“Tôi không cần lời xin lỗi muộn.” Tôi đưa bà ba lựa chọn. Nhận máy mà không nghe. Nghe bản sao nhưng không nhận vật. Hoặc yêu cầu chúng tôi đóng hồ sơ và không liên lạc nữa. Bà hỏi tại sao không phát luôn cho bà nghe. “Vì đó là giọng của một người khác, còn đây là cửa nhà cô. Cô quyết định.” Bà chọn nghe một mình. Chúng tôi ngồi ngoài hành lang. Qua cánh cửa gỗ, không có tiếng khóc, chỉ có tiếng cuộn băng quay đều rồi dừng. Mười phút sau, bà trả máy cho tôi và xin một bản sao. “Tôi không tha thứ chuyện cũ,” bà nói. “Nhưng tôi muốn biết cậu ấy đã thành người thế nào.” Đó là món đồ đầu tiên được trao trả mà không ai phải nhận một kết thúc do người khác viết sẵn. Trên đường về, Thừa An mua hai cốc trà. Anh đặt cả hai lên ghế đá, không đẩy cốc trà nhài về phía tôi như trước. “Em uống loại nào?” “Anh biết mà.” “Biết không có nghĩa là được chọn thay.” Tôi lấy cốc trà nhài. Một việc nhỏ, nhưng bàn tay tôi run khi tháo nắp. Ngăn thứ hai không có vật quý. Chỉ có một tấm vé tàu một chiều bị xé mất ngày khởi hành và một mảnh giấy viết tên Hà Quang Duy. Ông Duy sửa đồng hồ ở con phố phía đông. Khi chúng tôi tìm đến, ông nhìn tấm vé rồi cười như thể vừa gặp một trò đùa cũ. Năm hai mươi tám tuổi, ông đã mua vé rời Bắc Hà. Người yêu ông khi ấy đang chăm cha bệnh, không thể đi. Ông đợi cô nói giữ mình lại. Cô đợi ông tự chọn ở lại. Họ im lặng cho đến giờ tàu chạy. Sau đó ông xé ngày trên vé, gửi lại nhà ga và viết rằng nếu có ai hỏi, hãy nói ông đã đi. “Nhưng ông không đi,” tôi nói. “Ừ. Tôi ngồi ngoài ga đến sáng.” Người phụ nữ ấy về sau lấy người khác. Ông Duy không muốn chúng tôi tìm bà. Ông nhận lại tấm vé, đặt dưới mặt kính bàn sửa đồng hồ và bảo tôi đừng gọi đó là kỷ vật tình yêu. “Đây là bằng chứng tôi từng bắt người khác nói hộ điều tôi muốn.” Thừa An đứng bên cửa tiệm. Câu nói ấy đi qua ông Duy rồi dừng giữa chúng tôi.