Thừa An không phủ nhận. Tôi đứng dậy, đi ra mái hiên. Mưa đã ngừng nhưng nước từ mái vẫn rơi thành một hàng đều đặn. Tôi muốn trách mẹ, trách bệnh viện, trách lá thư thất lạc. Điều làm tôi đau nhất lại là một sự thật đơn giản: sau mọi sự cố, cả hai chúng tôi vẫn chọn im lặng vì im lặng không thể từ chối mình. Thừa An không theo ra. Anh giữ đúng nguyên tắc, để tôi tự chọn có quay lại hay không. Mười phút sau, tôi trở vào. “Tôi chưa sẵn sàng nói tiếp.” “Anh hiểu.” “Đừng hiểu thay. Chỉ cần ghi nhận.” Anh gật đầu. “Được. Anh sẽ chờ em nói khi nào muốn tiếp tục.” Tôi nhìn chiếc khăn tay chữ V trên bàn. Một chữ dang dở có thể bị người khác hoàn tất theo bất kỳ nghĩa nào họ cần. Chúng tôi đã làm thế với cuộc đời nhau. Từ ngày đó, tôi quyết định không viết thêm một nét nào vào phần của Thừa An nếu anh chưa tự đặt bút. Ngày thứ mười ba, bộ chìa khóa bảy răng mở một căn phòng không còn trên bản đồ ga. Chủ nhà trọ Trương Hà mang theo giấy thuê nhà năm ba mươi năm trước. Bà khẳng định căn phòng số bảy từng nằm phía sau phòng chờ, nơi công nhân tuyến đêm ngủ tạm. Bản vẽ mới chỉ có sáu phòng. Phùng Tử Khiêm cho rằng bà nhớ nhầm. Tôi đặt bảy chìa lên mặt bàn, so từng vết mòn. Sáu chiếc có bụi đỏ của gạch, chiếc cuối dính lớp sơn xanh giống màu cánh cửa bị xây kín ở cuối hành lang. Khi gõ lên tường, tôi nghe một khoảng rỗng. Đội thi công không cho phép phá tường. Bà Hà cũng không muốn chúng tôi biến căn phòng thành chuyện giật gân. Bà chỉ cần lấy hộp giấy tờ của những công nhân từng sống ở đó. Thừa An tìm biên bản sửa chữa sau vụ cháy nhỏ năm xưa. Căn phòng bị bịt để ngăn khói lan, sau đó không ai cập nhật bản vẽ. Chúng tôi xin phép mở một ô vừa đủ. Bên trong không có kho báu. Có sáu chiếc giường sắt tháo rời, một ấm nước và hộp hồ sơ ghi tên những người nhập cư từng bị coi như chưa hề ở Bắc Hà. Bà Hà không mang hộp về. Bà ký hiến cho thư viện thành phố với điều kiện tên từng người được giữ nguyên.