Sau khi rời cửa hàng, Thừa An chủ động ghi vào sổ rằng câu hỏi của anh không cần thiết. Anh không giải thích bằng ý tốt. Tôi nói: “Cảm ơn vì anh tự nhận ra.” “Em không cần làm nhẹ lỗi cho anh.” “Em cũng đang học.” Ngày thứ tám, cây bút máy nứt ngòi thuộc về Hứa Tĩnh, cựu nhân viên phòng vé. Trong thân bút có cuộn giấy mỏng ghi nửa đơn xin nghỉ việc. Bà Tĩnh đã làm ở ga ba mươi năm và luôn kể rằng mình ở lại vì yêu công việc. Con gái bà lại nói mẹ ở lại vì sợ bắt đầu lại. Khi chúng tôi mang bút tới, bà Tĩnh đọc lá đơn rồi ngồi rất thẳng. Năm ấy, bà đã được nhận vào trường đào tạo phát thanh viên đường sắt. Trưởng phòng cũ bảo nếu bà đi, ca trực sẽ thiếu người và đồng nghiệp phải chịu vất vả. Bà xé đơn, nhưng phần bị cuộn trong bút còn nguyên. “Có đáng tiếc không?” tôi hỏi sau khi bà cho phép. “Có. Nhưng không phải vì tôi không thành phát thanh viên.” Bà vuốt thân bút. “Tôi tiếc vì đã để một người khác gọi nỗi sợ của tôi là trách nhiệm.” Bà xin được đọc thông báo cuối cùng trong ngày nhà ga đóng cửa. Phùng Tử Khiêm phản đối vì quy trình chỉ cho nhân viên đương nhiệm dùng hệ thống loa. Thừa An đề nghị một bản ghi phát trước giờ bàn giao. Tôi chuẩn bị tranh luận, nhưng bà Tĩnh tự nói mình muốn đọc trực tiếp, dù không phát qua toàn ga. Cuối cùng, chúng tôi thống nhất đặt một loa nhỏ trong phòng chờ cũ. Bà không cần chúng tôi đấu thay. Bà cần chúng tôi mở chỗ để bà tự nói. Ngăn thứ chín giữ chiếc khăn len xanh có mùi khói than. La Nguyên, người gác sân ga cũ, đã mất. Người gửi là một phụ nữ tên Hà Tố, nhưng hồ sơ không có địa chỉ mới. Chúng tôi lần theo danh sách thuê nhà, cuối cùng tìm được con gái bà ở Quảng Châu. Người con nói mẹ đã mất hai năm trước. Bà chờ ông La suốt thời trẻ vì nhận được một tấm bưu thiếp viết rằng ông sẽ trở về sau chuyến cuối mùa đông. Ông không trở về. Gia đình cho rằng ông đã quên lời.