Người khách cuối cùng rời khỏi Hồi Đăng lúc tám giờ bốn mươi bảy phút tối. Tôi xoay tấm biển trên cửa kính từ “Mời vào” sang “Đã đóng”, còn Tạ Cảnh Hành đứng sau quầy, tháo chiếc đèn đồng mà anh từng tự tay lắp vào ngày khai trương. Đúng lúc bóng đèn tắt, điện thoại tôi rung. Nhân viên hộ tịch nói giấy xác nhận ly hôn của chúng tôi đã có hiệu lực từ tám giờ ba mươi. Cô ấy đọc một loạt thông tin, hỏi tôi có cần nhận bản giấy qua đường bưu điện không. Tôi nhìn hai chiếc chìa khóa nằm cách nhau trên quầy, bình tĩnh trả lời rằng không cần, tôi sẽ đến lấy. Tạ Cảnh Hành chờ tôi cúp máy mới hỏi: “Xong rồi à?” “Xong rồi.” Anh gật đầu, như thể tôi vừa báo đã kiểm đủ tám trăm mười sáu cuốn sách ký gửi. Sau đó anh lấy từ ngăn kéo ra một tấm vé xem phim đã hết hạn ba năm, đặt xuống cạnh chìa khóa của tôi. “Lâm Vãn Thu, ngày mai em có rảnh không?” Tôi tưởng anh muốn hẹn giờ chia nốt chiếc máy pha trà. “Có việc gì?” “Anh muốn mời em đi xem một bộ phim.” Tôi nhìn người chồng vừa trở thành chồng cũ của mình. Trong ba mươi ngày dọn hiệu sách, chúng tôi đã trả lại tiền cho độc giả, trả sách cho người ký gửi, trả thư cho người gửi, trả căn nhà cho chủ mới. Chỉ đến khi không còn thứ gì để giữ nhau lại, anh mới hỏi tôi một câu có quyền được từ chối. Ba mươi ngày trước, chúng tôi đến Trung tâm Dịch vụ Hôn nhân Tân Châu vào một buổi sáng mưa bụi. Phòng tiếp nhận ly hôn nằm ở tầng hai, giữa quầy đăng ký kết hôn và một máy bán nước tự động. Bên trái chúng tôi, một đôi trẻ mặc áo sơ mi trắng đang chọn nền đỏ cho ảnh cưới. Bên phải, một người đàn ông trung niên cúi đầu đếm từng tờ trong tập giấy phân chia tài sản. Tôi thấy cách sắp xếp ấy rất hợp lý. Hôn nhân bắt đầu, hôn nhân kết thúc, ở giữa có một chiếc máy bán nước không nhận tiền giấy. Tạ Cảnh Hành điền biểu mẫu bằng cây bút máy màu nâu. Chữ anh thẳng, đều, giống đường chỉ trên gáy một cuốn sách vừa đóng xong. Đến mục lý do, anh ngừng bút. Tôi nói: “Ghi tính cách không hợp.” “Chúng ta không cãi nhau vì tính cách.” “Vậy ghi sống xa cách trong thời gian dài.” “Chúng ta vẫn ở cùng nhà.” Tôi nhìn anh. “Anh muốn viết một bài phân tích nguyên nhân à?” Khóe môi anh động nhẹ, nhưng không thành cười. Cuối cùng, anh ghi: hai bên tự nguyện, không còn khả năng tiếp tục đời sống hôn nhân. Câu ấy sạch sẽ đến mức không ai phải chịu trách nhiệm. Nhân viên tiếp nhận kiểm tra căn cước, giấy đăng ký kết hôn và thỏa thuận tài sản. Chúng tôi không có con. Căn hộ thuê sẽ trả vào cuối tháng. Hồi Đăng là pháp nhân do hai người góp vốn ngang nhau, đang tự cân đối, không được tính vào tài sản cần tranh chấp tại quầy. Cô ấy đóng dấu ngày nộp đơn, nhắc chúng tôi có ba mươi ngày cân nhắc. “Nếu trong thời gian này hai anh chị đổi ý, một trong hai người có thể rút đơn. Hết ba mươi ngày, hai người cùng đến xác nhận trong thời hạn quy định.” Tạ Cảnh Hành hỏi rất kỹ giờ làm việc của ngày cuối cùng. Tôi hỏi có thể nhận giấy qua bưu điện hay không. Nhân viên nhìn chúng tôi, có lẽ đã gặp đủ kiểu vợ chồng để không thấy hai câu hỏi ấy mâu thuẫn. Rời trung tâm, Tạ Cảnh Hành đưa ô về phía tôi. Vai phải của anh ướt một mảng. Năm năm trước, tôi từng nghĩ một người luôn nghiêng ô về phía mình chắc chắn sẽ không làm mình cô đơn. Năm năm sau, tôi hiểu có những người che mưa rất giỏi nhưng không biết nói họ đang muốn đi đâu. Chúng tôi đi bộ về Hồi Đăng. Hiệu sách nằm ở tầng trệt một tòa nhà gạch đỏ gần đường Thanh Hồ. Tên hiệu được ghép bằng những chữ đồng cũ, ban ngày không nổi bật, tối đến mới sáng màu mật ong. Tôi phụ trách bản quyền sách nói ở Nhà xuất bản Tầm Chương, còn Tạ Cảnh Hành phục chế và đóng sách thủ công. Hồi Đăng vốn chỉ là gian bán sách nhỏ nối với xưởng của anh. Sau khi kết hôn, chúng tôi thuê thêm căn bên cạnh, mở phòng đọc, nhận sách ký gửi và giữ một tủ thư cho độc giả. Người ta thường nói chúng tôi là cặp vợ chồng biết biến sở thích thành sự nghiệp. Không ai biết hai năm gần đây, tôi và anh giao tiếp bằng bảng công việc dán sau quầy nhiều hơn bằng lời. Mười một giờ phải gọi bên vận chuyển. Hai giờ nhận sách của cô Chu. Đừng quên thay lõi lọc nước. Tối nay anh ngủ ở xưởng. Dòng cuối cùng không bao giờ cần ký tên. Khi chúng tôi còn cách Hồi Đăng một ngã tư, Chu Tiểu Mãn gọi. Giọng cô ấy nhanh đến mức tiếng còi xe phía sau cũng không chen vào được. “Chị Lâm, anh Tạ, hai người đang ở đâu? Chủ nhà vừa tới. Không phải chuyện tăng tiền thuê. Hai người về ngay đi.” Mười phút sau, chúng tôi đứng trước quầy, đối diện chủ tòa nhà và một người đại diện công ty quản lý mới. Trên bàn là thông báo chấm dứt hợp đồng do tòa nhà được chuyển nhượng toàn bộ. Hợp đồng của Hồi Đăng có điều khoản bàn giao sớm khi chủ sở hữu thay đổi, kèm tiền bồi thường tương đương hai tháng thuê. Tôi đã đọc điều khoản ấy bảy năm trước và tự tin rằng chẳng ai mua một tòa nhà cũ không có thang máy. Người đại diện nói công trình sẽ được gia cố rồi đổi thành khu văn phòng thiết kế. Chúng tôi có ba mươi ngày để trả mặt bằng. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Có thể gia hạn thêm hai tuần để xử lý sách ký gửi không?” “Rất tiếc. Đội khảo sát vào ngay sáng ngày ba mươi mốt.” Tôi hỏi: “Tiền bồi thường được chuyển lúc nào?” “Trong ba ngày làm việc, sau khi hai bên ký biên bản.” Chu Tiểu Mãn đứng sau giá sách mới về, hai tay ôm thùng dao rọc giấy như chuẩn bị bảo vệ lãnh thổ. Khi khách rời đi, cô ấy đặt thùng xuống thật mạnh. “Ba mươi ngày? Chúng ta có hơn tám trăm cuốn ký gửi, một trăm bốn mươi ba thẻ đọc còn số dư, sáu nhân viên bán thời gian và cái tủ thư mà không ai biết trong đó có bao nhiêu chuyện đời. Hai người định làm gì?” Tôi và Tạ Cảnh Hành cùng nói: “Thanh lý.” Chu Tiểu Mãn nhìn chúng tôi lần lượt. “Ít ra hôm nay hai người vẫn còn đồng lòng.” Tôi tháo áo khoác ướt, mở máy tính. “Trước hết phải kiểm tiền hoàn thẻ và lương. Sau đó chia sách thành ba nhóm: thuộc sở hữu Hồi Đăng, ký gửi có liên hệ được, ký gửi mất liên lạc. Xưởng của Tạ Cảnh Hành có mười bảy đơn đang làm, tách riêng.” Anh kéo ghế ngồi đối diện. “Kho thư phải kiểm theo mã người gửi, không mở nội dung.” “Tất nhiên.” “Dữ liệu thẻ đọc cũng không được đưa cho bất kỳ bên nào khi chưa có đồng ý.” Tôi ngẩng lên. “Anh đang nhắc em hay đang ghi nguyên tắc?” “Ghi nguyên tắc.” Tôi mở một tệp mới, đặt tên là Kế hoạch đóng cửa Hồi Đăng. Phần đầu tiên tôi gõ: mọi quyết định liên quan tài sản chung, dữ liệu độc giả, quyền lợi nhân viên và thương hiệu phải có chữ ký của cả Lâm Vãn Thu và Tạ Cảnh Hành. Tạ Cảnh Hành đọc xong, thêm một dòng: quan hệ hôn nhân không tạo quyền quyết định thay người còn lại. Tôi nhìn câu ấy vài giây. “Anh có cần viết rõ cả chuyện ai mang chiếc máy pha trà không?” “Nếu em muốn.” “Tôi không muốn.” Đó là lần đầu tiên trong ngày tôi đổi cách xưng hô. Tạ Cảnh Hành nghe thấy, nhưng chỉ gật đầu. Chúng tôi làm đến gần một giờ sáng. Tiền mặt và số dư tài khoản đủ trả lương, hoàn thẻ và phí vận chuyển nếu không phát sinh quá mười lăm phần trăm. Tiền bồi thường mặt bằng đủ xử lý nợ nhà cung cấp, nhưng không đủ thuê một cửa hàng tương đương ở khu Thanh Hồ. Muốn giữ Hồi Đăng, chúng tôi phải tìm mặt bằng nhỏ hơn, đóng phòng đọc và bỏ xưởng, hoặc tìm bên mua thương hiệu. Tôi biết đã có một bên muốn mua. Ba tuần trước, Đường Nhược Lam của Nhà xuất bản Bách Diệp gửi cho tôi một bản ghi nhớ hợp tác. Bách Diệp muốn phát triển chuỗi phòng đọc, còn Hồi Đăng có cộng đồng độc giả trung thành. Họ đề nghị giữ tên, nhận phần lớn nhân viên, mua danh mục thành viên và tiếp quản tủ thư như một hoạt động thương hiệu. Tôi đã trả lời rằng về nguyên tắc có thể thảo luận. Tôi chưa nói với Tạ Cảnh Hành. Khi ấy, tôi nghĩ chỉ nên nói sau khi biết mức giá cụ thể. Tạ Cảnh Hành ghét các cuộc thương lượng chưa có điều kiện rõ. Tôi muốn tiết kiệm cho anh một vòng thất vọng không cần thiết. Thật ra, tôi sợ anh sẽ nói không ngay từ đầu. Hai giờ sáng, chúng tôi về căn hộ thuê. Tạ Cảnh Hành ngủ trong phòng làm việc như sáu tháng qua. Tôi nằm trên giường, nghe tiếng mưa chạm bệ cửa sổ và nhớ ngày đầu mở Hồi Đăng. Hôm đó cũng mưa. Cả hiệu chỉ có mười hai cuốn sách và một giá gỗ lệch chân. Tạ Cảnh Hành kê một miếng bìa cứng dưới giá, hỏi tôi có muốn giữ một ngăn để đặt những cuốn không bán hay không. Tôi đã hỏi lại: “Hiệu sách mà có sách không bán thì kiếm tiền thế nào?” Anh nói: “Có những thứ tồn tại không phải vì bán được.” Bảy năm sau, câu ấy nghe giống một lời tiên tri không có kế hoạch tài chính. Sáng hôm sau, chúng tôi họp toàn bộ nhân viên. Chu Tiểu Mãn yêu cầu nói thẳng, không dùng cụm từ “tái cấu trúc”. Tôi thông báo ngày bàn giao, tình hình tiền mặt và thứ tự ưu tiên: lương, hoàn thẻ, trả sách, xử lý đơn xưởng, rồi mới đến phần vốn góp của hai chủ. Một sinh viên làm ca cuối tuần hỏi: “Nếu có người mua lại thì bọn em được giữ chứ?” Tôi đáp: “Chưa có đề nghị chính thức.” Chu Tiểu Mãn nhìn tôi. Cô ấy từng thấy thư của Bách Diệp hiện trên màn hình vào tối tuần trước. Tôi biết cô ấy nhận ra tôi đang chọn từ rất cẩn thận. Tạ Cảnh Hành nói: “Nếu có thương lượng, điều kiện của nhân viên phải được viết thành văn bản. Đừng dựa vào lời hứa của chúng tôi.” Sáu người bắt đầu chia danh sách gọi khách. Không ai khóc. Một hiệu sách độc lập đóng cửa không phải tai nạn bất ngờ; nó giống một căn bệnh đã có nhiều triệu chứng nhưng mọi người đều hy vọng kết quả xét nghiệm thuộc về người khác. Đến trưa, một bà cụ tên Trần Mỹ Lan đến quầy với chiếc thẻ đọc đã mờ số. Hệ thống cho thấy thẻ còn sáu trăm tám mươi tệ, nhưng tên đăng ký là của chồng bà, người đã qua đời hai năm trước. Quy định cũ yêu cầu người đứng tên hoặc giấy xác nhận thừa kế. Bà cụ mang theo giấy chứng tử nhưng không có giấy quan hệ. Nhân viên mới lúng túng. Tôi định yêu cầu bà bổ sung hồ sơ thì Tạ Cảnh Hành lấy từ ngăn thẻ lưu một phiếu viết tay. Trên đó, chồng bà đã ghi: nếu ông không đến nữa, số dư để vợ mua sách nấu ăn và tiểu thuyết trinh thám, đừng đưa cho con trai vì nó chỉ đọc báo chứng khoán. Bà cụ bật cười trước khi nước mắt rơi. Tạ Cảnh Hành không tự quyết hoàn tiền. Anh đặt phiếu trước mặt tôi. “Chữ ký trùng hồ sơ nạp tiền. Có bản sao căn cước cũ. Em thấy đủ căn cứ không?” Tôi kiểm tra ngày tháng, rồi hỏi bà Trần có muốn nhận tiền hay chuyển sang phiếu mua sách trong đợt thanh lý. Bà chọn một nửa tiền, một nửa sách. Chúng tôi cùng ký biên bản ngoại lệ. Khi bà cụ đi khỏi với hai cuốn trinh thám và một cuốn dạy nấu canh, Chu Tiểu Mãn chống tay lên quầy. “Đấy. Hai người hoàn toàn biết hỏi ý nhau. Sao lại phải đợi đến lúc đóng cửa mới làm?” Tôi nói: “Em gọi tiếp danh sách đi.” Tạ Cảnh Hành nói: “Câu hỏi hợp lý.” Tôi quay sang nhìn anh. “Anh muốn trả lời không?” “Chưa biết trả lời thế nào.” “Vậy đừng biến sự thành thật muộn thành một đức tính.” Anh im lặng một nhịp rồi nói: “Được.” Sáu ngày đầu trôi qua bằng tiếng băng keo kéo khỏi cuộn, tiếng điện thoại và mùi bụi giấy. Chúng tôi hoàn được bốn mươi hai thẻ, liên hệ ba trăm người ký gửi, đóng gói một trăm mười chín kiện sách. Mỗi tối, số kệ trống tăng lên. Không gian rộng hơn nhưng hơi thở lại chật hơn. Chiều ngày thứ sáu, Đường Nhược Lam đến Hồi Đăng. Cô ấy mặc áo khoác màu be, mang theo hai bản đề nghị có đóng dấu. Đường Nhược Lam không giả vờ tiếc nuối. Sau khi xem sổ hoàn thẻ và danh sách nhân viên, cô ấy nói Bách Diệp sẵn sàng mua thương hiệu Hồi Đăng, nhận bốn nhân viên, thuê Tạ Cảnh Hành làm cố vấn xưởng trong một năm và trả số tiền đủ để chúng tôi thanh lý mà vẫn còn lại một khoản. Đổi lại, họ cần tên thương hiệu, lịch sử giao dịch, danh mục thành viên và quyền vận hành chương trình tủ thư. Tạ Cảnh Hành đọc đến trang cuối. Anh không hỏi giá. Anh chỉ hỏi: “Ai đã cung cấp số liệu thành viên cho cô?” Đường Nhược Lam nhìn tôi. Không khí trong hiệu sách im đến mức tôi nghe được tiếng chiếc đồng hồ treo tường vừa nhảy qua một phút. Tôi nói: “Tôi gửi số tổng hợp. Không có tên, số điện thoại hay nội dung thư.” Tạ Cảnh Hành đặt bản đề nghị xuống. “Khi nào?” “Ba tuần trước.” “Trước ngày chúng ta nộp đơn ly hôn.” “Đúng.” “Em đã đồng ý điều gì?” “Chỉ đồng ý về nguyên tắc rằng có thể thảo luận.” Anh lật đến phụ lục đầu tiên, chỉ vào dòng có chữ ký điện tử của tôi dưới câu: bên Hồi Đăng xác nhận có quyền tiến hành đàm phán sơ bộ về toàn bộ tài sản thương hiệu. “Em là một nửa của bên Hồi Đăng.” Tôi nghe giọng mình lạnh đi. “Và anh là một nửa đã vắng mặt trong hầu hết cuộc họp tài chính suốt một năm.” Đường Nhược Lam khép cặp tài liệu. “Tôi có thể quay lại vào lúc khác.” “Không cần.” Tạ Cảnh Hành nhìn cô ấy. “Đề nghị này chúng tôi sẽ trả lời sau khi xác minh quyền của từng nhóm dữ liệu. Từ bây giờ, mọi trao đổi phải gửi đồng thời cho cả hai chủ sở hữu và đại diện nhân viên.” Chu Tiểu Mãn đang đứng cách đó hai giá sách. Cô ấy bước ra, nói: “Tôi là đại diện nhân viên.” Đường Nhược Lam gật đầu, ghi địa chỉ thư điện tử của cô ấy. Sau khi khách rời đi, Tạ Cảnh Hành mở tệp Kế hoạch đóng cửa Hồi Đăng, thêm một mục mới: mọi cuộc đàm phán với bên mua phải có biên bản; người từng tự ý mở đàm phán không được đại diện riêng. Tôi đọc câu ấy. “Anh có thể ghi thẳng tên tôi.” “Quy tắc phải áp dụng cho cả hai.” “Anh vẫn luôn làm vậy. Nói như thể đang công bằng để khỏi nói mình đang giận.” Lần này, Tạ Cảnh Hành không im lặng. “Anh đang giận. Không phải vì em muốn bán Hồi Đăng. Anh giận vì em đã quyết định anh sẽ phản đối trước khi cho anh cơ hội trả lời.” Tôi bật cười, nhưng âm thanh nghe rất mỏng. “Còn anh đã quyết định những gì mà không cho tôi trả lời?” Anh nhìn tôi. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy một điều gì đó vụt qua trên gương mặt anh, giống người vừa nhớ ra một cánh cửa mình đã khóa rồi quên mất chìa. Nhưng anh chỉ nói: “Chúng ta sẽ kiểm từng việc.” Tôi ghét cách nói ấy. Nó biến cuộc hôn nhân của chúng tôi thành một kho hàng có thể kiểm đếm. Điều đáng sợ là tôi cũng không nghĩ ra cách nào tốt hơn.