“Tại sao không phá?” “Vì có vài ngăn chứa giấy và băng từ. Cắt khóa bằng máy có thể làm hỏng đồ bên trong.” Tôi hỏi còn lý do nào khác không. Anh im lặng đủ lâu để tiếng mưa lấp đầy căn phòng. “Chúng ta bắt đầu bằng điều có thể kiểm chứng được không?” Tôi ghét câu ấy. Nhưng tôi hiểu. Sáu năm trước, chúng tôi đã kết thúc bằng những điều không ai kiểm chứng: tôi tin anh không đến vì đổi ý; anh tin tôi bỏ đi vì đã chọn công việc ở Thượng Hải. Mẹ tôi nói anh có lý do. Đồng nghiệp anh nói tôi cần thời gian. Mỗi người giữ một mảnh, rồi tự ghép thành câu chuyện thuận tiện nhất. Tôi kéo ghế ngồi xuống. “Ba nguyên tắc. Không mở khi chưa ghi nhận tình trạng niêm phong. Không đọc nội dung riêng tư ngoài phần cần xác minh. Quan trọng nhất, không quyết định thay chủ nhân xem họ nên nhận gì.” Thừa An ghi từng điều vào đầu sổ. “Anh bổ sung một nguyên tắc được không?” “Anh vừa hỏi. Cứ nói.” “Nếu một trong hai muốn dừng, người kia không được tự hoàn tất phần còn lại.” Tôi nhìn anh. Đó là lời xin lỗi gần nhất mà Thừa An có thể nói trong ngày đầu tiên. Ngăn số một chứa một máy ghi âm màu bạc. Băng bên trong bị ẩm, nút phát lún sâu. Hồ sơ ghi người gửi là một học sinh tên Trần Dương, người nhận là cô giáo cũ Đỗ Mai Linh. Dòng ghi chú cuối cùng được viết mười hai năm trước: người nhận từ chối vì cho rằng học trò chỉ gửi lời xin lỗi sau khi cần bà xác nhận hồ sơ du học. Tôi sửa nút phát bằng lò xo lấy từ một chiếc bút cũ. Thừa An mang máy sang phòng kỹ thuật, sao phần âm thanh còn đọc được. Trong tiếng mưa và tiếng bánh tàu, một giọng nam trẻ nói đứt quãng rằng cậu không xin xác nhận gì cả. Cậu chỉ muốn cô Mai Linh biết hôm ném phấn lên bảng, cậu đã nhìn thấy tay cô run. Cả lớp cười, còn cậu cười to nhất vì sợ bạn bè nhận ra mình lo lắng. Địa chỉ của cô Mai Linh vẫn ở khu tập thể sau ga. Bà mở cửa nhưng không mời chúng tôi vào. Khi nghe tên Trần Dương, bàn tay cầm quạt của bà siết lại.