Ngày thứ sáu, cuốn sổ công thức bánh đưa chúng tôi đến quán ăn đã đóng cửa bên đường ray phía nam. Chủ quán cũ, Tô Mạn, sống trên tầng hai của một căn nhà có ban công đầy chậu húng. Bà nhận ra cuốn sổ ngay khi tôi vừa mở túi vải. Tuy vậy, bà không đưa tay lấy. Bà hỏi trang cuối còn không. Trang cuối đã được gấp thành một con chim nhỏ. Khi tháo nếp giấy, chúng tôi thấy một công thức chỉ ghi nửa chừng, phía dưới là dòng chữ của chồng cũ bà: “Nếu em muốn bán quán, đừng ở lại vì anh.” Tô Mạn cười khan. Bà từng nghĩ ông bỏ đi cùng một người phụ nữ khác. Thực tế, ông nhận việc ở tuyến tàu miền tây sau khi biết bà muốn học làm bánh ở Hàng Châu nhưng không dám đi vì quán là ước mơ chung. Ông tự quyết định rời trước để bà không còn lý do ở lại. Còn bà, vì giận, giữ quán thêm hai mươi năm. “Ông ấy nghĩ đó là hy sinh,” bà nói. “Tôi gọi nó là trốn chạy.” Bà nhận cuốn sổ nhưng không muốn tìm chồng cũ. Bà xin địa chỉ trường dạy nghề năm xưa. Ở tuổi sáu mươi ba, bà vẫn muốn biết khóa học còn mở hay không. Trên đường xuống cầu thang, Thừa An nói rất nhỏ rằng một người có thể làm việc vì yêu và vẫn làm sai. Tôi đáp: “Hai chuyện ấy không loại trừ nhau.” Anh gật đầu. Lần đầu tiên, chúng tôi nhắc đến lỗi lầm mà không tranh xem ai đau hơn. Ngăn thứ bảy chứa một tấm ảnh chụp sau cửa kính. Người trong ảnh gần như bị phản sáng che hết mặt. Sau lưng cô là bảng giờ tàu cũ, bên cạnh có một người đàn ông đang đưa tay về phía cửa kính. Hồ sơ ghi tên người nhận là Trần Dục. Trần Dục quản lý một cửa hàng ảnh. Cô nhìn tấm hình, nói đó không phải mình. Tôi định chỉ vết sẹo nhỏ ở cổ tay trong ảnh, nhưng nhớ nguyên tắc nên hỏi cô có muốn nghe lý do chúng tôi xác định danh tính không. Cô đồng ý. Vết sẹo, chiếc nhẫn gỗ và ngày chụp đều khớp hồ sơ. Người đàn ông cạnh cô là anh trai đã mất. Bức ảnh được chụp sau một cuộc cãi vã. Nhiều năm qua, gia đình kể rằng anh trai đã chạy theo xin lỗi, còn cô lạnh lùng lên tàu. Tấm ảnh cho thấy điều ngược lại: Trần Dục đã đặt tay lên cửa kính từ bên trong, còn người anh quay mặt khỏi cô. Cô không khóc. Cô xin chúng tôi quét ảnh rồi cắt riêng phần mình. “Cô không muốn giữ cả anh ấy sao?” Thừa An hỏi. Tôi nhìn anh. Câu hỏi vượt quá phần cần xác minh, nhưng Trần Dục không giận. “Không,” cô nói. “Tôi đã dành đủ năm để mang câu chuyện của anh ấy. Bây giờ tôi chỉ muốn lấy lại gương mặt của mình.” Sau khi rời cửa hàng, Thừa An chủ động ghi vào sổ rằng câu hỏi của anh không cần thiết. Anh không giải thích bằng ý tốt. Tôi nói: “Cảm ơn vì anh tự nhận ra.” “Em không cần làm nhẹ lỗi cho anh.” “Em cũng đang học.” Ngày thứ tám, cây bút máy nứt ngòi thuộc về Hứa Tĩnh, cựu nhân viên phòng vé. Trong thân bút có cuộn giấy mỏng ghi nửa đơn xin nghỉ việc. Bà Tĩnh đã làm ở ga ba mươi năm và luôn kể rằng mình ở lại vì yêu công việc. Con gái bà lại nói mẹ ở lại vì sợ bắt đầu lại. Khi chúng tôi mang bút tới, bà Tĩnh đọc lá đơn rồi ngồi rất thẳng. Năm ấy, bà đã được nhận vào trường đào tạo phát thanh viên đường sắt. Trưởng phòng cũ bảo nếu bà đi, ca trực sẽ thiếu người và đồng nghiệp phải chịu vất vả. Bà xé đơn, nhưng phần bị cuộn trong bút còn nguyên. “Có đáng tiếc không?” tôi hỏi sau khi bà cho phép. “Có. Nhưng không phải vì tôi không thành phát thanh viên.” Bà vuốt thân bút. “Tôi tiếc vì đã để một người khác gọi nỗi sợ của tôi là trách nhiệm.” Bà xin được đọc thông báo cuối cùng trong ngày nhà ga đóng cửa. Phùng Tử Khiêm phản đối vì quy trình chỉ cho nhân viên đương nhiệm dùng hệ thống loa. Thừa An đề nghị một bản ghi phát trước giờ bàn giao. Tôi chuẩn bị tranh luận, nhưng bà Tĩnh tự nói mình muốn đọc trực tiếp, dù không phát qua toàn ga. Cuối cùng, chúng tôi thống nhất đặt một loa nhỏ trong phòng chờ cũ. Bà không cần chúng tôi đấu thay. Bà cần chúng tôi mở chỗ để bà tự nói. Ngăn thứ chín giữ chiếc khăn len xanh có mùi khói than. La Nguyên, người gác sân ga cũ, đã mất. Người gửi là một phụ nữ tên Hà Tố, nhưng hồ sơ không có địa chỉ mới. Chúng tôi lần theo danh sách thuê nhà, cuối cùng tìm được con gái bà ở Quảng Châu. Người con nói mẹ đã mất hai năm trước. Bà chờ ông La suốt thời trẻ vì nhận được một tấm bưu thiếp viết rằng ông sẽ trở về sau chuyến cuối mùa đông. Ông không trở về. Gia đình cho rằng ông đã quên lời. Trong đường viền chiếc khăn có một mẩu báo cũ. Tin ngắn ghi ông La bị thương khi kéo một hành khách khỏi đường ray đúng ngày định rời Bắc Hà. Sau đó ông mất trí nhớ một thời gian, chuyển đến sống cùng em gái. Ông giữ khăn nhưng không biết của ai. Người con hỏi liệu chúng tôi có thể ghi vào hồ sơ rằng hai người đã yêu nhau đến cuối đời hay không. Thừa An quay sang tôi. Tôi hiểu anh muốn biết câu trả lời, nhưng lần này anh chờ. Tôi nói: “Chúng tôi có thể ghi điều đã xác minh. Ông ấy giữ khăn. Mẹ cô giữ bưu thiếp. Còn họ nghĩ gì vào cuối đời, chúng ta không được viết thay.” Người con thất vọng, rồi xin nhận chiếc khăn. Cô muốn đặt nó cạnh tro cốt của mẹ, không phải để chứng minh một chuyện tình hoàn hảo, mà để trả lại một phần câu chuyện đã bị thiếu. Tối đó, Thừa An và tôi ăn mì ở quán đối diện ga. Anh gọi món không hành cho mình, rồi dừng trước khi gọi cho tôi. “Em vẫn không ăn rau mùi?” “Vẫn không.” “Anh có thể gọi bát cũ của em không?” Tôi bật cười. “Có.” Người phục vụ nhìn chúng tôi như nhìn một cặp đôi kỳ lạ, cứ xin phép nhau về từng thìa ớt. Có lẽ chúng tôi đúng là kỳ lạ. Nhưng sự vụng về ấy dễ chịu hơn cảm giác được chăm sóc bằng một danh sách thói quen mà mình không còn quyền thay đổi. Ngày thứ mười, bộ cờ nam châm thiếu quân xe nằm trong ngăn có hai lớp khóa. Người nhận, cậu bé Lục Cảnh, giờ đã là sinh viên. Cha cậu bỏ nhà đi khi cậu tám tuổi. Bà nội nói ông là người vô trách nhiệm. Cậu Cảnh lớn lên với ý nghĩ mình đã không đủ ngoan để cha ở lại. Quân xe thiếu nằm trong túi áo khoác của người cha, được gửi về ga cùng giấy báo tai nạn. Mặt dưới quân cờ có dòng chữ rất nhỏ: “Đợi bố thắng ván này.” Tôi tưởng Lục Cảnh sẽ muốn nhận. Cậu lại xin chúng tôi giữ một tuần. “Cháu đã ghét ông ấy mười ba năm,” cậu nói. “Cháu không thể đổi hết chỉ vì một quân cờ.” “Không ai yêu cầu cháu đổi,” Thừa An đáp. Cậu chọn chụp ảnh rồi rời đi. Ba ngày sau, cậu quay lại một mình, ngồi chơi hết ván cờ trên chiếc bàn phòng chờ. Cậu đặt quân xe vào vị trí cuối nhưng không mang bộ cờ về. Cậu nói mình đã hoàn tất điều muốn làm. Tôi ghi trạng thái là đã xử lý theo yêu cầu người nhận. Phùng Tử Khiêm gạch đỏ, cho rằng đồ vẫn nằm trong kho thì chưa thể tính hoàn tất. “Anh cần kho trống hay cần hồ sơ đúng?” tôi hỏi. “Tôi cần bàn giao đúng hạn.” “Chúng tôi cũng vậy. Nhưng hoàn tất không đồng nghĩa ép người ta cầm đồ về.” Phùng Tử Khiêm nhìn Thừa An, chờ anh hòa giải. Ngày trước, anh sẽ chọn một cách nói mềm hơn rồi tự thỏa hiệp sau lưng tôi. Lần này anh chỉ nói quy trình trao trả cho phép tiêu hủy hoặc hiến tặng theo ý người nhận. Lục Cảnh đã ký hiến bộ cờ cho phòng đọc trẻ em. Phùng Tử Khiêm miễn cưỡng chấp nhận. Khi anh ta đi, tôi hỏi Thừa An có thấy tôi quá gay gắt không. “Em muốn nghe nhận xét hay muốn anh đứng về phía em?” Tôi nghĩ một lúc. “Nhận xét.” “Em đúng về quy trình. Nhưng em hỏi anh Khiêm như thể anh ấy chỉ quan tâm cái kho, trong khi anh ấy cũng đang bị ép tiến độ.” Tôi khó chịu. Rồi tôi nhận ra mình đã yêu cầu sự thật. “Được. Ngày mai em sẽ nói lại.” Sáng hôm sau, tôi xin lỗi Phùng Tử Khiêm vì đã gán động cơ cho anh. Anh ta không lập tức thân thiện, nhưng đưa chúng tôi xem lịch thi công thật. Đội tháo dỡ có thể đến sớm hơn năm ngày nếu trời ngừng mưa. Chúng tôi không còn đủ ba mươi ngày như thông báo. Tấm bản đồ tuyến tàu trong ngăn mười một thuộc về chính anh. Đó là bản thiết kế của cha anh, người từng phụ trách cải tạo ga. Trên bản đồ, tuyến cũ bị xóa bằng mực đen, nhưng dưới ánh sáng xiên vẫn thấy một nhánh dẫn tới khu dân cư nghèo phía tây. Cha Phùng Tử Khiêm từng phản đối đóng nhánh đó vì hàng trăm công nhân dùng nó mỗi ngày. Sau khi thất bại, ông ký bản vẽ mới và bị cư dân xem là kẻ phản bội. Anh Khiêm muốn tiêu hủy tấm bản đồ để cha mình không bị nhắc lại. “Anh có quyền không nhận,” tôi nói. “Nhưng đây cũng là hồ sơ công cộng. Chúng tôi cần tách quyền riêng tư khỏi giá trị lưu trữ.” Cuộc tranh luận kéo dài cả buổi. Cuối cùng, anh đồng ý cho lưu bản số hóa phần tuyến đường, xóa ghi chú riêng của cha. Anh nhận bản gốc về nhà. Trước khi đi, anh cho chúng tôi thêm hai nhân viên hỗ trợ liên lạc. Không phải vì đã trở thành đồng minh, mà vì lần đầu tiên quy trình của chúng tôi cho anh một lựa chọn không buộc phải hy sinh cha để hoàn thành công việc. Ngăn thứ mười hai chứa khăn tay thêu chữ V. Người gửi là Nguyễn Tử Yên, chủ quầy hoa trước nhà ga. Bà nghĩ chữ V là tên một người đàn ông từng hứa quay lại. Khi nhìn kỹ mặt trái, tôi thấy đó là hai nét đầu của chữ “Về”, nhưng người thêu đã dừng. Người thêu là em gái bà, người bỏ nhà sau một cuộc cãi vã. Tử Yên đã biến chiếc khăn thành bằng chứng cho một chuyện tình vì như vậy dễ chịu hơn việc thừa nhận em mình không muốn về. Bà không cho chúng tôi tìm em gái. Bà chỉ xin giữ khăn và đặt một chậu hoa trắng trước ga trong ngày đóng cửa. Trưa hôm ấy, tôi thấy Thừa An đứng bên máy bán nước, tay đặt lên ngực trong vài giây. Khi nhận ra tôi nhìn, anh hạ tay xuống. “Anh có muốn em hỏi không?” Anh nhắm mắt, rồi nói: “Có.” “Thuốc hôm trước là thuốc gì?” “Thuốc điều nhịp tim.” Không khí trong phòng chờ như bị rút hết. Anh kể sáu năm trước đã ngất trên đường đến nơi đăng ký. Bệnh viện giữ anh lại kiểm tra. Điện thoại vỡ khi ngã. Anh nhờ mẹ tôi báo cho tôi, nhưng bà chỉ biết anh nhập viện và sợ tôi sẽ bỏ cơ hội việc làm để ở lại. Bà nói với anh rằng tôi đã lên tàu, nói với tôi rằng anh đổi ý. “Sau khi ra viện, tại sao anh không tìm em?” “Anh có.” “Tôi không nhận được gì.” “Anh gửi một lá thư qua ga. Sau đó em đổi địa chỉ.” Tôi nghe giọng mình trở nên lạnh. “Anh gửi một lá thư rồi quyết định sáu năm im lặng là tôn trọng lựa chọn của tôi?” “Anh nghĩ em không trả lời nghĩa là em đã chọn.” “Không. Anh sợ nghe câu trả lời.” Thừa An không phủ nhận. Tôi đứng dậy, đi ra mái hiên. Mưa đã ngừng nhưng nước từ mái vẫn rơi thành một hàng đều đặn. Tôi muốn trách mẹ, trách bệnh viện, trách lá thư thất lạc. Điều làm tôi đau nhất lại là một sự thật đơn giản: sau mọi sự cố, cả hai chúng tôi vẫn chọn im lặng vì im lặng không thể từ chối mình. Thừa An không theo ra. Anh giữ đúng nguyên tắc, để tôi tự chọn có quay lại hay không. Mười phút sau, tôi trở vào. “Tôi chưa sẵn sàng nói tiếp.” “Anh hiểu.” “Đừng hiểu thay. Chỉ cần ghi nhận.” Anh gật đầu. “Được. Anh sẽ chờ em nói khi nào muốn tiếp tục.” Tôi nhìn chiếc khăn tay chữ V trên bàn. Một chữ dang dở có thể bị người khác hoàn tất theo bất kỳ nghĩa nào họ cần. Chúng tôi đã làm thế với cuộc đời nhau. Từ ngày đó, tôi quyết định không viết thêm một nét nào vào phần của Thừa An nếu anh chưa tự đặt bút.