ranh giới được tôn trọng, đủ để bắt đầu nếu cả hai phía thật sự muốn. Xuân Vũ bước vào tháng đầu bằng cuốn lịch kín vừa phải. Có buổi chỉ mười sáu khán giả, có vở phải sửa, có lịch hủy được hoàn tiền đúng quy tắc. Sân khấu sống không phải vì luôn chiến thắng. Nó sống vì thất bại nhỏ không còn đủ sức giết chết cả hệ thống. Kỷ Hoài Chu mang hợp đồng năm mới đến vào một chiều mưa. Đoàn Hoài Thanh ký lịch diễn sáu tháng, không độc quyền, mỗi tháng có một tuần được đi lưu diễn. Ở cuối bảng lịch, anh khoanh tròn thứ hai hằng tuần. Tôi hỏi: “Ngày nghỉ chung?” “Cô đã ký điều khoản đó hai lần mà vẫn định xếp họp.” “Tôi chỉ hỏi để xác nhận.” “Xác nhận gì?” Tôi đóng cuốn lịch, chủ động bước ra khỏi bàn làm việc. Kiếp trước, mọi lời hẹn của tôi đều đặt ở một ngày không có trên lịch. Lần này, tôi chỉ vào thứ hai gần nhất. “Kỷ Hoài Chu, anh có muốn dùng ngày nghỉ đó để hẹn hò với tôi không?” Anh nhìn ô ngày, rồi nhìn tôi. “Cô hỏi với tư cách quản lý rạp à?” “Không. Tần Vãn Chi, hai mươi bảy tuổi, đang mời anh. Anh có quyền từ chối. Nếu đồng ý rồi đổi ý, anh cũng có quyền dừng.” “Cô đã chuẩn bị câu này lâu chưa?” “Từ lúc anh bảo tôi đừng bắt anh nói nhanh hơn điều anh biết.” “Bây giờ tôi biết rồi.” “Biết gì?” “Tôi muốn đi.” Tôi mỉm cười. “Vậy thứ hai, ba giờ chiều?” “Địa điểm?” “Đi dọc bờ sông Thanh Lăng. Không bàn ngân sách, không tuyển nghệ sĩ, không ghé Thành Nguyệt.” “Có được nói về hộp ánh sáng không?” “Không.” “Điều kiện khắt khe thật.” “Anh có thể từ chối.” Kỷ Hoài Chu cầm bút, viết vào ô trống hai chữ hẹn hò. “Không từ chối.” Ngoài sân khấu, Đường Tiểu Mãn đang tập lại con chim én. Bóng chim lướt qua tấm màn, đáp xuống mái nhà ghép từ nhiều mảnh giấy. Chùm chìa khóa đồng nằm trên bàn cạnh cuốn lịch, không còn là phần thưởng kém giá trị trong một cuộc chia phần. Nó chỉ là chìa khóa. Người giữ nó có trách nhiệm mở cửa đúng giờ, và hiểu rằng một nơi thật sự thuộc về mình không phải vì mình khóa được người khác ở bên trong. Tôi cầm chùm chìa khóa lên, bước ra tiền sảnh. Kỷ Hoài Chu đi cạnh tôi. Đúng ba giờ chiều thứ hai, chúng tôi khóa cửa rạp cho ngày nghỉ chung. Rồi tôi chủ động nắm tay anh. “Được không?” tôi hỏi. Anh siết tay tôi vừa đủ. “Được.” Phía sau chúng tôi, biển Xuân Vũ đã tắt đèn một ngày. Nhưng lịch tháng sau vẫn ở sau lớp kính, kín những cái tên tự mình chọn bước vào.