Người khách cuối cùng rời khỏi Hồi Đăng lúc tám giờ bốn mươi bảy phút tối. Tôi xoay tấm biển trên cửa kính từ “Mời vào” sang “Đã đóng”, còn Tạ Cảnh Hành đứng sau quầy, tháo chiếc đèn đồng mà anh từng tự tay lắp vào ngày khai trương. Đúng lúc bóng đèn tắt, điện thoại tôi rung. Nhân viên hộ tịch nói giấy xác nhận ly hôn của chúng tôi đã có hiệu lực từ tám giờ ba mươi. Cô ấy đọc một loạt thông tin, hỏi tôi có cần nhận bản giấy qua đường bưu điện không. Tôi nhìn hai chiếc chìa khóa nằm cách nhau trên quầy, bình tĩnh trả lời rằng không cần, tôi sẽ đến lấy. Tạ Cảnh Hành chờ tôi cúp máy mới hỏi: “Xong rồi à?” “Xong rồi.” Anh gật đầu, như thể tôi vừa báo đã kiểm đủ tám trăm mười sáu cuốn sách ký gửi. Sau đó anh lấy từ ngăn kéo ra một tấm vé xem phim đã hết hạn ba năm, đặt xuống cạnh chìa khóa của tôi. “Lâm Vãn Thu, ngày mai em có rảnh không?” Tôi tưởng anh muốn hẹn giờ chia nốt chiếc máy pha trà. “Có việc gì?” “Anh muốn mời em đi xem một bộ phim.” Tôi nhìn người chồng vừa trở thành chồng cũ của mình. Trong ba mươi ngày dọn hiệu sách, chúng tôi đã trả lại tiền cho độc giả, trả sách cho người ký gửi, trả thư cho người gửi, trả căn nhà cho chủ mới. Chỉ đến khi không còn thứ gì để giữ nhau lại, anh mới hỏi tôi một câu có quyền được từ chối. Ba mươi ngày trước, chúng tôi đến Trung tâm Dịch vụ Hôn nhân Tân Châu vào một buổi sáng mưa bụi. Phòng tiếp nhận ly hôn nằm ở tầng hai, giữa quầy đăng ký kết hôn và một máy bán nước tự động. Bên trái chúng tôi, một đôi trẻ mặc áo sơ mi trắng đang chọn nền đỏ cho ảnh cưới. Bên phải, một người đàn ông trung niên cúi đầu đếm từng tờ trong tập giấy phân chia tài sản. Tôi thấy cách sắp xếp ấy rất hợp lý. Hôn nhân bắt đầu, hôn nhân kết thúc, ở giữa có một chiếc máy bán nước không nhận tiền giấy. Tạ Cảnh Hành điền biểu mẫu bằng cây bút máy màu nâu. Chữ anh thẳng, đều, giống đường chỉ trên gáy một cuốn sách vừa đóng xong. Đến mục lý do, anh ngừng bút. Tôi nói: “Ghi tính cách không hợp.” “Chúng ta không cãi nhau vì tính cách.” “Vậy ghi sống xa cách trong thời gian dài.” “Chúng ta vẫn ở cùng nhà.” Tôi nhìn anh. “Anh muốn viết một bài phân tích nguyên nhân à?” Khóe môi anh động nhẹ, nhưng không thành cười. Cuối cùng, anh ghi: hai bên tự nguyện, không còn khả năng tiếp tục đời sống hôn nhân. Câu ấy sạch sẽ đến mức không ai phải chịu trách nhiệm. Nhân viên tiếp nhận kiểm tra căn cước, giấy đăng ký kết hôn và thỏa thuận tài sản. Chúng tôi không có con. Căn hộ thuê sẽ trả vào cuối tháng. Hồi Đăng là pháp nhân do hai người góp vốn ngang nhau, đang tự cân đối, không được tính vào tài sản cần tranh chấp tại quầy. Cô ấy đóng dấu ngày nộp đơn, nhắc chúng tôi có ba mươi ngày cân nhắc. “Nếu trong thời gian này hai anh chị đổi ý, một trong hai người có thể rút đơn. Hết ba mươi ngày, hai người cùng đến xác nhận trong thời hạn quy định.” Tạ Cảnh Hành hỏi rất kỹ giờ làm việc của ngày cuối cùng. Tôi hỏi có thể nhận giấy qua bưu điện hay không. Nhân viên nhìn chúng tôi, có lẽ đã gặp đủ kiểu vợ chồng để không thấy hai câu hỏi ấy mâu thuẫn. Rời trung tâm, Tạ Cảnh Hành đưa ô về phía tôi. Vai phải của anh ướt một mảng. Năm năm trước, tôi từng nghĩ một người luôn nghiêng ô về phía mình chắc chắn sẽ không làm mình cô đơn. Năm năm sau, tôi hiểu có những người che mưa rất giỏi nhưng không biết nói họ đang muốn đi đâu. Chúng tôi đi bộ về Hồi Đăng. Hiệu sách nằm ở tầng trệt một tòa nhà gạch đỏ gần đường Thanh Hồ. Tên hiệu được ghép bằng những chữ đồng cũ, ban ngày không nổi bật, tối đến mới sáng màu mật ong. Tôi phụ trách bản quyền sách nói ở Nhà xuất bản Tầm Chương, còn Tạ Cảnh Hành phục chế và đóng sách thủ công. Hồi Đăng vốn chỉ là gian bán sách nhỏ nối với xưởng của anh. Sau khi kết hôn, chúng tôi thuê thêm căn bên cạnh, mở phòng đọc, nhận sách ký gửi và giữ một tủ thư cho độc giả. Người ta thường nói chúng tôi là cặp vợ chồng biết biến sở thích thành sự nghiệp. Không ai biết hai năm gần đây, tôi và anh giao tiếp bằng bảng công việc dán sau quầy nhiều hơn bằng lời. Mười một giờ phải gọi bên vận chuyển. Hai giờ nhận sách của cô Chu. Đừng quên thay lõi lọc nước. Tối nay anh ngủ ở xưởng. Dòng cuối cùng không bao giờ cần ký tên. Khi chúng tôi còn cách Hồi Đăng một ngã tư, Chu Tiểu Mãn gọi. Giọng cô ấy nhanh đến mức tiếng còi xe phía sau cũng không chen vào được. “Chị Lâm, anh Tạ, hai người đang ở đâu? Chủ nhà vừa tới. Không phải chuyện tăng tiền thuê. Hai người về ngay đi.” Mười phút sau, chúng tôi đứng trước quầy, đối diện chủ tòa nhà và một người đại diện công ty quản lý mới. Trên bàn là thông báo chấm dứt hợp đồng do tòa nhà được chuyển nhượng toàn bộ. Hợp đồng của Hồi Đăng có điều khoản bàn giao sớm khi chủ sở hữu thay đổi, kèm tiền bồi thường tương đương hai tháng thuê. Tôi đã đọc điều khoản ấy bảy năm trước và tự tin rằng chẳng ai mua một tòa nhà cũ không có thang máy. Người đại diện nói công trình sẽ được gia cố rồi đổi thành khu văn phòng thiết kế. Chúng tôi có ba mươi ngày để trả mặt bằng. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Có thể gia hạn thêm hai tuần để xử lý sách ký gửi không?” “Rất tiếc. Đội khảo sát vào ngay sáng ngày ba mươi mốt.” Tôi hỏi: “Tiền bồi thường được chuyển lúc nào?” “Trong ba ngày làm việc, sau khi hai bên ký biên bản.” Chu Tiểu Mãn đứng sau giá sách mới về, hai tay ôm thùng dao rọc giấy như chuẩn bị bảo vệ lãnh thổ. Khi khách rời đi, cô ấy đặt thùng xuống thật mạnh. “Ba mươi ngày? Chúng ta có hơn tám trăm cuốn ký gửi, một trăm bốn mươi ba thẻ đọc còn số dư, sáu nhân viên bán thời gian và cái tủ thư mà không ai biết trong đó có bao nhiêu chuyện đời. Hai người định làm gì?” Tôi và Tạ Cảnh Hành cùng nói: “Thanh lý.” Chu Tiểu Mãn nhìn chúng tôi lần lượt. “Ít ra hôm nay hai người vẫn còn đồng lòng.” Tôi tháo áo khoác ướt, mở máy tính. “Trước hết phải kiểm tiền hoàn thẻ và lương. Sau đó chia sách thành ba nhóm: thuộc sở hữu Hồi Đăng, ký gửi có liên hệ được, ký gửi mất liên lạc. Xưởng của Tạ Cảnh Hành có mười bảy đơn đang làm, tách riêng.” Anh kéo ghế ngồi đối diện. “Kho thư phải kiểm theo mã người gửi, không mở nội dung.” “Tất nhiên.” “Dữ liệu thẻ đọc cũng không được đưa cho bất kỳ bên nào khi chưa có đồng ý.” Tôi ngẩng lên. “Anh đang nhắc em hay đang ghi nguyên tắc?” “Ghi nguyên tắc.” Tôi mở một tệp mới, đặt tên là Kế hoạch đóng cửa Hồi Đăng. Phần đầu tiên tôi gõ: mọi quyết định liên quan tài sản chung, dữ liệu độc giả, quyền lợi nhân viên và thương hiệu phải có chữ ký của cả Lâm Vãn Thu và Tạ Cảnh Hành. Tạ Cảnh Hành đọc xong, thêm một dòng: quan hệ hôn nhân không tạo quyền quyết định thay người còn lại. Tôi nhìn câu ấy vài giây. “Anh có cần viết rõ cả chuyện ai mang chiếc máy pha trà không?” “Nếu em muốn.” “Tôi không muốn.” Đó là lần đầu tiên trong ngày tôi đổi cách xưng hô. Tạ Cảnh Hành nghe thấy, nhưng chỉ gật đầu. Chúng tôi làm đến gần một giờ sáng. Tiền mặt và số dư tài khoản đủ trả lương, hoàn thẻ và phí vận chuyển nếu không phát sinh quá mười lăm phần trăm. Tiền bồi thường mặt bằng đủ xử lý nợ nhà cung cấp, nhưng không đủ thuê một cửa hàng tương đương ở khu Thanh Hồ. Muốn giữ Hồi Đăng, chúng tôi phải tìm mặt bằng nhỏ hơn, đóng phòng đọc và bỏ xưởng, hoặc tìm bên mua thương hiệu. Tôi biết đã có một bên muốn mua. Ba tuần trước, Đường Nhược Lam của Nhà xuất bản Bách Diệp gửi cho tôi một bản ghi nhớ hợp tác. Bách Diệp muốn phát triển chuỗi phòng đọc, còn Hồi Đăng có cộng đồng độc giả trung thành. Họ đề nghị giữ tên, nhận phần lớn nhân viên, mua danh mục thành viên và tiếp quản tủ thư như một hoạt động thương hiệu. Tôi đã trả lời rằng về nguyên tắc có thể thảo luận. Tôi chưa nói với Tạ Cảnh Hành. Khi ấy, tôi nghĩ chỉ nên nói sau khi biết mức giá cụ thể. Tạ Cảnh Hành ghét các cuộc thương lượng chưa có điều kiện rõ. Tôi muốn tiết kiệm cho anh một vòng thất vọng không cần thiết. Thật ra, tôi sợ anh sẽ nói không ngay từ đầu. Hai giờ sáng, chúng tôi về căn hộ thuê. Tạ Cảnh Hành ngủ trong phòng làm việc như sáu tháng qua. Tôi nằm trên giường, nghe tiếng mưa chạm bệ cửa sổ và nhớ ngày đầu mở Hồi Đăng. Hôm đó cũng mưa. Cả hiệu chỉ có mười hai cuốn sách và một giá gỗ lệch chân. Tạ Cảnh Hành kê một miếng bìa cứng dưới giá, hỏi tôi có muốn giữ một ngăn để đặt những cuốn không bán hay không. Tôi đã hỏi lại: “Hiệu sách mà có sách không bán thì kiếm tiền thế nào?” Anh nói: “Có những thứ tồn tại không phải vì bán được.” Bảy năm sau, câu ấy nghe giống một lời tiên tri không có kế hoạch tài chính. Sáng hôm sau, chúng tôi họp toàn bộ nhân viên. Chu Tiểu Mãn yêu cầu nói thẳng, không dùng cụm từ “tái cấu trúc”. Tôi thông báo ngày bàn giao, tình hình tiền mặt và thứ tự ưu tiên: lương, hoàn thẻ, trả sách, xử lý đơn xưởng, rồi mới đến phần vốn góp của hai chủ. Một sinh viên làm ca cuối tuần hỏi: “Nếu có người mua lại thì bọn em được giữ chứ?” Tôi đáp: “Chưa có đề nghị chính thức.” Chu Tiểu Mãn nhìn tôi. Cô ấy từng thấy thư của Bách Diệp hiện trên màn hình vào tối tuần trước. Tôi biết cô ấy nhận ra tôi đang chọn từ rất cẩn thận. Tạ Cảnh Hành nói: “Nếu có thương lượng, điều kiện của nhân viên phải được viết thành văn bản. Đừng dựa vào lời hứa của chúng tôi.” Sáu người bắt đầu chia danh sách gọi khách. Không ai khóc. Một hiệu sách độc lập đóng cửa không phải tai nạn bất ngờ; nó giống một căn bệnh đã có nhiều triệu chứng nhưng mọi người đều hy vọng kết quả xét nghiệm thuộc về người khác. Đến trưa, một bà cụ tên Trần Mỹ Lan đến quầy với chiếc thẻ đọc đã mờ số. Hệ thống cho thấy thẻ còn sáu trăm tám mươi tệ, nhưng tên đăng ký là của chồng bà, người đã qua đời hai năm trước. Quy định cũ yêu cầu người đứng tên hoặc giấy xác nhận thừa kế. Bà cụ mang theo giấy chứng tử nhưng không có giấy quan hệ. Nhân viên mới lúng túng. Tôi định yêu cầu bà bổ sung hồ sơ thì Tạ Cảnh Hành lấy từ ngăn thẻ lưu một phiếu viết tay. Trên đó, chồng bà đã ghi: nếu ông không đến nữa, số dư để vợ mua sách nấu ăn và tiểu thuyết trinh thám, đừng đưa cho con trai vì nó chỉ đọc báo chứng khoán. Bà cụ bật cười trước khi nước mắt rơi. Tạ Cảnh Hành không tự quyết hoàn tiền. Anh đặt phiếu trước mặt tôi. “Chữ ký trùng hồ sơ nạp tiền. Có bản sao căn cước cũ. Em thấy đủ căn cứ không?” Tôi kiểm tra ngày tháng, rồi hỏi bà Trần có muốn nhận tiền hay chuyển sang phiếu mua sách trong đợt thanh lý. Bà chọn một nửa tiền, một nửa sách. Chúng tôi cùng ký biên bản ngoại lệ. Khi bà cụ đi khỏi với hai cuốn trinh thám và một cuốn dạy nấu canh, Chu Tiểu Mãn chống tay lên quầy. “Đấy. Hai người hoàn toàn biết hỏi ý nhau. Sao lại phải đợi đến lúc đóng cửa mới làm?” Tôi nói: “Em gọi tiếp danh sách đi.” Tạ Cảnh Hành nói: “Câu hỏi hợp lý.” Tôi quay sang nhìn anh. “Anh muốn trả lời không?” “Chưa biết trả lời thế nào.” “Vậy đừng biến sự thành thật muộn thành một đức tính.” Anh im lặng một nhịp rồi nói: “Được.” Sáu ngày đầu trôi qua bằng tiếng băng keo kéo khỏi cuộn, tiếng điện thoại và mùi bụi giấy. Chúng tôi hoàn được bốn mươi hai thẻ, liên hệ ba trăm người ký gửi, đóng gói một trăm mười chín kiện sách. Mỗi tối, số kệ trống tăng lên. Không gian rộng hơn nhưng hơi thở lại chật hơn. Chiều ngày thứ sáu, Đường Nhược Lam đến Hồi Đăng. Cô ấy mặc áo khoác màu be, mang theo hai bản đề nghị có đóng dấu. Đường Nhược Lam không giả vờ tiếc nuối. Sau khi xem sổ hoàn thẻ và danh sách nhân viên, cô ấy nói Bách Diệp sẵn sàng mua thương hiệu Hồi Đăng, nhận bốn nhân viên, thuê Tạ Cảnh Hành làm cố vấn xưởng trong một năm và trả số tiền đủ để chúng tôi thanh lý mà vẫn còn lại một khoản. Đổi lại, họ cần tên thương hiệu, lịch sử giao dịch, danh mục thành viên và quyền vận hành chương trình tủ thư. Tạ Cảnh Hành đọc đến trang cuối. Anh không hỏi giá. Anh chỉ hỏi: “Ai đã cung cấp số liệu thành viên cho cô?” Đường Nhược Lam nhìn tôi. Không khí trong hiệu sách im đến mức tôi nghe được tiếng chiếc đồng hồ treo tường vừa nhảy qua một phút. Tôi nói: “Tôi gửi số tổng hợp. Không có tên, số điện thoại hay nội dung thư.” Tạ Cảnh Hành đặt bản đề nghị xuống. “Khi nào?” “Ba tuần trước.” “Trước ngày chúng ta nộp đơn ly hôn.” “Đúng.” “Em đã đồng ý điều gì?” “Chỉ đồng ý về nguyên tắc rằng có thể thảo luận.” Anh lật đến phụ lục đầu tiên, chỉ vào dòng có chữ ký điện tử của tôi dưới câu: bên Hồi Đăng xác nhận có quyền tiến hành đàm phán sơ bộ về toàn bộ tài sản thương hiệu. “Em là một nửa của bên Hồi Đăng.” Tôi nghe giọng mình lạnh đi. “Và anh là một nửa đã vắng mặt trong hầu hết cuộc họp tài chính suốt một năm.” Đường Nhược Lam khép cặp tài liệu. “Tôi có thể quay lại vào lúc khác.” “Không cần.” Tạ Cảnh Hành nhìn cô ấy. “Đề nghị này chúng tôi sẽ trả lời sau khi xác minh quyền của từng nhóm dữ liệu. Từ bây giờ, mọi trao đổi phải gửi đồng thời cho cả hai chủ sở hữu và đại diện nhân viên.” Chu Tiểu Mãn đang đứng cách đó hai giá sách. Cô ấy bước ra, nói: “Tôi là đại diện nhân viên.” Đường Nhược Lam gật đầu, ghi địa chỉ thư điện tử của cô ấy. Sau khi khách rời đi, Tạ Cảnh Hành mở tệp Kế hoạch đóng cửa Hồi Đăng, thêm một mục mới: mọi cuộc đàm phán với bên mua phải có biên bản; người từng tự ý mở đàm phán không được đại diện riêng. Tôi đọc câu ấy. “Anh có thể ghi thẳng tên tôi.” “Quy tắc phải áp dụng cho cả hai.” “Anh vẫn luôn làm vậy. Nói như thể đang công bằng để khỏi nói mình đang giận.” Lần này, Tạ Cảnh Hành không im lặng. “Anh đang giận. Không phải vì em muốn bán Hồi Đăng. Anh giận vì em đã quyết định anh sẽ phản đối trước khi cho anh cơ hội trả lời.” Tôi bật cười, nhưng âm thanh nghe rất mỏng. “Còn anh đã quyết định những gì mà không cho tôi trả lời?” Anh nhìn tôi. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy một điều gì đó vụt qua trên gương mặt anh, giống người vừa nhớ ra một cánh cửa mình đã khóa rồi quên mất chìa. Nhưng anh chỉ nói: “Chúng ta sẽ kiểm từng việc.” Tôi ghét cách nói ấy. Nó biến cuộc hôn nhân của chúng tôi thành một kho hàng có thể kiểm đếm. Điều đáng sợ là tôi cũng không nghĩ ra cách nào tốt hơn. Tạ Cảnh Hành đề nghị chia việc kiểm kê thành bốn nhóm. Chu Tiểu Mãn phụ trách nhân viên và sách ký gửi. Tôi phụ trách tiền, thẻ đọc và đàm phán. Anh phụ trách đơn xưởng và tủ thư. Những việc liên quan thương hiệu phải có mặt cả ba người. Tôi hỏi: “Vì sao tủ thư chỉ do anh phụ trách?” “Anh không nói chỉ mình anh.” “Anh vừa chia như vậy.” Tạ Cảnh Hành nhìn lại bảng rồi sửa: tủ thư do Lâm Vãn Thu, Tạ Cảnh Hành và Chu Tiểu Mãn cùng kiểm mã; không mở thư, không đọc tên ngoài thông tin cần liên hệ. Chu Tiểu Mãn nói: “Tôi bắt đầu hiểu vì sao hai người ly hôn. Một người nói thiếu chủ ngữ. Một người nghe thấy cả bản cáo trạng.” Tôi đẩy danh sách sách ký gửi về phía cô ấy. “Em có thể bắt đầu bằng việc gọi ba mươi bảy số chưa liên lạc được.” “Vâng, chị chủ cũ tương lai.” Ngày thứ tám, chúng tôi mở tủ thư. Tủ cao gần hai mét, có một trăm hai mươi ngăn nhỏ. Ban đầu, Hồi Đăng đặt nó để độc giả gửi nhận xét cho nhau về sách. Sau đó, có người dùng để gửi thư cho chính mình của một năm sau, có người để lại lời xin lỗi chưa đủ can đảm gửi, có người nhờ hiệu sách cất một bức thư đến khi họ quay lại. Chúng tôi lập mã, số điện thoại và ngày hẹn. Không có điều khoản nào nói Hồi Đăng sở hữu nội dung. Trong bảy năm, một số người chuyển nhà, đổi số hoặc không quay lại. Ba mươi mốt ngăn còn thư. Tạ Cảnh Hành đeo găng vải, lấy từng phong bì đặt lên bàn. Tôi đọc mã ngoài bì, Chu Tiểu Mãn đối chiếu sổ. Chúng tôi chỉ mở ngăn, không mở thư. Mã H17 thuộc về Phó Dư An. Ông là cựu giáo viên, khách lâu năm, thường ngồi gần cửa sổ đọc sách lịch sử rồi chê phần chú thích. Số điện thoại vẫn hoạt động. Chu Tiểu Mãn gọi, ông nói chiều sẽ đến. Mã C04 không có số điện thoại, chỉ có một địa chỉ cũ đã bị giải tỏa. Mã B22 ghi rõ nếu quá ba năm thì tiêu hủy mà không mở. Tạ Cảnh Hành lấy một hộp riêng, dán nhãn “chờ xác minh tiêu hủy”. Tôi nhìn cách anh vuốt phẳng nhãn, bỗng nhớ những tờ giấy nhắn trong nhà. Anh luôn viết chính xác thứ cần làm, chưa bao giờ viết lý do mình muốn làm. Đường Nhược Lam gửi thư điện tử vào buổi trưa. Bách Diệp chấp nhận không nhận nội dung thư, nhưng muốn tiếp quản chương trình, danh sách mã và thông tin liên hệ để mời độc giả chuyển sang hệ thống mới. Cô ấy lập luận rằng nếu không có dữ liệu, hoạt động tủ thư chỉ còn cái tên. Tôi thấy lý lẽ đó hợp về kinh doanh. Tạ Cảnh Hành nói: “Dữ liệu tồn tại để chúng ta hoàn thành lời hứa cũ, không phải để người mua bắt đầu lời hứa mới.” “Tôi biết. Nhưng nếu xin đồng ý từng người thì sao?” “Được. Người nào đồng ý thì chuyển. Người nào không trả lời thì không chuyển.” “Như vậy giá mua sẽ giảm.” “Đó là giá thật của thứ chúng ta có quyền bán.” Tôi muốn phản bác rằng một thương hiệu không có cộng đồng chỉ là mấy chữ đồng cũ. Nhưng chính vì cộng đồng là con người, chúng tôi không thể bán họ như giá gỗ. Tôi viết thư xin ý kiến. Trước khi gửi, tôi đưa cho Tạ Cảnh Hành và Chu Tiểu Mãn đọc. Chu Tiểu Mãn bỏ cụm “nâng cấp trải nghiệm”, thay bằng “chuyển thông tin của bạn cho đơn vị mới”. Tạ Cảnh Hành thêm hai nút lựa chọn rõ ràng: đồng ý hoặc không đồng ý. Không trả lời được tính là không đồng ý. Tôi hỏi: “Anh không sợ người ta chọn không à?” “Có.” “Vậy sao còn viết thẳng như thế?” “Vì sợ mất một thứ không làm mình có quyền nói mơ hồ.” Câu ấy đâm vào tôi chính xác hơn một lời trách móc. Buổi chiều, Phó Dư An đến. Ông chống gậy, đội mũ len dù trời chưa lạnh. Khi Tạ Cảnh Hành đưa phong bì H17, ông không nhận ngay. “Trong đó là thư tôi viết cho vợ.” Chu Tiểu Mãn hạ giọng. “Bác muốn mang về chứ?” “Bà ấy mất trước ngày tôi hẹn mở thư.” Không ai nói câu chia buồn. Phó Dư An đã nghe đủ trong ba năm. Ông nhìn phong bì, rồi hỏi liệu chúng tôi có thể tiêu hủy mà không mở không. Tạ Cảnh Hành đưa cho ông một tờ lựa chọn: nhận lại, ủy quyền tiêu hủy, hoặc gia hạn giữ đến ngày cụ thể. Ông chọn tiêu hủy, tự tay ký tên. Tôi hỏi: “Bác có muốn ở lại đến khi chúng cháu xử lý không?” Ông lắc đầu. “Không cần. Điều quan trọng là tôi được chọn lại. Lúc gửi, tôi tưởng tương lai sẽ có hai người đọc. Bây giờ chỉ còn một, vậy lá thư ấy không còn là cùng một lá thư nữa.” Trước khi đi, ông quay lại nhìn các kệ đang trống. “Hai đứa đóng cửa thật à?” Tôi nói: “Vâng.” “Tiếc không?” “Có.” “Thế có giữ nhau lại không?” Tôi tưởng ông hỏi về hiệu sách. Tạ Cảnh Hành trả lời trước: “Không dùng tiếc nuối để giữ.” Phó Dư An cười. “Vậy là còn cứu được.” Tôi không biết ông nói thứ gì. Kết quả khảo sát sau hai ngày khiến đề nghị của Bách Diệp mất gần một phần ba giá trị. Chỉ bốn mươi mốt phần trăm thành viên đồng ý chuyển thông tin. Hai mươi ba phần trăm chọn không. Phần còn lại không trả lời. Đường Nhược Lam không nổi giận. Cô ấy gửi bảng định giá mới, giảm khoản mua dữ liệu nhưng tăng khoản mua tên và thiết kế nhận diện. Bách Diệp cũng đồng ý gặp nhân viên. Cuộc họp diễn ra vào ngày thứ mười. Đường Nhược Lam trình bày kế hoạch mở ba phòng đọc trong trung tâm thương mại. Bốn nhân viên có thể chuyển sang, nhưng vị trí và lịch làm chưa được bảo đảm. Hai người còn lại nhận hỗ trợ tìm việc. Chu Tiểu Mãn hỏi: “‘Có thể chuyển sang’ nghĩa là phải phỏng vấn lại?” “Đúng. Chúng tôi cần đánh giá phù hợp.” “Vậy không phải nhận nhân viên. Chỉ là cho quyền nộp đơn.” Đường Nhược Lam đáp bình tĩnh: “Tôi không thể hứa tuyển người chưa qua quy trình của Bách Diệp.” Tôi hiểu lập trường ấy. Nhưng trong bản đề nghị gửi cho tôi, cụm từ “ưu tiên tiếp nhận đội ngũ hiện tại” đã khiến tôi tự dịch thành một điều chắc chắn hơn. Tạ Cảnh Hành hỏi từng câu về lương, giờ làm, bảo hiểm và địa điểm. Anh không nói Bách Diệp vô tình. Anh chỉ buộc mọi lời đẹp phải trở thành câu trả lời có thể ghi vào biên bản. Sau cuộc họp, Chu Tiểu Mãn đóng cửa phòng đọc. “Em không phản đối bán thương hiệu. Em phản đối việc hai người kể chuyện cứu Hồi Đăng rồi dùng bọn em làm phông nền.” Tôi nói: “Chị chưa từng nghĩ như vậy.” “Nhưng chị đã mở đàm phán mà không hỏi bọn em muốn gì.” “Tôi là người chịu trách nhiệm pháp lý.” “Và bọn em là người mất việc.” Tôi không trả lời được. Tạ Cảnh Hành nói: “Tiểu Mãn, em và mọi người có thể chọn một đại diện khác nếu không muốn tham gia thương lượng với tư cách nhân viên Hồi Đăng.” Cô ấy khoanh tay. “Anh đừng nói như sách hướng dẫn quản trị. Anh cũng giấu chuyện của anh với chị Lâm, đúng không?” Tôi quay sang. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Chuyện gì?” “Em không biết. Nhưng mỗi lần chị Lâm hỏi anh đã quyết định gì, anh nhìn giống người giấu một con voi trong xưởng đóng sách.” Anh cúi xuống thu bản ghi chép. “Khi có việc liên quan, anh sẽ nói.” Chu Tiểu Mãn thở dài. “Hai người đúng là sinh ra để kết hôn rồi ly hôn với nhau.” Ngày thứ mười hai, tôi tìm thấy con voi. Chúng tôi tháo kệ trong xưởng để chuyển máy ép sang kho tạm. Phía sau ngăn kéo đựng chỉ sáp có một bì thư của Trung tâm Bảo tồn Sách cổ Nam Kinh. Tôi không mở thư. Phần cửa sổ trên phong bì để lộ dòng tiêu đề: xác nhận tiếp nhận chương trình tu nghiệp mười tám tháng. Ngày gửi là mười bốn tháng trước. Tôi cầm phong bì ra quầy. Tạ Cảnh Hành đang quấn giấy dầu quanh một cuốn gia phả bị bong gáy. Anh nhìn thấy nó thì dừng tay. “Anh đã đi Nam Kinh chưa?” tôi hỏi. “Chưa.” “Chương trình này là gì?” “Tu nghiệp bảo tồn giấy và kỹ thuật đóng sách cổ.” “Anh nộp hồ sơ khi nào?” “Hai năm trước.” “Vì sao không nói với tôi?” Anh tháo găng tay. “Khi có kết quả, em vừa được giao dự án sách nói dài hạn ở Tân Châu. Hồi Đăng cũng bắt đầu có lãi. Nếu anh đi, em phải bỏ việc hoặc gánh cửa hàng một mình.” “Vậy anh từ chối?” “Ừ.” Tôi bật cười. Lần này tiếng cười khiến cổ họng đau. “Mười bốn tháng nay, mỗi lần anh về muộn, tôi nghĩ anh không muốn về nhà. Mỗi lần anh nhìn xưởng, tôi nghĩ anh chán Hồi Đăng. Anh đã từ chối thứ mình muốn rồi dùng im lặng để tôi tự đoán nguyên nhân?” “Anh không muốn em thấy mình mắc nợ.” “Thế nên anh không cho tôi quyền biết?” “Anh đã chọn.” “Anh chọn cả phần của tôi.” Tạ Cảnh Hành nhìn xuống hai bàn tay. Những đầu ngón tay anh dính màu nâu của hồ phục chế. “Anh nghĩ nếu nói, em sẽ đề nghị đi cùng.” “Có thể.” “Em vừa có cơ hội lớn ở Tầm Chương.” “Có thể tôi sẽ không đi.” “Anh không muốn em từ bỏ.” “Còn tôi không muốn sống mười bốn tháng với một người đã chôn mất ước muốn của mình rồi để tôi tưởng anh đang chôn cuộc hôn nhân.” Anh im lặng. Tôi đặt phong bì xuống, đẩy về phía anh. “Đừng cảm ơn tôi vì đã ở lại Tân Châu. Đừng nói anh làm vì tôi. Nếu anh thật sự làm vì tôi, anh phải cho tôi được trả lời.” “Anh biết.” “Không. Anh chỉ biết bây giờ vì tôi tìm thấy lá thư.” Câu ấy làm anh ngẩng lên. Tạ Cảnh Hành không xin lỗi ngay. Lần đầu tiên, tôi biết ơn anh vì điều đó. Một lời xin lỗi quá sớm sẽ biến phát hiện này thành lỗi ứng xử, trong khi nó là một năm đời sống mà tôi không được tham gia. Anh nói: “Anh đã sợ em chọn công việc thay vì anh.” Tôi đứng yên. “Anh không muốn nghe câu trả lời ấy,” anh tiếp tục. “Nên anh tự tạo một câu trả lời dễ chịu hơn. Anh ở lại. Em không phải chọn. Sau đó anh giận vì em không biết anh đã bỏ điều gì.” Đó là câu thành thật tàn nhẫn nhất anh từng nói với tôi. Tôi kéo ghế ngồi. “Tôi cũng sợ anh sẽ chọn xưởng thay vì Hồi Đăng, nên tôi đàm phán với Bách Diệp trước. Nếu có giá đủ tốt, tôi nghĩ anh sẽ không thể phản đối bằng cảm xúc.” “Em muốn biến lựa chọn thành một con số.” “Đúng.” Chúng tôi ngồi hai phía bàn phục chế. Giữa chúng tôi là lá thư nhận học và đề nghị mua thương hiệu. Hai vật chứng của hai kiểu tử tế giống nhau đến đáng ghét. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Nếu quay lại lúc đó, em muốn anh làm gì?” “Tôi muốn anh nói anh đã được nhận. Tôi muốn anh hỏi tôi có muốn cùng tìm cách không.” “Dù câu trả lời có thể là không?” “Đặc biệt vì câu trả lời có thể là không.” Tôi hỏi lại: “Còn anh? Khi nhận thư của Bách Diệp, anh muốn tôi làm gì?” “Cho anh xem trước khi trả lời. Không cần đợi có mức giá. Không cần bảo vệ anh khỏi một cuộc thương lượng thất bại.” Ngoài phòng đọc, Chu Tiểu Mãn đang hướng dẫn khách đóng gói sách. Tiếng băng keo kéo dài rồi đứt. Một âm thanh rất nhỏ, nhưng trong căn phòng yên, nó nghe như thứ gì đó vừa được cắt rời. Tôi nói: “Chúng ta vẫn sẽ ly hôn.” Tạ Cảnh Hành gật đầu. “Anh biết.” “Việc hiểu ra không xóa mười bốn tháng.” “Anh biết.” “Đừng chỉ nói anh biết.” Anh suy nghĩ một lúc. “Anh sẽ liên hệ lại trung tâm Nam Kinh. Không phải để chứng minh gì với em. Để hỏi xem còn chương trình khác không.” “Và nếu có?” “Anh sẽ tự quyết phần của anh, nhưng sẽ nói cho những người bị ảnh hưởng biết trước khi quyết định.” Tôi sửa: “Sẽ hỏi nếu quyết định ấy cần phần hy sinh của người khác.” “Ừ.” Tôi mở máy tính, thêm vào kế hoạch một mục không liên quan trực tiếp đến đóng cửa: mỗi người tự lập danh sách những quyết định đã giấu trong hai năm gần đây. Chỉ ghi việc có ảnh hưởng tới người kia. Không dùng danh sách để tính ai hy sinh nhiều hơn. Tạ Cảnh Hành đọc rồi ký tên. Tôi cũng ký. Đó không phải hòa giải. Nó chỉ là lần đầu tiên chúng tôi đồng ý nhìn thẳng vào cách mình đã làm nhau cô đơn. Danh sách những quyết định đã giấu của tôi có bốn mục. Tôi từng từ chối một chuyến công tác dài ngày vì sợ để Tạ Cảnh Hành một mình trông hiệu sách, nhưng nói với anh rằng dự án không phù hợp. Tôi từng dùng tiền thưởng bù vào khoản sửa mái xưởng mà không ghi trong sổ góp vốn. Tôi từng đề nghị Bách Diệp mua Hồi Đăng. Và tôi đã gặp luật sư hỏi thủ tục ly hôn trước khi nói với anh rằng mình muốn kết thúc. Danh sách của Tạ Cảnh Hành có ba mục. Anh từ chối chương trình Nam Kinh. Anh dùng tiền tiết kiệm riêng trả một phần nợ nhà cung cấp khi Hồi Đăng thiếu dòng tiền, rồi ghi thành chiết khấu. Và sáu tháng trước, anh đã thuê một phòng nhỏ gần xưởng của người bạn, định chuyển ra nhưng cuối cùng chỉ ngủ lại xưởng Hồi Đăng. Tôi đọc đến mục cuối, hỏi: “Vì sao anh không chuyển?” “Anh sợ nếu rời nhà, em sẽ coi đó là câu trả lời.” “Anh ngủ ở xưởng gần như mỗi tối cũng là một câu trả lời.” “Anh biết.” Lần này anh nói thêm: “Nhưng đó là câu trả lời hèn hơn. Anh không đi, cũng không ở.” Tôi gấp hai tờ giấy, đặt vào bìa hồ sơ thanh lý. Chúng tôi không ôm nhau. Không ai hứa sẽ thay đổi ngay. Sau nhiều năm dùng hành động để tránh lời nói, tôi không còn tin một cuộc trò chuyện tốt có thể lập tức biến thành một cuộc hôn nhân tốt. Ngày thứ mười bốn, Bách Diệp gửi phụ lục mới. Vì tỷ lệ độc giả đồng ý chuyển dữ liệu thấp, họ bỏ phương án nhận bốn nhân viên. Thay vào đó, mọi nhân viên Hồi Đăng được quyền phỏng vấn ưu tiên. Khoản mua thương hiệu giảm thêm mười lăm phần trăm. Đường Nhược Lam giữ đề nghị thuê Tạ Cảnh Hành làm cố vấn, nhưng chỉ nếu anh đồng ý để Bách Diệp sử dụng hình ảnh xưởng thủ công trong chiến dịch khai trương. Chu Tiểu Mãn đọc xong, nói: “Vậy là họ mua câu chuyện về chúng ta, không mua chúng ta.” Đường Nhược Lam ngồi đối diện cô ấy. “Tôi không muốn dùng từ dễ nghe. Bách Diệp mua một tài sản thương hiệu. Nhân sự phải phù hợp mô hình mới. Nếu các bạn không chấp nhận, tôi hiểu.” Tôi hỏi: “Nếu bỏ toàn bộ dữ liệu và chương trình tủ thư, chỉ bán tên, nhận diện và tài sản hữu hình thì sao?” “Chúng tôi vẫn mua, nhưng giá chỉ còn khoảng một nửa đề nghị đầu.” Số tiền ấy đủ hoàn tất nghĩa vụ. Không đủ để mỗi người bắt đầu lại thoải mái, nhưng đủ sạch. Tạ Cảnh Hành nói anh cần thời gian xem phụ lục. Chu Tiểu Mãn yêu cầu mỗi nhân viên nhận một bản mô tả vị trí mới trước khi quyết định có phỏng vấn. Đường Nhược Lam đồng ý trả lời trong hai ngày. Sau cuộc họp, tôi lấy máy tính tính lại tất cả khoản phải trả. Nếu bán ở mức giá mới, chúng tôi dư một khoản nhỏ. Nếu không bán, tiền bồi thường mặt bằng cộng doanh thu thanh lý vẫn thiếu khoảng một trăm hai mươi nghìn tệ, chủ yếu do hoàn thẻ, cọc sự kiện cuối và phí trả sách liên tỉnh. Tôi có thể bù một nửa bằng tiền tiết kiệm. Phần còn lại phải vay hoặc bán máy ép lớn. Chiếc máy ép là công cụ đắt nhất của Tạ Cảnh Hành. Nếu bán, anh không thể tiếp tục nhận phục chế khổ lớn. Tôi nhìn con số rất lâu rồi gọi cho luật sư doanh nghiệp. Cô ấy xác nhận tôi có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình nếu ưu tiên chào bán cho đồng sở hữu theo điều lệ. Nếu Tạ Cảnh Hành từ chối hoặc không phản hồi đúng hạn, tôi có thể bán cho Bách Diệp, nhưng việc chuyển thương hiệu và dữ liệu vẫn cần nghị quyết riêng. Tôi soạn đề nghị bán phần vốn của mình. Lý do của tôi rất hợp lý. Tôi muốn dùng tiền bán phần sở hữu để bảo đảm lương và hoàn thẻ. Nếu Bách Diệp trở thành đồng sở hữu, họ có động lực tăng giá mua toàn bộ. Tạ Cảnh Hành có quyền mua trước. Không ai bị giấu điều khoản. Tôi gửi đề nghị vào hòm thư chung, cc luật sư và Chu Tiểu Mãn. Ba phút sau, Chu Tiểu Mãn chạy từ kho lên. “Chị vừa làm gì vậy?” “Tôi mở một thủ tục đúng điều lệ.” “Chị đang bán một nửa Hồi Đăng cho bên muốn mua cả cộng đồng.” “Không có dữ liệu nào tự chuyển theo phần vốn.” “Nhưng chị tạo áp lực buộc anh Tạ phải mua hoặc ngồi cùng Bách Diệp.” Tôi nói: “Đó là quyền hợp pháp của tôi.” “Đúng. Và em có quyền nói chị đang dùng thủ tục để khỏi hỏi người khác họ có muốn sống với hậu quả không.” Tạ Cảnh Hành bước vào sau cô ấy. Anh không lớn tiếng. “Anh từ chối mua phần vốn của em.” “Anh chưa có đủ thời gian xem.” “Anh không mua vì nếu anh mua bằng tiền tiết kiệm còn lại, chúng ta vẫn thiếu tiền trả người khác. Nếu vay, anh sẽ biến Hồi Đăng thành lý do phải kiếm tiền thêm nhiều năm.” “Vậy để Bách Diệp mua.” “Anh phản đối chuyển cho họ trước khi chốt quyền nhân viên và dữ liệu.” “Tôi đã tách dữ liệu.” “Nhưng em cố biến thời hạn trả nợ thành lý do để mọi người chấp nhận một cổ đông mới.” Tôi đứng bật dậy. “Vậy anh có phương án nào không? Hay anh chỉ bảo vệ mọi nguyên tắc cho đến khi không còn tiền trả lương?” Tạ Cảnh Hành đặt lên bàn ba báo giá. Một xưởng ở Hàng Châu muốn mua máy ép. Một trường nghề muốn mua bộ dụng cụ đóng sách. Một nhà sưu tập muốn mua chiếc bàn cắt cũ. “Tổng cộng đủ bù thiếu hụt,” anh nói. Tôi nhìn anh. “Anh bán hết xưởng à?” “Chỉ tài sản của anh và phần tài sản Hồi Đăng được hai bên đồng ý.” “Anh lại hy sinh.” “Không. Anh đã hỏi giá, chưa ký. Anh đưa phương án để mọi người cùng chọn.” Câu trả lời ấy chặn tôi lại. Chu Tiểu Mãn kéo ghế ngồi xuống. “Còn một phương án nữa. Hủy sự kiện chia tay lớn. Tiền cọc mất, nhưng chi phí còn lại giảm. Trả sách sớm cho người ở xa. Bán sách thuộc sở hữu Hồi Đăng theo gói. Nhân viên nào tìm được việc mới có thể nghỉ sớm mà vẫn nhận đủ lương đã cam kết.” Tôi nói: “Sự kiện cuối là nguồn doanh thu chính.” “Cũng là chi phí chính. Và nó đang biến việc đóng cửa thành một màn biểu diễn để bán giá cao hơn.” Tạ Cảnh Hành hỏi: “Nếu hủy, còn thiếu bao nhiêu?” Tôi tính lại. Bốn mươi bảy nghìn. Chu Tiểu Mãn nói sáu nhân viên có thể tổ chức hai ngày bán sách bình thường, không sân khấu, không quà lưu niệm. Cô ấy không hứa đủ doanh thu. Chỉ hứa không tạo thêm nợ. Tôi nhìn bản đề nghị chuyển vốn trên màn hình. Nó đúng thủ tục, minh bạch và vẫn là một cách buộc người khác chạy theo quyết định của tôi. Tôi rút đề nghị. Luật sư gọi xác nhận. Tôi nói rõ lý do: chưa có đồng thuận về hậu quả đối với nhân viên, dữ liệu và tài sản vận hành. Cô ấy nhắc việc rút không ngăn tôi gửi lại sau. Tôi nói tôi hiểu. Tạ Cảnh Hành không khen tôi. Chu Tiểu Mãn cũng không. Họ chỉ bắt đầu cùng tôi lập ngân sách mới. Tôi thấy nhẹ nhõm và khó chịu vì không ai thưởng cho một việc lẽ ra tôi phải làm từ đầu. Ngày thứ mười sáu, chúng tôi thông báo hủy sự kiện chia tay. Trên mạng, có người trách Hồi Đăng keo kiệt. Có người nói hiệu sách đóng cửa còn muốn kiếm tiền lần cuối. Một tài khoản đăng ảnh quầy trống, viết rằng chúng tôi đã bán sạch dữ liệu cho tập đoàn. Bách Diệp lập tức yêu cầu Hồi Đăng đính chính để tránh ảnh hưởng đàm phán. Tôi soạn một thông báo ngắn: Hồi Đăng chưa chuyển bất kỳ dữ liệu cá nhân hoặc nội dung thư nào; mọi thương lượng chưa kết thúc; hiệu sách ưu tiên hoàn tiền, trả sách và quyền lựa chọn của người dùng. Tạ Cảnh Hành đọc rồi hỏi: “Có cần nói chúng ta sẽ không bán dữ liệu của người không đồng ý không?” “Tôi đã viết chưa chuyển.” “Chưa chuyển khác với sẽ không chuyển.” Tôi sửa câu ấy. Chu Tiểu Mãn thêm đường dẫn kiểm tra trạng thái hoàn thẻ và nhận thư. Chúng tôi cùng ký tên, không dùng biểu tượng thương hiệu. Bình luận vẫn hỗn loạn, nhưng số người đến nhận sách tăng lên. Một số mang theo túi giấy, giúp đóng gói. Một nhóm sinh viên đề nghị làm tình nguyện; Chu Tiểu Mãn từ chối ca làm miễn phí, chỉ nhận họ giúp chuyển đúng sách của chính mình. Đến ngày thứ mười tám, chúng tôi nhận được câu trả lời cuối của thành viên. Chưa đến một nửa đồng ý chuyển thông tin. Kho thư còn mười hai người chọn nhận lại, chín người chọn tiêu hủy, ba người gia hạn nhờ một thư viện cộng đồng giữ hộ, bảy người không liên lạc được. Bách Diệp rút quyền tiếp quản chương trình tủ thư khỏi đề nghị. Đường Nhược Lam nói thẳng: “Nếu không có dữ liệu và nhân sự bảo đảm, chúng tôi chỉ mua tên Hồi Đăng cùng thiết kế nhận diện. Tôi cần câu trả lời trong hai ngày.” Tôi hỏi: “Nếu chúng tôi không bán?” “Bách Diệp sẽ tự xây thương hiệu mới.” “Cô có thấy tiếc không?” “Có. Nhưng tiếc không phải căn cứ đầu tư.” Tôi bất ngờ thích cô ấy hơn. Tạ Cảnh Hành hỏi nhân viên lần cuối. Không ai muốn tên Hồi Đăng tiếp tục trong một chuỗi mà không có cam kết cụ thể với cộng đồng cũ. Hai người vẫn muốn phỏng vấn Bách Diệp dưới tư cách cá nhân. Đường Nhược Lam nhận hồ sơ của họ, không gắn với giao dịch thương hiệu. Chúng tôi bỏ phiếu. Sáu nhân viên có tiếng nói tư vấn, ba người có quyền quyết định theo hồ sơ pháp lý: tôi, Tạ Cảnh Hành và đại diện chủ nợ nhỏ do các nhà ký gửi chọn. Kết quả thống nhất: không bán tên Hồi Đăng. Tôi là người cuối cùng nói đồng ý. Ngay khi quyết định được ghi vào biên bản, tôi biết hiệu sách chắc chắn sẽ biến mất. Không còn một khoản mua đủ lớn. Không có mặt bằng mới. Không có nhà đầu tư bí mật. Hai ngày bán sách có thể giảm thiếu hụt, nhưng không thể cứu pháp nhân. Tôi đi qua từng kệ, chạm vào những miếng nhãn do mình viết. Văn học đương đại. Lịch sử. Thiếu nhi. Nghệ thuật sống. Trên chiếc kệ thấp gần cửa sổ còn một vết xước do chúng tôi kéo sai hướng vào năm đầu tiên. Tôi từng định sơn lại nhiều lần, rồi quên. Tạ Cảnh Hành đứng phía sau, cách tôi một khoảng đủ để không biến nỗi buồn thành một cái ôm chưa được hỏi. Tôi nói: “Hồi Đăng sẽ đóng thật.” “Ừ.” “Tôi đã nghĩ nếu bán được giá tốt, ít nhất nó vẫn tồn tại.” “Tên có thể tồn tại. Nhưng lời hứa bên trong sẽ đổi.” “Tôi biết.” Anh im lặng, rồi hỏi: “Anh có thể đứng cạnh em không?” Tôi gật đầu. Anh bước tới, không chạm vào tôi. Chúng tôi đứng trước kệ sách bị xước, nhìn một nơi sắp không còn. Không có nhạc, không có khách, không có lời nói đủ đẹp để biến mất mát thành đúng đắn. Tôi khóc trước. Tạ Cảnh Hành không nói đừng khóc. Anh đưa tôi một chiếc khăn giấy, rồi đứng đó cho đến khi tôi tự thở đều lại. Tối ấy, chúng tôi bán máy ép lớn cho trường nghề với điều kiện họ tự vận chuyển sau ngày đóng cửa. Bán bộ dụng cụ dư cho một xưởng mới. Giữ lại chiếc bàn cắt cũ vì người mua trả quá thấp và Tạ Cảnh Hành vẫn cần nó cho các đơn cuối. Khoản thiếu hụt giảm còn mười chín nghìn. Tôi dùng tiền thưởng của mình bù chín nghìn năm trăm. Tạ Cảnh Hành bù phần bằng đúng số đó. Không ai ghi là cho vay. Không ai ghi là hy sinh. Chúng tôi chỉ hoàn thành nghĩa vụ của hai người từng cùng ký tên mở một cửa hàng. Ngày thứ hai mươi, tòa nhà bắt đầu dựng rào khảo sát ngoài cửa. Mỗi khi máy khoan thử vang lên, bụi từ trần rơi xuống ánh đèn. Hồi Đăng chưa đóng, nhưng thành phố đã bắt đầu học cách sống mà không có nó. Ngày thứ hai mươi mốt, tôi nhận được thư mời làm việc từ một nền tảng sách nói ở Thượng Hải. Họ muốn tôi phụ trách nhóm bản quyền, mức lương cao hơn hiện tại gần một nửa. Công việc bắt đầu sau sáu tuần, đủ thời gian hoàn tất thanh lý. Hai năm trước, tôi sẽ coi đó là lời giải rõ ràng: rời Tân Châu, rời Hồi Đăng, rời một cuộc hôn nhân đã cạn. Nhưng trong thư có một dòng khiến tôi ngồi nhìn rất lâu: ứng viên cần xác nhận khả năng chuyển nơi ở trước ngày hai mươi lăm. Tôi in thư ra, đặt vào bìa quyết định chung rồi tự lấy lại. Công việc ấy không phải quyết định chung nữa. Buổi tối, tôi nói với Tạ Cảnh Hành khi anh đang tháo nốt bảng dụng cụ trên tường xưởng. “Tôi được mời sang Thượng Hải.” Tua vít trong tay anh dừng lại, nhưng anh không quay lưng về phía tôi quá lâu. “Em muốn đi không?” “Tôi chưa biết.” “Cần trả lời khi nào?” “Ngày hai mươi lăm.” Anh gật đầu. “Em có muốn anh cùng xem điều kiện không?” Tôi đã chuẩn bị tinh thần cho một câu như Thượng Hải xa lắm, hoặc công việc ấy tốt cho em. Câu hỏi của anh khiến phần phòng vệ trong tôi không biết phải đặt ở đâu. “Tối mai,” tôi nói. “Hôm nay tôi chỉ muốn anh biết.” “Được.” Anh tiếp tục tháo bảng. Tôi đứng lại thêm vài giây. “Anh không hỏi chuyện đó ảnh hưởng thế nào tới chúng ta à?” Tạ Cảnh Hành đặt tua vít xuống. “Có ảnh hưởng. Nhưng nếu anh hỏi trước khi em biết mình muốn gì, em sẽ lại biến câu trả lời thành cách chăm sóc anh.” Tôi không thích việc anh đã học đúng bài học nhanh đến thế. Nó khiến tôi vừa nhẹ nhõm vừa có cảm giác mình đang bị bỏ lại. “Anh cũng có chuyện cần nói,” anh tiếp tục. “Trung tâm Nam Kinh giới thiệu anh sang chương trình sáu tháng ở Tô Châu. Bắt đầu sau hai tháng. Không phải suất cũ, không có bảo đảm nhận vào. Anh phải làm lại hồ sơ và phỏng vấn.” “Anh muốn nộp không?” “Muốn.” “Vậy nộp đi.” Câu trả lời ra khỏi miệng quá nhanh. Tôi nhận ra mình lại đang cố làm người rộng lượng trước khi kịp cảm thấy. Tôi sửa: “Tôi muốn nói là đó là phần anh được tự quyết. Còn tôi cần thời gian để biết mình cảm thấy thế nào.” Tạ Cảnh Hành gật đầu. “Anh sẽ nộp. Khi em muốn nói phần còn lại, anh nghe.” Đêm đó, tôi về căn hộ trước. Trên bàn ăn vẫn còn hai chiếc cốc không cùng bộ. Một chiếc men trắng của tôi, một chiếc nâu sẫm của anh. Tôi từng mua cốc mới giống nhau nhưng Tạ Cảnh Hành không dùng vì tay cầm quá nhỏ. Tôi đã giận một buổi tối, cho rằng anh không trân trọng ý muốn tạo cảm giác gia đình. Tôi chưa từng hỏi vì sao anh vẫn dùng chiếc cốc nâu sứt miệng. Tôi cầm lên mới thấy dưới đáy có chữ Hồi Đăng viết bằng mực nung. Đó là chiếc cốc đầu tiên chúng tôi đặt làm thử cho hiệu sách. Tay cầm rộng, xấu và rất chắc. Có những chi tiết tôi từng đọc như bằng chứng anh không thay đổi. Thật ra, chúng chỉ chứng minh tôi không hỏi. Sáng hôm sau, chúng tôi cùng xem thư mời Thượng Hải. Tạ Cảnh Hành hỏi về quyền quyết định nội dung, số ngày làm từ xa và điều khoản thử việc. Anh không hỏi tôi sẽ thuê nhà ở đâu. Không nói khoảng cách giữa Thượng Hải và Tô Châu chỉ hơn nửa giờ tàu cao tốc. Tôi cũng không hỏi anh có định chọn chương trình gần tôi hay không. Sau khi đọc xong, anh nói: “Công việc tốt. Nhưng họ muốn em quản lý nhiều hơn làm nội dung.” “Đó cũng là điều tôi lo.” “Em muốn tiếp tục làm bản quyền hay muốn quản lý?” “Tôi muốn được quyết định những dự án nào đáng làm. Nhưng tôi không muốn dành cả ngày cho báo cáo.” “Vậy hỏi họ tỷ lệ công việc.” Tôi viết thư hỏi. Trước khi gửi, tôi không đưa anh duyệt. Anh nhìn thấy và mỉm cười rất nhẹ. “Anh cười gì?” “Không có gì.” “Anh vừa thấy tôi tự gửi một thư điện tử mà không xin ý kiến, không cần xúc động đến thế.” “Anh không xúc động.” “Khóe miệng anh phản đối.” Đó là lần đầu tiên chúng tôi trêu nhau kể từ khi nộp đơn ly hôn. Niềm vui xuất hiện quá bình thường, khiến tôi đau hơn cả lúc cãi nhau. Ngày thứ hai mươi ba, hai ngày bán sách bắt đầu. Không có sân khấu. Không có banner “Tạm biệt Hồi Đăng”. Chu Tiểu Mãn viết bằng phấn lên bảng: sách của hiệu giảm giá, sách ký gửi theo giá chủ sách xác nhận, thẻ đọc được hoàn ở quầy bên trái, thư được xử lý ở quầy bên phải. Ai đến để chụp ảnh xin đừng cản lối đóng gói. Khách xếp hàng từ chín giờ. Một số người ôm những chồng sách cao đến cằm. Có người mang hộp tới giúp người già. Những độc giả từng chọn không chuyển dữ liệu vẫn đến mua. Tôi thấy nhẹ nhõm vì họ có thể từ chối một phần của Hồi Đăng mà không phải từ chối toàn bộ ký ức ở đây. Phó Dư An đến lúc gần trưa. Ông không mua sách, chỉ mang một túi quýt cho nhân viên. Ông hỏi lá thư H17 đã được xử lý chưa. Tạ Cảnh Hành đưa ông xem biên bản tiêu hủy, không có hình ảnh nội dung. Ông đọc kỹ rồi ký xác nhận. “Nhẹ người không bác?” Chu Tiểu Mãn hỏi. “Không nhẹ hơn,” ông đáp. “Nhưng đúng hơn.” Ông quay sang tôi. “Hai đứa thì sao?” “Tám ngày nữa ly hôn có hiệu lực.” “Bác hỏi không phải giấy tờ.” Tôi nói thật: “Chúng cháu đang học cách không dùng kết quả để chứng minh quá trình có ý nghĩa.” Phó Dư An gật gù. “Nghe như người làm xuất bản.” Tạ Cảnh Hành nói: “Cháu thấy khá dễ hiểu.” “Tất nhiên. Cậu là đối tượng được biên tập.” Tôi bật cười. Tạ Cảnh Hành cũng cười. Đến cuối ngày thứ hai mươi bốn, doanh thu vượt dự tính. Chúng tôi đủ thanh toán toàn bộ nghĩa vụ mà không phải bán chiếc bàn cắt. Sáu nhân viên nhận đủ lương và khoản hỗ trợ nghỉ việc đã cam kết. Hai người được Bách Diệp mời phỏng vấn. Chu Tiểu Mãn nhận vị trí quản lý tại một thư viện cộng đồng, nhưng yêu cầu bắt đầu sau ngày bàn giao để ở lại đến cuối. Tôi nói cô ấy không cần làm vậy. Cô ấy trả lời: “Em ở lại vì em chọn. Chị đừng cướp niềm vui đó bằng cách bảo em nên đi.” Tôi giơ hai tay đầu hàng. “Được. Nhưng em phải dùng hết ngày phép hoặc nhận tiền quy đổi.” “Chuyện đó em đồng ý.” Buổi tối, khi đếm tiền xong, Tạ Cảnh Hành lấy từ túi áo một chiếc chìa khóa mới. Anh nói đã thuê một góc xưởng chung trong sáu tháng. Nơi đó đủ bàn cắt và dụng cụ nhỏ, không có máy ép lớn. “Anh vẫn làm tiếp?” tôi hỏi. “Làm các đơn phù hợp. Nếu được nhận chương trình Tô Châu, anh tạm dừng.” “Anh không cần giữ Hồi Đăng để chứng minh mình là thợ đóng sách.” “Em cũng không cần bán được Hồi Đăng để chứng minh bảy năm qua không thất bại.” Tôi nhìn các kệ trống. “Tôi chưa tin hoàn toàn.” “Anh cũng chưa.” Chúng tôi khóa cửa lúc gần nửa đêm. Trên đường về, tôi nhận thư trả lời từ Thượng Hải. Công việc dành khoảng bảy mươi phần trăm thời gian cho quản lý, hai mươi phần trăm đàm phán, mười phần trăm biên tập. Họ không chấp nhận làm từ xa trong sáu tháng đầu. Tôi biết mình không muốn công việc ấy. Mức lương vẫn làm tôi tiếc. Danh thiếp vẫn đẹp. Thượng Hải vẫn là một cách rời đi đủ xa để không ai hỏi vì sao tôi thất bại trong hôn nhân và hiệu sách. Nhưng đó là phần thưởng giả của riêng tôi: một cuộc sống trông như tiến lên chỉ vì nó ở thành phố lớn hơn. Tôi từ chối thư mời. Tạ Cảnh Hành không hỏi tôi có làm vì anh không. Anh chỉ nói: “Em có kế hoạch khác chưa?” “Tôi muốn đề nghị Tầm Chương lập một nhóm thử nghiệm bản quyền cho tác phẩm độc lập. Tôi đã làm việc đó ngoài giờ hai năm, nhưng chưa từng yêu cầu chức danh hoặc ngân sách.” “Vì sao?” “Tôi nghĩ nếu yêu cầu rồi bị từ chối, tôi sẽ phải thừa nhận nơi đó không cho tôi thứ mình muốn.” “Nghe quen.” “Anh đừng tranh phần sai lầm với tôi.” “Anh không dám.” Tôi viết đề án trong ba đêm. Không dùng Hồi Đăng như một câu chuyện cảm động. Tôi đưa số liệu từ công việc của mình, tách mọi dữ liệu hiệu sách, đề xuất ngân sách nhỏ và một giai đoạn thử sáu tháng. Tôi gửi thẳng cho giám đốc Tầm Chương. Ngày thứ hai mươi lăm, danh sách việc giấu được mở lần cuối. Chúng tôi ngồi trong phòng đọc chỉ còn bốn ghế. Mỗi người đọc phần của mình, không biện hộ bằng ý tốt. Tôi nói tôi đã muốn ly hôn từ một năm trước nhưng chờ đến khi Hồi Đăng ổn hơn. Tôi nghĩ nếu hiệu sách đủ khỏe, Tạ Cảnh Hành sẽ ít tổn thương. Thực tế, tôi dùng công việc để trì hoãn một cuộc nói chuyện mà anh có quyền được nghe. Anh nói đã biết tôi muốn rời đi từ lâu. Anh không hỏi vì sợ câu trả lời, rồi dùng việc sửa sách và ngủ ở xưởng để khiến khoảng cách có vẻ do bận rộn, không phải do lựa chọn. “Tôi từng mong anh ngoại tình,” tôi thú nhận. Tạ Cảnh Hành nhìn tôi kinh ngạc. “Không phải thật sự mong. Nhưng nếu có một người thứ ba, ít nhất chúng ta sẽ có lý do dễ kể. Tôi có thể giận. Anh có thể xin lỗi hoặc không. Chúng ta không cần thừa nhận hai người tử tế vẫn có thể làm nhau cô đơn.” “Anh không có ai khác.” “Tôi biết.” “Anh từng nghĩ em ghét nghề của anh.” “Tôi không ghét. Tôi ghét việc mọi người khen anh hy sinh vì hiệu sách, còn tôi phải giữ sổ để những hy sinh ấy không làm chúng ta phá sản.” “Anh đã biến em thành người luôn nói không.” “Và tôi biến anh thành người không hiểu tiền, để mọi quyết định tài chính thuộc về tôi.” Chúng tôi nhìn nhau. Không ai hoàn toàn vô tội. Cũng không ai là phản diện. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Nếu lúc này không có Hồi Đăng, không có đơn ly hôn, em có muốn ở cùng anh không?” Tôi hít vào chậm. “Không.” Anh nhắm mắt một thoáng, rồi gật đầu. Tôi nói tiếp: “Tôi chưa muốn sống chung. Chưa muốn quay lại làm vợ anh. Tôi muốn biết mình là ai khi không quản lý cuộc đời cả hai. Nhưng tôi vẫn muốn gặp anh. Nếu sau khi ly hôn, anh còn muốn.” “Anh muốn.” “Anh có thể đổi ý.” “Em cũng vậy.” Đó không phải câu trả lời viên mãn mà người ta mong ở một câu chuyện tình. Nhưng khi nói ra, tôi cảm thấy lần đầu tiên chúng tôi đang đứng trong cùng một căn phòng, không phải hai căn phòng tưởng tượng được dựng bằng nỗi sợ của mỗi người. Ngày thứ hai mươi sáu, Tầm Chương đồng ý cho tôi trình bày đề án. Trung tâm Tô Châu mời Tạ Cảnh Hành phỏng vấn trực tuyến. Chúng tôi không ăn mừng thay nhau. Chúng tôi mua hai bát mì ở quán đầu phố, mỗi người tự gọi món mình muốn. Tôi gọi mì chua cay. Anh gọi mì nước trong. Năm năm sống chung, tôi luôn bảo quán giảm cay vì dạ dày anh không tốt, rồi ăn phần nhạt cùng anh. Tạ Cảnh Hành luôn nghĩ tôi thích vị đó. Khi hai bát được đặt xuống, anh nhìn màu nước dùng đỏ của tôi. “Em ăn cay như vậy từ bao giờ?” “Từ trước khi cưới.” “Vì sao ở nhà em không nấu?” “Vì anh không ăn được.” “Em có thể nấu hai nồi.” “Tôi thấy phiền.” “Vậy vì sao bây giờ lại gọi?” “Tôi đang tập chịu một chút phiền để không biến nó thành oán trách.” Anh đẩy cốc nước về phía tôi. “Anh đang tập không coi việc em ăn khác món là dấu hiệu chúng ta không hợp.” Tôi ăn một miếng, cay đến chảy nước mắt. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Có cần đổi không?” “Không. Tôi chọn rồi.” Anh bật cười. Tôi cũng cười, vừa uống nước vừa nghĩ một cuộc hôn nhân có thể tan vỡ vì những việc lớn, nhưng cũng có thể cạn dần qua hàng trăm bát mì mà không ai gọi đúng món mình muốn. Bốn ngày cuối cùng của Hồi Đăng không có biến cố lớn. Chúng tôi trả nốt sách, dán mã lên những thùng cuối, tháo rèm và gọi người nhận bàn ghế. Chu Tiểu Mãn bàn giao hồ sơ nhân sự rồi bắt từng người ký xác nhận đã nhận đủ tiền. Đường Nhược Lam gửi lời mời phỏng vấn chính thức cho hai nhân viên. Cô ấy không nhắc lại chuyện mua thương hiệu. Tôi trình bày đề án ở Tầm Chương vào sáng ngày thứ hai mươi tám. Giám đốc không đồng ý chức danh tôi đề xuất, nhưng chấp nhận mở nhóm thử nghiệm ba người trong sáu tháng, có ngân sách riêng và quyền chọn ba dự án đầu. Tôi yêu cầu ghi rõ tiêu chí đánh giá. Ông ấy hỏi vì sao lần này tôi đột nhiên cứng rắn. Tôi nói: “Vì tôi không muốn tiếp tục làm thêm một công việc rồi hy vọng người khác tự nhận ra nó quan trọng.” Ông ấy bật cười, nhưng vẫn sửa biên bản. Tạ Cảnh Hành phỏng vấn chương trình Tô Châu cùng ngày. Anh không kể mình đã từ chối Nam Kinh vì vợ, chỉ trình bày những kỹ thuật còn thiếu và kế hoạch duy trì đơn hàng trong sáu tháng. Khi trung tâm hỏi có vướng bận gia đình không, anh đáp rằng anh đang hoàn tất ly hôn và đã tự sắp xếp công việc. Không có ai phải chờ anh trở về. Tối ấy, chúng tôi đổi thông tin về hai cuộc họp. Không ai nói “em thấy chưa” hoặc “anh đã bảo rồi”. Tôi nhận ra khích lệ có thể đơn giản là nghe một người kể về lựa chọn của họ mà không lập tức biến mình thành nhân vật trung tâm. Ngày thứ hai mươi chín, chúng tôi xử lý bảy lá thư cuối không liên lạc được. Theo điều khoản gửi ban đầu, hết thời hạn Hồi Đăng được tiêu hủy mà không mở. Chu Tiểu Mãn đọc từng mã. Tôi đối chiếu ngày. Tạ Cảnh Hành đưa phong bì qua máy hủy tài liệu loại kín. Giấy rơi vào thùng niêm phong, sau đó chuyển cho đơn vị tái chế bảo mật. Không ai biết trong đó viết gì. Tôi từng nghĩ mọi bí mật đều phải được mở thì câu chuyện mới kết thúc. Nhưng có những thứ được khép lại đúng cách chính vì không ai chiếm quyền đọc. Buổi chiều, Phó Dư An mang tới một cuốn sổ trắng do ông tự khâu chỉ. Ông đặt lên quầy, nói tặng Hồi Đăng ghi lưu bút. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Bác muốn tặng cửa hàng hay tặng chúng cháu?” Ông suy nghĩ rồi nói: “Tặng những người làm ở đây. Ai muốn viết thì viết. Không bán, không trưng bày, không đưa lên mạng.” Chu Tiểu Mãn đặt sổ ở bàn nghỉ. Sáu nhân viên viết trước. Tôi không đọc trang của họ. Tôi viết ở trang gần cuối: Hồi Đăng đã đóng cửa sau bảy năm. Mọi khoản lương, hoàn thẻ, sách ký gửi và thư đều được xử lý theo lựa chọn của người có quyền. Tôi cảm ơn những người đã làm việc ở đây và xin lỗi vì nhiều lần dùng hai chữ “chúng ta” khi chưa hỏi đủ từng người. Tạ Cảnh Hành viết sau tôi. Anh che trang bằng tay, bảo tôi không được nhìn. “Tôi tưởng anh đã bỏ thói quen giấu.” “Quyền riêng tư khác với giấu một quyết định ảnh hưởng tới em.” “Anh tiến bộ nhanh thật.” “Nhờ học phí đắt.” Tôi không đọc. Sáng ngày ba mươi, chúng tôi đến trung tâm hộ tịch xác nhận ly hôn. Nhân viên lần trước vẫn ngồi ở quầy. Cô ấy kiểm tra giấy tờ, hỏi lần cuối hai bên có tự nguyện không. Tạ Cảnh Hành nói có. Tôi cũng nói có. Không ai chạy vào phút cuối. Không có cuộc điện thoại báo hiệu một bí mật mới. Chiếc máy bán nước vẫn không nhận tiền giấy. Chúng tôi ký tên. Nhân viên nói giấy xác nhận điện tử có hiệu lực lúc tám giờ ba mươi tối, bản giấy có thể nhận sau. Cô ấy chúc chúng tôi thuận lợi. Ra khỏi tòa nhà, trời không mưa. Tạ Cảnh Hành hỏi tôi có muốn ăn sáng không. Tôi nói chưa. Anh không hỏi lại. Chúng tôi về Hồi Đăng mở cửa lần cuối. Khách đến nhận những món đã hẹn. Trường nghề chuyển máy ép. Người mua giá sách mang theo xe tải quá nhỏ, phải chạy hai chuyến. Chu Tiểu Mãn kiểm từng phòng, trả chìa khóa tủ cho chủ nhà. Đến chiều, Hồi Đăng chỉ còn quầy, tấm biển cửa và ba chiếc đèn. Một cô gái trẻ đến lúc bảy giờ năm mươi. Cô ấy từng gửi thư cho chính mình vào năm đầu đại học, hẹn năm năm sau nhận. Mã của cô thuộc nhóm đã liên hệ được nhưng chưa đến. Chu Tiểu Mãn gọi lần cuối vào buổi sáng, cô từ thành phố bên cạnh bắt tàu về. Tạ Cảnh Hành kiểm căn cước, đưa phong bì. Cô gái cầm nó rất lâu rồi hỏi có thể ngồi đọc tại chỗ không. Phòng đọc không còn ghế. Tôi lấy chiếc ghế gấp cuối cùng từ kho, đặt gần cửa sổ. Cô đọc thư trong mười phút. Khi gấp lại, cô vừa cười vừa khóc. Trước khi đi, cô hỏi: “Hiệu sách có mở ở nơi khác không?” Tôi đáp: “Không. Hồi Đăng kết thúc ở đây.” Cô thất vọng, nhưng gật đầu. “Vậy cảm ơn vì đã chờ tôi.” Sau khi cô gái trẻ đi khỏi, Hồi Đăng không còn khách nào phải chờ. Đồng hồ chỉ tám giờ bốn mươi bảy. Tôi xoay tấm biển sang “Đã đóng” lần cuối, còn Tạ Cảnh Hành tháo chiếc đèn đồng trên quầy. Điện thoại rung ngay khi căn phòng tối đi. Giấy xác nhận ly hôn đã có hiệu lực từ tám giờ ba mươi. Lần này, nghe nhân viên hộ tịch đọc ngày giờ, tôi không còn thấy đó là một thông báo rơi xuống giữa khoảng trống. Ba mươi ngày vừa qua đã cho chúng tôi đủ thời gian để biết điều gì đang kết thúc và điều gì không được phép núp sau sự kết thúc ấy. Tôi nói sẽ tự đến nhận bản giấy, rồi cúp máy. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Xong rồi à?” “Xong rồi.” Anh gật đầu, mở ngăn kéo cuối cùng chưa niêm phong và lấy ra một tấm vé xem phim đã hết hạn ba năm. Anh đặt nó xuống cạnh hai chiếc chìa khóa. Đó là vé của bộ phim chúng tôi từng định xem vào ngày kỷ niệm cưới thứ hai. Tối ấy, một đường ống ở Hồi Đăng vỡ, chúng tôi ở lại lau nước đến sáng. Tôi đã giữ hai vé trong ngăn kéo rồi quên mất. “Lâm Vãn Thu, ngày mai em có rảnh không?” anh hỏi. “Có việc gì?” “Anh muốn mời em đi xem một bộ phim.” “Vé hết hạn rồi.” “Anh biết. Anh không dùng nó để vào rạp. Anh chỉ muốn hỏi lần này trước khi mua vé mới.” Tôi nhìn người chồng vừa trở thành chồng cũ của mình. “Đây có phải lời mời quay lại không?” “Không. Anh không biết chúng ta có quay lại không. Anh chỉ muốn hẹn em một buổi. Em có thể từ chối.” “Và nếu tôi đồng ý, chúng ta cũng không sống chung.” “Đúng.” “Không dùng buổi hẹn để thuyết phục tôi hủy kế hoạch công việc.” “Đúng.” “Anh có thể đi Tô Châu.” “Nếu được nhận, anh sẽ đi.” Tôi cầm tấm vé cũ lên. “Anh định xem phim gì?” “Anh chưa chọn.” “Vậy tôi đồng ý chọn phim trước. Sau đó mới quyết định có đi với anh không.” Tạ Cảnh Hành cười. “Được.” Chúng tôi tháo tấm biển Hồi Đăng, gói vào vải. Tấm biển không được bán, cũng không được dùng cho một cửa hàng khác. Chúng tôi thống nhất mỗi người giữ ba năm một lần, nếu sau đó không ai muốn thì tặng bảo tàng thương mại địa phương hoặc tháo chữ đồng tái sử dụng. Một thỏa thuận hơi quá chi tiết cho một vật không tạo ra tiền, nhưng lần này mọi ý đều được nói ra. Chủ nhà đến lúc chín giờ mười. Ông kiểm đồng hồ điện, tường và cửa, rồi ký biên bản nhận mặt bằng. Tôi đặt chìa khóa của mình lên quầy. Tạ Cảnh Hành đặt chìa khóa của anh bên cạnh. Hai tiếng kim loại chạm mặt gỗ vang lên cách nhau một nhịp. Chúng tôi bước ra ngoài. Chu Tiểu Mãn kéo cửa cuốn xuống. Chữ đồng Hồi Đăng không còn sáng, nhưng vệt màu mật ong vẫn in trên mắt tôi một lúc lâu. Tôi không quay lại. Một năm sau, tôi có một chìa khóa mới. Nó mở cửa phòng đọc Mộc Giản nằm trên tầng hai của một khu xưởng cũ ở Tô Châu. Phía trước có sáu giá sách, hai bàn dài và một quầy trà nhỏ. Phía sau là xưởng đóng sách của Tạ Cảnh Hành. Hai không gian thuộc hai pháp nhân khác nhau, dùng chung hành lang và nhà vệ sinh theo hợp đồng thuê rõ ràng. Nhóm thử nghiệm của tôi ở Tầm Chương đã qua sáu tháng đầu. Tôi không chuyển sang quản lý toàn thời gian. Tôi phụ trách lựa chọn nội dung và đàm phán bản quyền, làm việc ba ngày tại Tân Châu, hai ngày từ xa. Phòng đọc là dự án riêng cuối tuần, không dùng dữ liệu cũ của Hồi Đăng. Ai đăng ký đều đọc điều khoản mới và tự chọn nhận thông tin nào. Tạ Cảnh Hành hoàn thành chương trình Tô Châu rồi thuê góc xưởng bên cạnh. Anh không trở thành nghệ nhân nổi tiếng sau một đêm. Anh vẫn sửa những gáy sách bị bung, dạy lớp cuối tuần và than giá giấy tăng. Chiếc bàn cắt cũ được đặt gần cửa sổ. Chúng tôi chưa tái hôn. Chúng tôi hẹn hò được mười tháng, cãi nhau ba lần và tạm dừng một lần trong hai tuần. Lần đầu, tôi tự nhận một sự kiện cuối tuần trùng ngày anh thi chứng chỉ rồi mặc định anh sẽ hiểu. Anh nói rõ mình thất vọng, nhưng không yêu cầu tôi hủy. Tôi tự quyết định đổi ca vì muốn có mặt, không ghi nó vào sổ hy sinh. Lần thứ hai, anh nhận một đơn phục chế kéo dài mà không báo lịch. Tôi không đoán anh chán gặp tôi. Tôi hỏi. Anh xin lỗi, sửa lịch và chấp nhận nếu tôi không rảnh vào ngày thay thế. Chúng tôi vẫn học chậm. Chiều khai trương Mộc Giản, Phó Dư An gửi tới một cuốn sổ trắng. Trang đầu chỉ có một câu: nơi này không có nghĩa vụ trở thành nơi cũ. Chu Tiểu Mãn đến sau giờ làm, mang theo túi quýt. Cô ấy đi một vòng, kiểm bảng lương của nhân viên cuối tuần rồi mới khen màu tường đẹp. Đường Nhược Lam gửi một lẵng cây nhỏ, không có logo Bách Diệp. Khi khách đã về, tôi khóa cửa phòng đọc. Tạ Cảnh Hành khóa xưởng phía sau. Mỗi người giữ chìa khóa riêng; không chìa nào mở được cửa của người kia. Anh hỏi: “Ngày mai em có rảnh không?” Tôi nhìn lịch trên điện thoại. “Buổi tối.” “Anh muốn mời em ăn mì.” “Quán nào?” “Quán đầu phố. Họ có hai nồi nước dùng.” “Tôi sẽ gọi món cay.” “Anh biết.” “Anh không cần ăn cùng món.” “Anh cũng biết.” Tôi tắt chiếc đèn đồng treo trên cửa. Nó từng thuộc Hồi Đăng, nhưng không mang theo tên cũ. Ánh sáng màu mật ong thu lại trên sàn gỗ rồi biến mất. Tạ Cảnh Hành đứng ở hành lang chờ, không cầm chìa khóa của tôi, không hỏi thay câu trả lời của tôi. Tôi bước ra, tự khóa cửa, rồi đi cạnh anh.