Bảy giờ sáng, đội thi công nhận mặt bằng phía đông. Phòng chờ cũ và đồng hồ được niêm phong để đánh giá. Kho thất lạc không còn hồ sơ chưa xử lý. Một số đồ đã về với chủ. Một số được hiến tặng. Một số bị tiêu hủy theo yêu cầu. Không phải câu chuyện nào cũng kết thúc bằng đoàn tụ, nhưng mỗi câu đều kết thúc bằng quyết định của người có quyền nói. Phùng Tử Khiêm đề xuất biến phần được giữ lại thành thư viện cộng đồng và kho lịch sử tuyến cũ. Hội đồng chưa phê duyệt, nên chúng tôi không gọi đó là kết quả chắc chắn. Người dân lập nhóm vận động. Bà Tĩnh phụ trách bản ghi âm. Tô Mạn đăng ký một khóa làm bánh trực tuyến. Đào Tâm đến quán trà của mẹ tôi mỗi chiều nhưng chưa bao giờ phải trả tiền bằng lòng biết ơn. Mẹ tháo căn phòng cũ của tôi đúng như đã nói. Bà giữ chiếc bàn, chuyển giường sang nhà người họ hàng, đặt các thùng trà vào chỗ tủ quần áo. Khi tôi về lấy đồ, bà hỏi trước mỗi món. “Cái áo len này con có muốn giữ không?” “Không.” “Ảnh tốt nghiệp?” “Con giữ.” “Hộp thư cũ?” Tôi nhìn chiếc hộp từng không nhận được lá thư của Thừa An. “Bỏ đi.” Mẹ không hỏi chắc chưa. Bà đặt nó vào thùng giấy tái chế. Chiều trước khi tôi trở lại Thượng Hải, Thừa An đưa tôi ra ga mới. Anh không xách vali cho tôi cho đến khi hỏi. Tôi đồng ý vì quai vali đã làm đau tay, không phải vì muốn thử xem anh có còn chu đáo. Trên sân ga, tôi lấy hai tấm vé không điểm đến. Chúng tôi đã viết lên chúng trong đêm cuối. Vé của tôi ghi Thượng Hải. Vé của anh ghi Bắc Hà. Phía dưới, cả hai cùng thêm một dòng: “Điểm gặp kế tiếp sẽ được chọn sau khi hỏi.” “Tháng sau anh có thể đến Thượng Hải,” anh nói. “Nếu em vẫn muốn.” “Em vẫn muốn. Nhưng gọi trước khi mua vé.” “Anh sẽ gọi.” Loa báo tàu đến. Tôi bước lên toa, quay lại nhìn anh. Sáu năm trước, tôi đã nghĩ người không chạy theo nghĩa là người không muốn giữ. Bây giờ Thừa An đứng nguyên sau vạch an toàn. Anh không lao lên tàu, không kéo tôi xuống, không biến phút chia tay thành một màn chứng minh tình yêu.