Tạ Cảnh Hành đề nghị chia việc kiểm kê thành bốn nhóm. Chu Tiểu Mãn phụ trách nhân viên và sách ký gửi. Tôi phụ trách tiền, thẻ đọc và đàm phán. Anh phụ trách đơn xưởng và tủ thư. Những việc liên quan thương hiệu phải có mặt cả ba người. Tôi hỏi: “Vì sao tủ thư chỉ do anh phụ trách?” “Anh không nói chỉ mình anh.” “Anh vừa chia như vậy.” Tạ Cảnh Hành nhìn lại bảng rồi sửa: tủ thư do Lâm Vãn Thu, Tạ Cảnh Hành và Chu Tiểu Mãn cùng kiểm mã; không mở thư, không đọc tên ngoài thông tin cần liên hệ. Chu Tiểu Mãn nói: “Tôi bắt đầu hiểu vì sao hai người ly hôn. Một người nói thiếu chủ ngữ. Một người nghe thấy cả bản cáo trạng.” Tôi đẩy danh sách sách ký gửi về phía cô ấy. “Em có thể bắt đầu bằng việc gọi ba mươi bảy số chưa liên lạc được.” “Vâng, chị chủ cũ tương lai.” Ngày thứ tám, chúng tôi mở tủ thư. Tủ cao gần hai mét, có một trăm hai mươi ngăn nhỏ. Ban đầu, Hồi Đăng đặt nó để độc giả gửi nhận xét cho nhau về sách. Sau đó, có người dùng để gửi thư cho chính mình của một năm sau, có người để lại lời xin lỗi chưa đủ can đảm gửi, có người nhờ hiệu sách cất một bức thư đến khi họ quay lại. Chúng tôi lập mã, số điện thoại và ngày hẹn. Không có điều khoản nào nói Hồi Đăng sở hữu nội dung. Trong bảy năm, một số người chuyển nhà, đổi số hoặc không quay lại. Ba mươi mốt ngăn còn thư. Tạ Cảnh Hành đeo găng vải, lấy từng phong bì đặt lên bàn. Tôi đọc mã ngoài bì, Chu Tiểu Mãn đối chiếu sổ. Chúng tôi chỉ mở ngăn, không mở thư. Mã H17 thuộc về Phó Dư An. Ông là cựu giáo viên, khách lâu năm, thường ngồi gần cửa sổ đọc sách lịch sử rồi chê phần chú thích. Số điện thoại vẫn hoạt động. Chu Tiểu Mãn gọi, ông nói chiều sẽ đến. Mã C04 không có số điện thoại, chỉ có một địa chỉ cũ đã bị giải tỏa. Mã B22 ghi rõ nếu quá ba năm thì tiêu hủy mà không mở. Tạ Cảnh Hành lấy một hộp riêng, dán nhãn “chờ xác minh tiêu hủy”. Tôi nhìn cách anh vuốt phẳng nhãn, bỗng nhớ những tờ giấy nhắn trong nhà. Anh luôn viết chính xác thứ cần làm, chưa bao giờ viết lý do mình muốn làm. Đường Nhược Lam gửi thư điện tử vào buổi trưa. Bách Diệp chấp nhận không nhận nội dung thư, nhưng muốn tiếp quản chương trình, danh sách mã và thông tin liên hệ để mời độc giả chuyển sang hệ thống mới. Cô ấy lập luận rằng nếu không có dữ liệu, hoạt động tủ thư chỉ còn cái tên. Tôi thấy lý lẽ đó hợp về kinh doanh. Tạ Cảnh Hành nói: “Dữ liệu tồn tại để chúng ta hoàn thành lời hứa cũ, không phải để người mua bắt đầu lời hứa mới.” “Tôi biết. Nhưng nếu xin đồng ý từng người thì sao?” “Được. Người nào đồng ý thì chuyển. Người nào không trả lời thì không chuyển.” “Như vậy giá mua sẽ giảm.” “Đó là giá thật của thứ chúng ta có quyền bán.” Tôi muốn phản bác rằng một thương hiệu không có cộng đồng chỉ là mấy chữ đồng cũ. Nhưng chính vì cộng đồng là con người, chúng tôi không thể bán họ như giá gỗ. Tôi viết thư xin ý kiến. Trước khi gửi, tôi đưa cho Tạ Cảnh Hành và Chu Tiểu Mãn đọc. Chu Tiểu Mãn bỏ cụm “nâng cấp trải nghiệm”, thay bằng “chuyển thông tin của bạn cho đơn vị mới”. Tạ Cảnh Hành thêm hai nút lựa chọn rõ ràng: đồng ý hoặc không đồng ý. Không trả lời được tính là không đồng ý. Tôi hỏi: “Anh không sợ người ta chọn không à?” “Có.” “Vậy sao còn viết thẳng như thế?” “Vì sợ mất một thứ không làm mình có quyền nói mơ hồ.” Câu ấy đâm vào tôi chính xác hơn một lời trách móc. Buổi chiều, Phó Dư An đến. Ông chống gậy, đội mũ len dù trời chưa lạnh. Khi Tạ Cảnh Hành đưa phong bì H17, ông không nhận ngay. “Trong đó là thư tôi viết cho vợ.” Chu Tiểu Mãn hạ giọng. “Bác muốn mang về chứ?” “Bà ấy mất trước ngày tôi hẹn mở thư.” Không ai nói câu chia buồn. Phó Dư An đã nghe đủ trong ba năm. Ông nhìn phong bì, rồi hỏi liệu chúng tôi có thể tiêu hủy mà không mở không. Tạ Cảnh Hành đưa cho ông một tờ lựa chọn: nhận lại, ủy quyền tiêu hủy, hoặc gia hạn giữ đến ngày cụ thể. Ông chọn tiêu hủy, tự tay ký tên. Tôi hỏi: “Bác có muốn ở lại đến khi chúng cháu xử lý không?” Ông lắc đầu. “Không cần. Điều quan trọng là tôi được chọn lại. Lúc gửi, tôi tưởng tương lai sẽ có hai người đọc. Bây giờ chỉ còn một, vậy lá thư ấy không còn là cùng một lá thư nữa.” Trước khi đi, ông quay lại nhìn các kệ đang trống. “Hai đứa đóng cửa thật à?” Tôi nói: “Vâng.” “Tiếc không?” “Có.” “Thế có giữ nhau lại không?” Tôi tưởng ông hỏi về hiệu sách. Tạ Cảnh Hành trả lời trước: “Không dùng tiếc nuối để giữ.” Phó Dư An cười. “Vậy là còn cứu được.” Tôi không biết ông nói thứ gì. Kết quả khảo sát sau hai ngày khiến đề nghị của Bách Diệp mất gần một phần ba giá trị. Chỉ bốn mươi mốt phần trăm thành viên đồng ý chuyển thông tin. Hai mươi ba phần trăm chọn không. Phần còn lại không trả lời. Đường Nhược Lam không nổi giận. Cô ấy gửi bảng định giá mới, giảm khoản mua dữ liệu nhưng tăng khoản mua tên và thiết kế nhận diện. Bách Diệp cũng đồng ý gặp nhân viên. Cuộc họp diễn ra vào ngày thứ mười. Đường Nhược Lam trình bày kế hoạch mở ba phòng đọc trong trung tâm thương mại. Bốn nhân viên có thể chuyển sang, nhưng vị trí và lịch làm chưa được bảo đảm. Hai người còn lại nhận hỗ trợ tìm việc. Chu Tiểu Mãn hỏi: “‘Có thể chuyển sang’ nghĩa là phải phỏng vấn lại?” “Đúng. Chúng tôi cần đánh giá phù hợp.” “Vậy không phải nhận nhân viên. Chỉ là cho quyền nộp đơn.” Đường Nhược Lam đáp bình tĩnh: “Tôi không thể hứa tuyển người chưa qua quy trình của Bách Diệp.” Tôi hiểu lập trường ấy. Nhưng trong bản đề nghị gửi cho tôi, cụm từ “ưu tiên tiếp nhận đội ngũ hiện tại” đã khiến tôi tự dịch thành một điều chắc chắn hơn. Tạ Cảnh Hành hỏi từng câu về lương, giờ làm, bảo hiểm và địa điểm. Anh không nói Bách Diệp vô tình. Anh chỉ buộc mọi lời đẹp phải trở thành câu trả lời có thể ghi vào biên bản. Sau cuộc họp, Chu Tiểu Mãn đóng cửa phòng đọc. “Em không phản đối bán thương hiệu. Em phản đối việc hai người kể chuyện cứu Hồi Đăng rồi dùng bọn em làm phông nền.” Tôi nói: “Chị chưa từng nghĩ như vậy.” “Nhưng chị đã mở đàm phán mà không hỏi bọn em muốn gì.” “Tôi là người chịu trách nhiệm pháp lý.” “Và bọn em là người mất việc.” Tôi không trả lời được. Tạ Cảnh Hành nói: “Tiểu Mãn, em và mọi người có thể chọn một đại diện khác nếu không muốn tham gia thương lượng với tư cách nhân viên Hồi Đăng.” Cô ấy khoanh tay. “Anh đừng nói như sách hướng dẫn quản trị. Anh cũng giấu chuyện của anh với chị Lâm, đúng không?” Tôi quay sang. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Chuyện gì?” “Em không biết. Nhưng mỗi lần chị Lâm hỏi anh đã quyết định gì, anh nhìn giống người giấu một con voi trong xưởng đóng sách.” Anh cúi xuống thu bản ghi chép. “Khi có việc liên quan, anh sẽ nói.” Chu Tiểu Mãn thở dài. “Hai người đúng là sinh ra để kết hôn rồi ly hôn với nhau.” Ngày thứ mười hai, tôi tìm thấy con voi. Chúng tôi tháo kệ trong xưởng để chuyển máy ép sang kho tạm. Phía sau ngăn kéo đựng chỉ sáp có một bì thư của Trung tâm Bảo tồn Sách cổ Nam Kinh. Tôi không mở thư. Phần cửa sổ trên phong bì để lộ dòng tiêu đề: xác nhận tiếp nhận chương trình tu nghiệp mười tám tháng. Ngày gửi là mười bốn tháng trước. Tôi cầm phong bì ra quầy. Tạ Cảnh Hành đang quấn giấy dầu quanh một cuốn gia phả bị bong gáy. Anh nhìn thấy nó thì dừng tay. “Anh đã đi Nam Kinh chưa?” tôi hỏi. “Chưa.” “Chương trình này là gì?” “Tu nghiệp bảo tồn giấy và kỹ thuật đóng sách cổ.” “Anh nộp hồ sơ khi nào?” “Hai năm trước.” “Vì sao không nói với tôi?” Anh tháo găng tay. “Khi có kết quả, em vừa được giao dự án sách nói dài hạn ở Tân Châu. Hồi Đăng cũng bắt đầu có lãi. Nếu anh đi, em phải bỏ việc hoặc gánh cửa hàng một mình.” “Vậy anh từ chối?” “Ừ.” Tôi bật cười. Lần này tiếng cười khiến cổ họng đau. “Mười bốn tháng nay, mỗi lần anh về muộn, tôi nghĩ anh không muốn về nhà. Mỗi lần anh nhìn xưởng, tôi nghĩ anh chán Hồi Đăng. Anh đã từ chối thứ mình muốn rồi dùng im lặng để tôi tự đoán nguyên nhân?” “Anh không muốn em thấy mình mắc nợ.” “Thế nên anh không cho tôi quyền biết?” “Anh đã chọn.” “Anh chọn cả phần của tôi.” Tạ Cảnh Hành nhìn xuống hai bàn tay. Những đầu ngón tay anh dính màu nâu của hồ phục chế. “Anh nghĩ nếu nói, em sẽ đề nghị đi cùng.” “Có thể.” “Em vừa có cơ hội lớn ở Tầm Chương.” “Có thể tôi sẽ không đi.” “Anh không muốn em từ bỏ.” “Còn tôi không muốn sống mười bốn tháng với một người đã chôn mất ước muốn của mình rồi để tôi tưởng anh đang chôn cuộc hôn nhân.” Anh im lặng. Tôi đặt phong bì xuống, đẩy về phía anh. “Đừng cảm ơn tôi vì đã ở lại Tân Châu. Đừng nói anh làm vì tôi. Nếu anh thật sự làm vì tôi, anh phải cho tôi được trả lời.” “Anh biết.” “Không. Anh chỉ biết bây giờ vì tôi tìm thấy lá thư.” Câu ấy làm anh ngẩng lên. Tạ Cảnh Hành không xin lỗi ngay. Lần đầu tiên, tôi biết ơn anh vì điều đó. Một lời xin lỗi quá sớm sẽ biến phát hiện này thành lỗi ứng xử, trong khi nó là một năm đời sống mà tôi không được tham gia. Anh nói: “Anh đã sợ em chọn công việc thay vì anh.” Tôi đứng yên. “Anh không muốn nghe câu trả lời ấy,” anh tiếp tục. “Nên anh tự tạo một câu trả lời dễ chịu hơn. Anh ở lại. Em không phải chọn. Sau đó anh giận vì em không biết anh đã bỏ điều gì.” Đó là câu thành thật tàn nhẫn nhất anh từng nói với tôi. Tôi kéo ghế ngồi. “Tôi cũng sợ anh sẽ chọn xưởng thay vì Hồi Đăng, nên tôi đàm phán với Bách Diệp trước. Nếu có giá đủ tốt, tôi nghĩ anh sẽ không thể phản đối bằng cảm xúc.” “Em muốn biến lựa chọn thành một con số.” “Đúng.” Chúng tôi ngồi hai phía bàn phục chế. Giữa chúng tôi là lá thư nhận học và đề nghị mua thương hiệu. Hai vật chứng của hai kiểu tử tế giống nhau đến đáng ghét. Tạ Cảnh Hành hỏi: “Nếu quay lại lúc đó, em muốn anh làm gì?” “Tôi muốn anh nói anh đã được nhận. Tôi muốn anh hỏi tôi có muốn cùng tìm cách không.” “Dù câu trả lời có thể là không?” “Đặc biệt vì câu trả lời có thể là không.” Tôi hỏi lại: “Còn anh? Khi nhận thư của Bách Diệp, anh muốn tôi làm gì?” “Cho anh xem trước khi trả lời. Không cần đợi có mức giá. Không cần bảo vệ anh khỏi một cuộc thương lượng thất bại.” Ngoài phòng đọc, Chu Tiểu Mãn đang hướng dẫn khách đóng gói sách. Tiếng băng keo kéo dài rồi đứt. Một âm thanh rất nhỏ, nhưng trong căn phòng yên, nó nghe như thứ gì đó vừa được cắt rời. Tôi nói: “Chúng ta vẫn sẽ ly hôn.” Tạ Cảnh Hành gật đầu. “Anh biết.” “Việc hiểu ra không xóa mười bốn tháng.” “Anh biết.” “Đừng chỉ nói anh biết.” Anh suy nghĩ một lúc. “Anh sẽ liên hệ lại trung tâm Nam Kinh. Không phải để chứng minh gì với em. Để hỏi xem còn chương trình khác không.” “Và nếu có?” “Anh sẽ tự quyết phần của anh, nhưng sẽ nói cho những người bị ảnh hưởng biết trước khi quyết định.” Tôi sửa: “Sẽ hỏi nếu quyết định ấy cần phần hy sinh của người khác.” “Ừ.” Tôi mở máy tính, thêm vào kế hoạch một mục không liên quan trực tiếp đến đóng cửa: mỗi người tự lập danh sách những quyết định đã giấu trong hai năm gần đây. Chỉ ghi việc có ảnh hưởng tới người kia. Không dùng danh sách để tính ai hy sinh nhiều hơn. Tạ Cảnh Hành đọc rồi ký tên. Tôi cũng ký. Đó không phải hòa giải. Nó chỉ là lần đầu tiên chúng tôi đồng ý nhìn thẳng vào cách mình đã làm nhau cô đơn.