Con dấu gỗ của phòng vé ở ngăn hai mươi ba tưởng như chỉ có giá trị lưu niệm. Khi hơ qua hơi nước, mặt dấu hiện một hàng chữ chìm: “Đã nhận đơn phản ánh.” Hàng trăm hồ sơ cũ thiếu con dấu này, khiến khiếu nại của hành khách bị coi là chưa từng nộp. Chu Khánh, nhân viên giữ dấu năm xưa, thú nhận trưởng phòng yêu cầu ông đóng dấu bằng mực tan nhanh để sau vài tháng không còn vết. Ông làm theo vì sợ mất việc. Trước khi nghỉ hưu, ông giấu con dấu trong kho với hy vọng một ngày ai đó nhận ra. Phùng Tử Khiêm muốn chuyển ngay cho cơ quan thanh tra. Chu Khánh xin giữ kín danh tính. Những hành khách liên quan cần bằng chứng; quyền riêng tư của ông cũng cần được bảo vệ. Chúng tôi sao mẫu dấu, lập biên bản nguồn gốc và niêm phong bản gốc. Chu Khánh đồng ý làm chứng bằng văn bản nhưng chưa đồng ý xuất hiện công khai. Phùng Tử Khiêm lần đầu tiên kiên nhẫn giải thích từng bước thay vì thúc ký. Tôi nhận ra anh ta cũng đang thay đổi. Không phải vì chúng tôi thuyết phục bằng một bài nói hay, mà vì mỗi hồ sơ buộc anh nhìn thấy tốc độ có thể nghiền mất điều gì. Chiếc radio ở ngăn hai mươi bốn không bắt được kênh thông thường. Tạ Uyển, người phụ nữ sống một mình gần bãi hàng, nói chồng bà từng sửa radio để nghe tín hiệu của đội bảo trì đêm. Sau khi ông mất, bà vẫn bật máy mỗi tối vì giữa tiếng nhiễu có một câu ông thu sẵn: “Tôi về rồi.” Máy hỏng, bà gửi ga nhờ sửa, rồi quên lấy. Tôi không biết sửa mạch. Thừa An tìm một kỹ thuật viên cũ. Anh ta có thể làm tiếng sạch hơn, nhưng Tạ Uyển từ chối. Bà muốn giữ cả nhiễu sóng vì đó là âm thanh căn nhà từng có. Khi radio bật lại, tiếng rè dày như mưa. Sau gần một phút mới hiện giọng đàn ông khàn khàn. Tạ Uyển nhắm mắt. Bà không khóc. Bà bảo chúng tôi tắt sau đúng một lần. “Ngày mai tôi sẽ tự bật,” bà nói. “Hôm nay đủ rồi.” Thừa An hỏi tôi có muốn nghe lại băng máy ghi âm đầu tiên không. Tôi lắc đầu. Không phải mọi bằng chứng đều phải được dùng đến cạn kiệt.