Tạ Cảnh Hành đứng phía sau, cách tôi một khoảng đủ để không biến nỗi buồn thành một cái ôm chưa được hỏi. Tôi nói: “Hồi Đăng sẽ đóng thật.” “Ừ.” “Tôi đã nghĩ nếu bán được giá tốt, ít nhất nó vẫn tồn tại.” “Tên có thể tồn tại. Nhưng lời hứa bên trong sẽ đổi.” “Tôi biết.” Anh im lặng, rồi hỏi: “Anh có thể đứng cạnh em không?” Tôi gật đầu. Anh bước tới, không chạm vào tôi. Chúng tôi đứng trước kệ sách bị xước, nhìn một nơi sắp không còn. Không có nhạc, không có khách, không có lời nói đủ đẹp để biến mất mát thành đúng đắn. Tôi khóc trước. Tạ Cảnh Hành không nói đừng khóc. Anh đưa tôi một chiếc khăn giấy, rồi đứng đó cho đến khi tôi tự thở đều lại. Tối ấy, chúng tôi bán máy ép lớn cho trường nghề với điều kiện họ tự vận chuyển sau ngày đóng cửa. Bán bộ dụng cụ dư cho một xưởng mới. Giữ lại chiếc bàn cắt cũ vì người mua trả quá thấp và Tạ Cảnh Hành vẫn cần nó cho các đơn cuối. Khoản thiếu hụt giảm còn mười chín nghìn. Tôi dùng tiền thưởng của mình bù chín nghìn năm trăm. Tạ Cảnh Hành bù phần bằng đúng số đó. Không ai ghi là cho vay. Không ai ghi là hy sinh. Chúng tôi chỉ hoàn thành nghĩa vụ của hai người từng cùng ký tên mở một cửa hàng. Ngày thứ hai mươi, tòa nhà bắt đầu dựng rào khảo sát ngoài cửa. Mỗi khi máy khoan thử vang lên, bụi từ trần rơi xuống ánh đèn. Hồi Đăng chưa đóng, nhưng thành phố đã bắt đầu học cách sống mà không có nó. Ngày thứ hai mươi mốt, tôi nhận được thư mời làm việc từ một nền tảng sách nói ở Thượng Hải. Họ muốn tôi phụ trách nhóm bản quyền, mức lương cao hơn hiện tại gần một nửa. Công việc bắt đầu sau sáu tuần, đủ thời gian hoàn tất thanh lý. Hai năm trước, tôi sẽ coi đó là lời giải rõ ràng: rời Tân Châu, rời Hồi Đăng, rời một cuộc hôn nhân đã cạn. Nhưng trong thư có một dòng khiến tôi ngồi nhìn rất lâu: