Ngày nhà ga Bắc Hà nhận quyết định tháo dỡ, tôi đang quỳ trước một chiếc tủ sắt đã kẹt mười bảy năm. Mưa tháng bảy gõ lên mái kính. Tiếng loa rè đọc chuyến tàu sớm, rồi nuốt mất nửa tên ga kế tiếp. Trên cửa phòng thất lạc, tờ thông báo mới dán còn ướt hồ. Ba mươi ngày nữa, khu nhà cũ phải bàn giao cho đội thi công. Mọi đồ vật vô chủ sẽ được chuyển kho hoặc xử lý theo quy định. Tôi đọc đến dòng cuối thì một chiếc chìa khóa rơi xuống nền đá. Nó không thuộc bộ dụng cụ của tôi. Thân chìa bằng đồng, mòn ở đúng chỗ ngón cái thường tì vào. Trên đầu chìa khắc ngày mười bảy tháng tám, sáu năm trước. Đó là ngày tôi và Lục Thừa An hẹn đăng ký kết hôn, rồi không ai trong chúng tôi xuất hiện. “Em vẫn nhận ra nó.” Giọng anh vang lên từ đầu hành lang. Sáu năm khiến Thừa An gầy hơn và làm đuôi mắt anh có thêm hai nếp nhỏ. Áo khoác anh đẫm mưa ở vai. Anh không nhìn tôi trước. Anh nhìn chiếc khóa tủ, như ngày trước mỗi khi cãi nhau, anh luôn sửa cái vòi nước hoặc xếp lại bát đũa để khỏi phải nói điều thật lòng. Tôi đứng dậy, đặt chìa lên bàn. “Anh gọi tôi đến để mở tủ hay để trả thứ này?” “Cả hai. Nhưng em được quyền từ chối một trong hai.” Câu trả lời làm tôi khó chịu vì nó quá đúng. Ngày trước, Thừa An chưa từng hỏi tôi có muốn hay không. Anh chỉ lặng lẽ làm điều anh cho là tốt nhất, rồi để tôi nhận kết quả như nhận một món quà không thể trả lại. Anh mở sổ kiểm kê. Phòng thất lạc có ba mươi ngăn niêm phong từ đợt cải tạo tuyến cũ. Mỗi ngăn gắn với một ngày và một hồ sơ trao trả chưa hoàn tất. Có món đồ đã tìm được người gửi nhưng chưa tìm được người nhận. Có món tìm được cả hai, song người nhận không muốn lấy. Có những lá thư bị giữ vì nhân viên cũ cho rằng sự thật trong đó sẽ làm ai đó tổn thương. “Quy định mới yêu cầu xử lý hết trước khi bàn giao,” Thừa An nói. “Ổ khóa do xưởng của ông ngoại em làm. Không còn bản vẽ. Em là người duy nhất có thể mở mà không phá.”